luận văn thạc sĩ Các giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Dầu nhờn Quốc tế Việt Mỹ - Pdf 59

1

1
1
LỜI CAM ĐOAN

1

Tôi xin cam đoan luận văn này được hoàn thành bởi sự nghiên cứu nghiêm túc
của tôi trong thời gian qua.
Luận văn “Các giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty
Cổ phần Dầu nhờn Quốc tế Việt Mỹ” xuất phát từ nhu cầu thực tế trong giai đoạn
hội nhập kinh tế quốc tế và muc tiêu kinh doanh của các doanh nghiệp. Để hoàn
thành luận văn này, bên cạnh việc nghiên cứu, kinh nghiệm thực tế trong quá trình
công tac của bản than tác giả còn có sự hướng dẫn tận tình của cán bộ hướng dẫn
khoa học: PGS. TS. Phạm Công Đoàn.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cán bộ hướng dẫn khoa học và toàn
thể Quý thầy cô khoa Sau Đại học trường Đại học Thương mại.
Nguyễn Thị Ngân
Lớp CH20B – TCNH
Chuyên ngành Tài chính ngân hàng


2

2
2
MỤC LỤC

CP: Chi phí
KD: Kinh doanh


DANH MỤC HÌNH VẼ

4

Hình 1: Tổ chức bộ máy của Công ty Cổ phần Dầu nhờn Quốc tế Việt Mỹ
Hinh 2: Cơ cấu nhân sự theo giới tính của Công ty Cổ phần Dầu nhờn Quốc tế Việt
Mỹ năm 2015
Hình 3: Vòng quay các khoản phải thu và kỳ thu tiền bình quân của Công ty Cổ
phần Dầu nhờn Quốc tế Việt Mỹ giai đoạn 2013-2015...............................................


5
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài luận văn ở trong và
ngoài nước
 Các nghiên cứu ở trong nước thuộc lĩnh vực đề tài luận văn:
- “Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu tại công ty
Packexim” (2003) - Chu Hùng Nguyên, Luận án tiến sĩ Đại học Ngoại thương.
Nghiên cứu đã khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp và tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Thông
qua việc đánh giá thực trạng hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của công ty Packexim,
tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu tại
công ty. Trong các giải pháp được đưa ra, tác giả cũng khá chú trọng đến các giải
pháp tài chính, tuy nhiên các giải pháp đó còn khá chung chung và mang tính lý
thuyết.
- “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng
thương mại Việt Nam trong bối cảnh thực hiện cam kết gia nhập tổ chức thương mại thế
giới WTO” (2009) - Nguyễn Thị Thu Nga, Luận văn thạc sĩ Đại học Ngoại thương.

thống tài chính đến hiệu quả hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp) (2010) - Kankalovich
Vera.
Nghiên cứu này đã khái quát tác động của tài chính đến hoạt động xuất khẩu của
doanh nghiệp. Nghiên cứu chỉ ra rằng tài chính hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh
xuất khẩu. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả kinh doanh là cao hơn trong
các doanh nghiệp xuất khẩu phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn tài chính bên ngoài do áp lực
trả nợ tác động đến các quyết định xuất khẩu của doanh nghiệp. Như vậy nghiên cứu đã chỉ
ra được mối liên hệ giữa tài chính và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên,
điểm hạn chế của nghiên cứu này là nó chỉ giới hạn trong phạm vi các doanh nghiệp xuất
khẩu, tính tổng quát là chưa cao.
- “Essays on Debt financing, Firm performance, and Banking in Emerging Markets”
(Tài trợ vốn vay, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và hoạt động ngân hàng trong thị
trường mới nổi) (2014) - Denis Davydov.


7
Đề tài này xem xét việc sử dụng nợ để tài trợ cho hoạt động kinh doanh và tác động
của nó đến doanh nghiệp tại các thị trường mới nổi. Kết quả chỉ ra rằng hoạt động tài trợ
bằng nợ công có thể gây ra tác động tiêu cực đến giá trị thị trường của doanh nghiệp, các
doanh nghiệp được tài trợ nợ công hoạt động tương đối kém hơn so với các doanh nghiệp
có nguồn tài trợ bằng nợ tư. Hơn nữa, kết quả cho thấy rằng các doanh nghiệp được tài trợ
hoàn toàn bằng nợ ngân hàng hoạt động tốt hơn đáng kể so với các doanh nghiệp sử dụng nợ
công. Bên cạnh đó, đề tài cũng tập trung xem xét tác động của việc sử dụng nợ đến hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp tại một số thị trường mới nổi. Các kết quả cho thấy, nợ ngân
hàng có thể có một tác động tích cực đến lợi nhuận kế toán.
Nhìn chung, đề tài đã chỉ ra được các nguồn tài chính tài trợ cho doanh nghiệp sẽ có
những tác động nhất định đến lợi nhuận doanh nghiệp và định giá thị trường. Tuy nhiên, đề
tài cũng chỉ đánh giá tác động của tài chính đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ở góc
độ nguồn vốn chứ không mang tính bao quát.
 Đánh giá các công trình nghiên cứu từ trước đến nay ở trong và ngoài nước:

2. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Toàn cầu hóa kinh tế bao trùm lên đời sống của mỗi quốc gia mang lại nhiều
thời cơ nhưng cũng chứa đựng đầy thách thức đối với các doanh nghiệp hiện nay.
Với việc gia nhập AFTA, APEC, hiệp hội các nước Đông Nam Á và tổ chức kinh tế
lớn nhất thế giới WTO đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải nỗ lực hết sức để
đáp ứng nhu cầu thị trường đồng thời phải nâng cao sức cạnh tranh của doanh
nghiệp mình nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra.
Có thể thấy rằng thị trường dầu nhờn của Việt Nam trong những năm qua phát
triển rất mạnh với sự có mặt của nhiều nhãn hiệu dầu nhờn trong và ngoài nước,
trong đó, có mặt hầu hết những nhãn hiệu nổi tiếng toàn cầu như Shell, BP,
Castrol ... cạnh tranh cùng các nhãn hiệu nổi tiếng đó là các sản phẩm dầu nhờn của
Total. Được đánh giá là công ty có uy tín hàng đầu trong lĩnh vực phân phối dầu
nhờn tại Việt Nam, Công ty Cổ phần Dầu nhờn Quốc tế Việt Mỹ luôn nỗ lực hết sức
trong việc cung cấp các sản phẩm dầu nhờn Total chất lượng tốt nhất với giá cả hợp
lý cho các khách hàng của mình.
Trong những năm qua để tồn tại và phát triển công ty đã không ngừng chú trọng đến
các sản phẩm phù hợp với người tiêu dùng Việt Nam và thu được nhiều thành tựu. Một


9
trong những mối quan tâm hàng đầu của Việt Mỹ hiện nay là hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp. Đây được xem là mục tiêu của những chiến lược cả trong ngắn hạn và dài hạn tại
Công ty. Để đạt được mục tiêu này Công ty đã rất chú trọng đến những yếu tố liên quan đến
tài chính của doanh nghiệp bởi bản thân các nhà lãnh đạo Công ty nhận thấy tài chính có vai
trò vô cùng quan trọng và có ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh
và hiệu quả hoạt động kinh doanh của bất kỳ một doanh nghiệp nào.
Thực tế cho thấy, tình hình tài chính của một doanh nghiệp tốt hay xấu sẽ có tác động
thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và ngược
lại. Để tồn tại và phát triển thì các chủ doanh nghiệp cần phải có những đối sách thích hợp,
một trong những điều tiên quyết đó là phải nắm vững hoạt động tài chính của doanh nghiệp

chính đến nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tác động của các giải pháp tài
chính đến nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Phạm vi thời gian: Các số liệu sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài tập
trung trong khoảng thời gian ba năm 2012, 2013, 2014; giải pháp đề xuất cho giai
đoạn đến năm 2020.
+ Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu tại Công ty Cổ phần Dầu nhờn
Quốc tế Việt Mỹ.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp:
Các dữ liệu thứ cấp được tác giả thu thập bao gồm:
+ Tài liệu tổng hợp về Công ty liên quan đến các thông tin: sơ lược về Công
ty, báo cáo tài chính và các số liệu thống kê khác trong 3 năm 2012, 2013 và 2014.
Các dữ liệu này được thu thập từ phòng Tài chính – Kế toán của Công ty.
+ Thu thập các tài liệu liên quan từ báo chí, các đề tài nghiên cứu, các luận
văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và các tài liệu nước ngoài có liên quan. Bên cạnh đó, tác
giả cũng sử dụng website chính thức của Công ty để tìm kiếm thêm những thông tin
cần thiết phục vụ cho nghiên cứu của mình.


11
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:
Tác giả thu thập các dữ liệu sơ cấp thông qua việc phỏng vấn các cán bộ, nhân
viên của Công ty Cổ phần Dầu nhờn Quốc tế Việt Mỹ, đồng thời quan sát hoạt động
kinh doanh cũng như các hoạt động liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài.
5.2. Phương pháp xử lý dữ liệu
Từ những dữ liệu thứ cấp và sơ cấp thu thập được, tác giả tiến hành kiểm tra
tính chính xác của các thông tin, sau đó tìm kiếm bổ sung hoặc loại bỏ những thông

13
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ GIẢI
PHÁP TÀI CHÍNH NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI DOANH
NGHIỆP

1.1. Tiêu chuẩn và hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp
1.1.1.Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm hiệu quả
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả của các tác giả trong nước và
trên thế giới. Theo Fraser (1994), hiệu quả là sự đo lường giữa các mục tiêu đã đặt ra và
những thành tích đã đạt được. Còn Erlendsson (2002) cho rằng hiệu quả là mức độ đạt được
các mục tiêu. Như vậy, các tác giả nước ngoài chủ yếu xem xét mức độ