BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
----------------------------------------------
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN PHƯƠNG PHÁP
CHEMOMETRIC ĐỂ XÁC ĐỊNH ĐỒNG THỜI
CÁC CHẤT CÓ PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ
XEN PHỦ NHAU VÀ ÁP DỤNG TRONG
PHÂN TÍCH DƯỢC PHẨM
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC
Năm 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
----------------------------------------------
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN PHƯƠNG PHÁP
CHEMOMETRIC ĐỂ XÁC ĐỊNH ĐỒNG THỜI
CÁC CHẤT CÓ PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ
XEN PHỦ NHAU VÀ ÁP DỤNG TRONG
PHÂN TÍCH DƯỢC PHẨM
CHUYÊN NGÀNH: HÓA PHÂN TÍCH
MÃ SỐ: 62 44 01 18
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC
Năm 2018
MỞ ĐẦU
và/hoặc khi các cấu tử có tương tác với nhau tạo ra hiệu ứng
quang học làm thay đổi hệ số hấp thụ của từng cấu tử, thì
phương pháp này không loại được nhiễu, dẫn đến kết quả phân
tích mắc sai số lớn ; Phương pháp ANN có nhược điểm là thời
gian luyện mạng lâu và nó đòi hỏi nhiều thuật toán khác nhau,
nên khi xây dựng một mô hình phân tích, đòi hỏi phải thử nhiều
1
mô hình khác nhau để tìm được cấu trúc mạng tối ưu. Phương
pháp phổ đạo hàm không áp dụng được khi mẫu chứa nhiều cấu
tử có phổ hấp thụ quang xen phủ nhau hoặc tương tự nhau, vì
rất khó để lựa chọn được một bước sóng thích hợp để xác định
một cấu tử nào đó, hoặc phổ đạo hàm của chúng vẫn có các cực
đại hấp thụ trùng nhau. Phương pháp lọc Kalman có thể loại bỏ
được tối đa các nhiễu và do đó giảm tối đa sai số, nhưng hạn
chế của phương pháp này là phải lựa chọn các giá trị khởi tạo
cho bộ lọc, tức là phải chọn được giá trị ban đầu phù hợp của
hàm lượng các chất phân tích trong hỗn hợp của chúng và sai số
kèm theo (được thể hiện qua phương sai). Nếu các giá trị khởi
tạo (nồng độ và phương sai) không phù hợp, kết quả cuối cùng
sẽ mắc sai số lớn
Trên thế giới đã có một số nghiên cứu áp dụng phương
pháp lọc Kalman vào chemometric – trắc quang để xác định
đồng thời hỗn hợp 2 hoặc 3 chất trong dược phẩm, song các
nghiên cứu đó hoặc không đưa ra cách lựa chọn giá trị khởi tạo
phù hợp hoặc không đề cập đến các giá trị khởi tạo và do vậy,
rất khó áp dụng cho các phòng thí nghiệm phân tích. Ở nước ta,
Mai Xuân Trường đã nghiên cứu áp dụng phương pháp lọc
Kalman để xác định đồng thời các vitamin trong dược phẩm,
Luận án gồm 184 trang, với 50 bảng và 14 hình, trong đó:
- Mục lục, danh mục viết tắt, bảng, hình: 09 trang
- Phần mở đầu: 04 trang
- Chương 1: Tổng quan 43 trang
- Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu 16 trang
- Chương 3: Kết quả và thảo luận 67 trang
- Kết luận: 02 trang
- Danh mục các công trình công bố kết quả nghiên cứu:
01 trang
Tài liệu tham khảo: 15 trang, với 127 tài liệu tham khảo
NỘI DUNG LUẬN ÁN
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
- Định luật Bughe-Lambe-Bia và tính chất cộng tính độ
hấp thụ quang
+ Định luật Bughe – Lambe - Bia
+ Tính chất cộng tính độ hấp thụ quang
- Một số phương pháp phân tích quang phổ UV-VIS kết
hợp với chemometric xác định đồng thời các cấu tử có phổ hấp
thụ xen phủ nhau
+ Phương pháp Vierordt
+ Phương pháp phổ đạo hàm
+ Phương pháp phổ toàn phần (Phương pháp bình phương tối
thiểu hệ đa biến)
+ Phương pháp bình phương tối thiểu từng phần
+ Phương pháp bình phương tối thiểu từng phần
+ Phương pháp hồi quy cấu tử chính
3
+ Phương pháp mạng nơron nhân tạo
Kalman: So sánh phương pháp phân tích với phương pháp
chemometric-trắc quang khác (phương pháp bình phương tối
thiểu dùng phổ toàn phần và phương pháp phổ đạo hàm) khi
phân tích mẫu chuẩn phòng thí nghiệm (chứa 2 hoặc 3 chất
phân tích).
4. Xây dựng quy trình phân tích theo phương pháp
chemometric-trắc quang sử dụng thuật toán lọc Kalman (tính
toán bằng chương trình phần mềm đã xây dựng được).
4
5. Áp dụng quy trình phân tích xây dựng được vào thực tế phân tích các mẫu dược phẩm đa thành phần (chứa 2 hoặc 3
thành phần) đang lưu hành ở thị trường Việt Nam.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Phương pháp lọc Kalman và chương trình tính
i) Ghi phổ của dung dịch đơn chất phân tích (dung dịch
chuẩn phòng thí nghiệm) và dung dịch hỗn hợp các chất phân
tích, thu được bộ dữ liệu phổ (độ hấp thụ quang ở k bước sóng
lựa chọn) ở dạng file có đuôi txt (số bước sóng lựa chọn tùy
thuộc vào đặc điểm của các cấu tử trong hệ nghiên cứu);
ii) Nhập file dữ liệu phổ đơn chất và hỗn hợp chất vào
chương trình phần mềm máy tính (lập trình trên phần mềm
Microsoft-Excel 2016) để tính các giá trị ε (hệ số hấp thụ phân
tử) của các đơn chất;
iii) Chạy bộ lọc Kalman:
- Đưa ra giá trị khởi tạo ban đầu, gồm: ước lượng đầu tiên
của trạng thái nồng độ Cest(0) và hiệp phương sai của sai số Pest(0)
(nội dung nghiên cứu (1) sẽ đưa ra giá trị khởi tạo ban đầu);
- Ngoại suy dự báo trạng thái nồng độ:
- Cập nhật hiệp phương sai của sai số:
Pest ( k ) = INV − ε( k ) K ( k ) Ppri ( k )
5
(2.5)
Các bước tính toán trên được thực hiện từ bước sóng thứ
nhất đến bước sóng cuối cùng. Cuối cùng, chương trình tính sẽ
cho ra kết quả gồm: Nồng độ mỗi cấu tử trong hệ và hiệp
phương sai của sai số. Hiệp phương sai này thường bé nhất ở
bước sóng cuối cùng.
2.2.2. Phương pháp bình phương tối thiểu sử dụng
phần mềm simulan (BPTT)
Bước 1. Chuẩn bị các dung dịch chuẩn riêng từng cấu tử và
hỗn hợp của chúng.
Bước 2: Ghi phổ hấp thụ quang của dung dịch chuẩn để
tính ma trận hệ số hấp thụ của các cấu tử: ε= (εij )mxn
Bước 3: Ghi phổ hấp thụ quang (A) của dung dịch hỗn
hợp, nhập ma trận: A = (Ai1)mx1
Bước 4: Giải hệ m phương trình n ẩn số: A= ε. C để tìm ra
nồng độ C.
2.2.3. Phương pháp phổ đạo hàm (PĐH)
Bước 1. Chuẩn bị các dung dịch chuẩn riêng từng cấu tử và
hỗn hợp của chúng.
Bước 2: Ghi phổ hấp thụ quang và phổ đạo hàm, tìm bước
hỗn hợp theo phương pháp Kalman với cách lựa chọn giá trị
khởi tạo ngẫu nhiên(*)
Hỗn hợp
H1
H2
H3
H4
H5
H6
H7
H8
H9
Co
1,00 2,00 3,00 4,00 5,00 6,00 7,00 8,00 9,00
(µg/mL)
TEL C (µg/mL) 0,30 0,30 0,30 0,30 0,30 0,30 0,30 0,30 0,30
RE (%)
-70
-95
-94
-93
-90
-85
-70
(*)
Co: Nồng độ chất trong dung dịch chuẩn hỗn hợp; C: Nồng độ chất xác
định được
Từ bảng 3.1 cho thấy rằng với các tỉ lệ nồng độ khác nhau,
giữa nồng độ dung dịch chuẩn và nồng độ xác định được mắc
sai số tương đối RE% rất lớn (nằm trong khoảng 69,7 % - 96,7
%). Giá trị nồng độ xác định được ở tất cả các hỗn hợp đều
bằng giá trị nồng độ khởi tạo đưa vào ban đầu (0,3 µg/mL).
Bảng 3.2. Kết quả xác định nồng độ AML, HYD và VAL
trong hỗn hợp theo phương pháp Kalman với cách lựa chọn giá
trị khởi tạo ngẫu nhiên(*)
AML
Hỗn hợp
Co (µg/mL)
C (µg/mL)
HYD
C (µg/mL)
0,307
0,304
0,302
0,299
RE (%)
-6
-53
-77
-94
Co (µg/mL)
4,00
8,00
16,00
5,00
VAL
C (µg/mL)
0,301
0,300
0,300
0,299
RE (%)
-93
-97
-98
-94
(*)
Co: Nồng độ chất trong dung dịch chuẩn hỗn hợp; C: Nồng độ chất xác
định được
tính toán được phương sai bằng 0,003 và lựa chọn giá trị này
làm giá trị khởi tạo.
3.1.2.1. Đối với hệ hai cấu tử TEL và HYD
Áp dụng phương pháp Kalman cho bộ dữ liệu phổ đơn chất
và hỗn hợp 2 chất (trong khoảng bước sóng 220 nm – 340 nm)
với cách lựa chọn giá trị khởi tạo giả định (theo phương án 1 và
phương án 2), thu được các kết quả ở bảng 3.3 và 3.4.
Bảng 3.3. Kết quả xác định nồng độ TEL và HYD trong hỗn
hợp bằng phương pháp Kalman với cách lựa chọn giá trị khởi
tạo giả định
– Phương án 1(*)
Hỗn hợp
H1
Co
(µg/mL)
C
(µg/mL)
RE (%)
Co
(µg/mL)
C
(µg/mL)
RE (%)
TEL
HYD
9,00
2,95
3,88 5,03
6,07
7,18
7,99
9,00
-2
-3
1
3
-0,1
0
9,00 8,00
7,00
-1,2
0,3
-0,8
3
-0,6
-2,0
H5
-0,6
1,3
(*)Co: Nồng độ chất trong dung dịch chuẩn hỗn hợp; C: Nồng độ chất xác định
được
Bảng 3.4. Kết quả xác định nồng độ TEL và HYD trong hỗn
hợp bằng phương pháp Kalman với cách lựa chọn giá trị khởi
tạo giả định
– Phương án 2(*)
Hỗn hợp
Co
(µg/mL)
TEL
1,00
2,00
3,00
4,00
5,00
6,00
7,00
8,00
9,00
0,30
0,30
0,31
0,31
0,32
0,35
1,00
0,30
0,31
0,31
0,31
0,31
0,31
0,31
0,31
0,30
-96,6
-96,2 -95,6 -94,8
-93,7
-92,2 -89,7 -84,7 -69,7
9
H4
Co (µg/mL)
0,250
0,50
1,00
5,00
AML
C (µg/mL)
1,731
0,478
0,530
5,032
RE (%)
-30,8
-4,5
-47
0,6
Co (µg/mL)
0,325
0,65
1,30
5,00
HYD
C (µg/mL)
2,794
0,495
1,610
5,910
RE (%)
-14,0
H2
H3
H4
Co (µg/mL)
0,250
0,50
1,00
5,00
AML
C (µg/mL)
0,300
0,300
0,282
0,477
RE (%)
20,0
-40,0
-71,8
-90,5
Co (µg/mL)
0,325
0,65
1,30
5,00
HYD
C (µg/mL)
0,301
0,304
0,368
0,443
nhiều. Rõ ràng, khi số cấu tử trong hệ tăng lên, ảnh hưởng qua
lại của chúng sẽ lớn hơn, dẫn đến việc giải hệ 3 phương trình
với 3 ẩn số (nồng độ chất trong hệ) sẽ mắc sai số lớn hơn. Rõ
ràng, phương án 1 chỉ áp dụng được cho hệ 2 cấu tử. Mặt khác,
phương án cũng khá phức tạp, vì sai số của phương pháp phụ
thuộc vào các bước sóng được lựa chọn để thiết lập và giải
phương trình.
- Theo phương án 2, cũng tương tự như trường hợp hệ 2
cấu tử, mặc dù việc đưa ra giá trị khởi tạo cho phương sai tiếp
cận với thực tế hơn (do được ước lượng từ phương trình
Horwitz), song phương pháp vẫn mắc sai rất lớn với RE khoảng
7% – 97 %).
Đến đây, có thể thấy rằng, cả 2 cách lựa chọn giá trị khởi
tạo cho nồng độ và phương sai – lựa chọn giá trị khởi tạo ngẫu
nhiên và lựa chọn giá trị khởi tạo giả định – đều chưa cho kết
quả tốt (hay mắc sai số lớn), trừ khi giá trị khởi tạo nồng độ
được chọn ngẫu nhiên, hoặc được tính toán như phương án 1
11
(thuộc cách lựa chọn gái trị khởi tạo giả định), gần với giá trị
thực của nồng độ chất trong hệ. Rõ ràng, cần phải có một cách
lựa chọn giá trị khởi tạo khác, sao cho giá trị nồng độ khởi tạo
của chất trong hệ càng gần với giá trị thực của nó càng tốt.
Xuất phát từ những lí do trên, cần phải đề xuất một giải
pháp lựa chọn giá trị khởi tạo mới nhằm đáp ứng 3 yêu cầu:
- Giá trị nồng độ khởi tạo càng gần với giá trị thực của chất
trong hệ càng tốt;
- Phương sai (hay sai số) của nồng độ không nên lựa chọn
ngẫu nhiên, mà nên lựa chọn sao cho phù hợp với các hướng
- Từ công thức (3.1),
S
RSDHorwitz (%) =
Cest (0)
×100
(3.1)
Tính được độ lệch chuẩn S = [RSDHorwitz*Cest(0)]/100;
Trong đó, RSDHorwitz được tính theo công thức (3.2), mà
trong đó Cest(0) được biểu diễn bằng phân số.
1−0.5lgCest ( 0)
RSDHorwitz (%) = 2
(3.2)
- Từ S, tính được phương sai S2 = Pest(0).
3.1.3.1. Đối với hệ 2 cấu tử TEL và HYD
Bảng 3.7. Kết quả xác định nồng độ TEL và HYD trong hỗn
hợp bằng phương pháp Kalman với cách lựa chọn giá trị khởi
tạo gần đúng(*)
Hỗn hợp
Co
(µg/mL)
TE C
(µg/mL)
RE (%)
4,00
5,00
6,00
7,00
8,00
9,00
0,99
1,99
2,95
3,88
5,03
6,07
7,18
7,99
9,00
3,00
2,00
1,00
8,93
8,03
7,05
6,05
5,06
3,95
3,00
1,99
1,03
-0,8
0,4
0,6
H3
H4
Co (µg/mL)
0,250
0,50
1,00
5,00
C (µg/mL)
0,253
0,511
1,016
4,981
RE (%)
1,2
2,2
1,6
0,4
0,325
0,65
1,30
5,00
Co (µg/mL)
HYD
C (µg/mL)
0,320
0,646
giá trị khởi tạo gần đúng đều cho kết quả tin cậy hơn 2 giải
pháp lựa chọn giá trị khởi tạo ngẫu nhiên và giả định. Song, để
khẳng định chắc chắn hơn về giải pháp lựa chọn giá trị khởi tạo
gần đúng cũng như lợi thế của phương pháp Kalman (với giải
pháp lựa chọn đó), cần có những nghiên cứu so sánh phương
pháp Kalman với một số phương pháp truyền thống khác như:
Phương pháp chemometric-trắc quang sử dụng thuật toán bình
phương tối thiểu (viết tắt là BPTT), phương pháp phổ đạo hàm
(viết tắt là PĐH) khi xác định nồng độ các cấu tử trong hỗn hợp
của chúng cả trong dung dịch chuẩn và mẫu thực tế (mẫu dược
phẩm).
3.2. CHƯƠNG TRÌNH MÁY TÍNH ĐỂ TÍNH TOÁN
THEO THUẬT TOÁN LỌC KALMAN
Tiến trình tính toán được mô tả như ở hình 3.1:
14
Hình 3.1. Sơ đồ chương trình tính toán theo thuật toán lọc
Kalman với giải pháp lựa chọn giá trị khởi tạo gần đúng (áp dụng
cho hệ 2 và 3 cấu tử).
Chương trình cho phép in ra các kết quả về nồng độ của mỗi
cấu tử trong hỗn hợp và sai số tương đối RE tương ứng
3.3. KIỂM CHỨNG PHƯƠNG PHÁP KALMAN ĐỐI
VỚI HỖN HỢP HAI CẤU TỬ.
Kiểm chứng phương pháp khi xác định đồng thời hỗn hợp
hai chất gồm Telmisartan (TEL) và Hydrochlothiazide (HYD);
Paracetamol (PAR) và Cafein (CAF); Paracetamol (PAR) và
Ibuprofen (IB). Dùng các phương pháp chemometric (phương pháp
Kalman, BPTT và phổ đạo hàm) để tính toán.
Kết quả khảo sát cho thấy giá trị RSD của tất cả các chất
trong hỗn hợp từ 0,1 đến 2%, đều nhỏ hơn giá trị ½ RSDH (5,3
– 8,0 %), chứng tỏ rằng các phương pháp đạt được độ lặp lại
tốt.
3.4. KIỂM CHỨNG PHƯƠNG PHÁP KHI XÁC ĐỊNH
ĐỒNG THỜI HỖN HỢP BA CHẤT
Vì với hỗn hợp ba chất, để tìm được bước sóng tại đó phổ đạo
hàm của một chất khác 0, còn phổ đạo hàm của hai chất còn lại
bằng 0 là rất khó. Đây cũng chính là nhược điểm của phương pháp
quang phổ đạo hàm. Chính vì vậy, trong phần này chỉ khảo sát phổ
toàn phần và tính kết quả theo phương pháp Kalman và phương
pháp CLS (khảo sát đối với hỗn hợp: Amlodipine (AML),
hydroclorothiazid (HYD), valsartan (VAL).
3.4.1. Khảo sát phổ hấp thụ của hỗn hợp
Kết quả khảo sát phổ hấp thụ của các hỗn hợp cho thấy, có
thể xác định đồng thời hàm lượng của AML, HYD và VAL bằng
phương pháp trắc quang – chemometric dùng phổ toàn phần.
3.4.2. Đánh giá độ tin cậy của phương pháp khi phân
tích dung dịch chuẩn phòng thí nghiệm các hỗn hợp.
3.4.2.1. Sai số của phương pháp
16
Kết quả khảo sát cho thấy với các tỉ lệ nồng độ khác nhau, giữa
nồng độ dung dịch chuẩn và nồng độ xác định được mắc sai số RE
(%) nhỏ. Đối với phương pháp lọc Kalman, sai số bé nhất là -3,6%,
sai số lớn nhất là 2,2%; đối với phương pháp CLS, sai số bé nhất là 3,2%, sai số lớn nhất là 2,2%. Như vậy, các phương pháp cho kết quả
chấp nhận với sai số RE (%) nhỏ do đó có độ đúng tốt.
3.4.2.2. Đánh giá độ lặp của phương pháp khi phân tích dung
H4
AML
Thông số
CK (µg/mL)
RSDK (%)
CS (µg/mL)
RSDS (%)
½ RSDH
CK (µg/mL)
RSDK (%)
CS (µg/mL)
RSDS (%)
½ RSDH
CK (µg/mL)
RSDK (%)
CS (µg/mL)
RSDS (%)
½ RSDH
CK (µg/mL)
RSDK (%)
CS (µg/mL)
RSDS (%)
½ RSDH
HYD
VAL
0,253
0,320
0,320
0,321
0,320
3,990
3,980
4,010
3,993
0,253
0,253
0,254
0,253
0,319
0,319
4,825
4,898
4,878
0,4
0,3
0,4
9,9
0,511
0,510
0,4
9,5
0,514
0,512
0,646
0,645
0,4
0,511
16,037
15,980
4,987
5,064
5,054
0,4
5,5
5,089
5,069
4,821
4,811
0,4
4,865
0,4
6,3
8,059
0,5
0,4
8,0
4,981
0,647
0,5
8,6
1,020
1,013
0,650
0,644
0,4
1,017
0,4
6,5
0,5
0,4
8,9
1,016
0,4
lần lượt là: từ 0,8 % đến 5,7 %; từ 0,3 % đến 0,9 %; từ 0,2 % đến 1,2 %, từ
2,2 % đến 2,3 % (đều < ½ RSDH). Như vậy quy trình phân tích đã áp
dụng để xác định đồng thời TEL và HYD trong mẫu thuốc cho độ
lặp lại tốt.
3.6.1.2. Độ đúng
Phân tích mẫu thêm chuẩn:
- Kết quả phân tích đối với các hỗn hợp 2 cấu tử (hỗn hợp TEL
và HYD, hỗn hợp PAR và CAF, hỗn hợp PAR và IB) và hỗn hợp 3
cấu tử (AML, HYD và VAL) cho thấy: Cả 3 phương pháp Kalman,
bình phương tối thiểu, phổ đạo hàm đều đạt được độ đúng tốt với độ
thu hồi thỏa mãn yêu cầu: Theo AOAC (Hiệp hội các nhà hóa học
phân tích Mỹ), khi phân tích những nồng độ cỡ 1 ppm - 10 ppm
(ppm ≈ µg/mL), nếu đạt được độ thu hồi trong khoảng 80 - 110 %, là
đạt yêu cầu. Cụ thể:
Phương pháp Kalman và BPTT đạt được độ thu hồi từ 90 %
(khi xác định AML trong hỗn hợp AML, HYD và VAL) đến 107 %
(khi xác định IB trong hỗn hợp PAR và IB).
Phương pháp PĐH đạt được độ thu hồi từ 93 % đến 113 % (khi
xác định TEL trong hỗn hợp TEL và HYD).
Điển hình như kết quả độ thu hồi của AML trong hỗn hợp
AML, HYD và VAL được thể hiện ở bảng 3.40.
Đối với hỗn hợp hai chất: Tuy độ lặp lại của 3 phương pháp
Kalman, BPTT, PĐH (đánh giá qua S hoặc S2) có khác nhau, nhưng
chúng đều đạt được độ đúng tốt (đối với cả PAR và IB) khi so sánh
với phương pháp HPLC với p > 0,05.
Đối với hỗn hợp ba chất cho thấy: Kết quả của phương pháp
Kalman và phương pháp BPTT đều cho kết quả không sai khác có ý
nghĩa thống kê so với phương pháp HPLC (do các giá trị ttính đều nhỏ
hơn giá trị ttới hạn với p > 0,30). Tuy vậy, dựa vào các giá trị p (mức ý
nghĩa thống kê), có thể nhận xét rằng, phương pháp Kalman cho kết
1,168
1,200
94,0
0,30
1,451
1,415
90,0
0,60
1,710
Mẫu B1
0,967
0
1,171
BPTT
1,202
94,0
0,30
1,457
1,418
90,2
0,60
1,719
0,980
0
1,186
Kalman
1,214
93,6
0,30
1,470
0,939
0
1,137
BPTT
1,173
93,6
0,30
1,422
1,400
92,2
0,60
1,697
RevTB (%)-Kalman
92,9
94,0
RevTB (%)-BPTT
93,2
94,2
(*)
Co: Nồng độ chất trong mẫu (µg/mL) (theo tỉ lệ AML: HYD: VAL là 1,0: 1,25: 16)
Kalman
0
0,25
0,50
0
0,25
0,50
0
0,25
(µg/mL)
Cx
(µg/mL)
0
4,0
8,0
0
4,0
8,0
0
4,0
8,0
0
4,0
8,0
0
4,0
8,0
0
4,0
8,0
16,997
21,112
24,876
17,086
21,251
25,067
So sánh với phương pháp HPLC:
Bảng 3.41. So sánh các phương pháp chemometric với phương pháp
HPLC khi xác định hàm lượng AML, HYD và VAL trong thuốc
Exforge HCT(*)
Chất PT
AML
HYD
VAL
(*)
Phương pháp phân tích
Đại lượng
thống kê
Kalman
BPTT
HPLC
9,65/9,80/9,37
9,67/9,81/9,39
9,54/9,41/9,59
xi (mg/viên)
TB (mg/viên)
9,61
9,62
9,51
S (mg/viên)
ttính/ t(0,05; f)
-0,06/4,3
0,51/4,3
P
0,96
0,66
xi (mg/viên)
169,97/172,49/
165,06
170,86/173,40/
165,89
TB (mg/viên)
S (mg/viên)
Ftính/ F(0,05;2;2)
Sp
ttính/ t(0,05; f)
P
169,17
3,78
9,32/19
0,10
0,71/4,30
0,55
3,82
9,5/9
thời hai hoặc ba chất có phổ hấp thụ quang xen phủ nhau trong hỗn
hợp của chúng.
2) Kết quả kiểm định phương pháp Kalman đối với ba dung
dịch chuẩn hỗn hợp (mỗi dung dịch chứa hai chất) và một dung dịch
chuẩn hỗn hợp chứa ba chất (các chất có phổ hấp thụ quang xen phủ
nhau) đã cho thấy, khi phép đo độ hấp thụ quang mắc sai số đáng kể
(hay nhiễu đo lớn), đặc biệt là đối với hỗn hợp chứa ba chất, phương
pháp Kalman mắc sai số nhỏ và có độ lặp lại tốt hơn so với phương
pháp bình phương tối thiểu dùng phổ toàn phần.
3) Lần đầu tiên đã xây dựng được quy trình phân tích đồng thời
các chất có phổ hấp thụ quang xen phủ nhau trong các mẫu dược
phẩm (thuốc) đa thành phần chứa hai hoặc ba hoạt chất bằng phương
pháp Kalman. Mặt khác, đã thiết lập được chương trình máy tính sử
dụng ngôn ngữ lập trình Visual basic for Applications trên phần
mềm Microsoft – Excel 2016 đi kèm quy trình phân tích và do vậy,
cho phép tính toán nhanh và thuận lợi khi áp dụng vào thực tế kiểm
nghiệm dược phẩm ở các phòng thí nghiệm của nước ta. Quy trình
xây dựng được không chỉ có thao tác đơn giản hơn, mà còn cho phép
giảm chi phí phân tích so với phương pháp chuẩn là phương pháp sắc
ký lỏng hiệu năng cao (HPLC).
4) Độ đúng và độ lặp lại của quy trình phân tích (hay phương
pháp) xây dựng được đã được kiểm tra khi phân tích các mẫu thuốc
chứa 2 hoặc 3 hoạt chất (các hoạt chất có phổ hấp thụ quang xen phủ
nhau): Đối với thuốc chứa 2 hoạt chất, phương pháp được đạt độ
đúng tốt với độ thu hồi 93 % – 102 % và độ lặp lại tốt với RSD < 2,5
% (n = 3); Đối với thuốc chứa 3 hoạt chất, phương pháp cũng đạt
được độ đúng tốt với độ thu hồi 90 % – 107% và độ lặp lại tốt với
RSD < 3,5 % (n = 3). So sánh với phương pháp HPLC - phương
pháp chuẩn, phương pháp Kalman cũng đạt được độ đúng tốt (với p
< 0,05) khi phân tích các thuốc chứa 2 hoặc 3 thành phần.
Conference 2017, pp.14-21.
[4] Nguyễn Thị Quỳnh Trang, Trần Thúc Bình, Ngô Văn Tứ (2017).
Xác định đồng thời amlodipine, hydrochlorothiazide và valsartan
trong dược phẩm bằng phương pháp trắc quang- chemometric
dùng phổ toàn phần. Tạp chí Khoa học - Khoa học Tự nhiên, Đại
học Huế, 126(1D), tr.125-137.
[5] Trần Thúc Bình, Nguyễn Thị Quỳnh Trang, Nguyễn Thị Hồng Vân
(2017). Xác định đồng thời Paracetamol và Ibuprofen trong dược
phẩm bằng phương pháp quang phổ đạo hàm, Tạp chí phân tích hóa,
lý và sinh học, T-22, tr.8-16.
[6] Nguyễn Thị Quỳnh Trang, Trần Thúc Bình, Nguyễn Thị Hồng
Vân (2017). Xác định đồng thời paracetamol và ibuprofen trong
dược phẩm bằng phương pháp trắc quang phổ toàn phần dùng
thuật toán lọc Kalman. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Chuyên
san Khoa học Tự nhiên, Kỹ thuật và Công nghệ, Trường Đại học
Khoa học, Đại học Huế, 11(1), tr.93-104
23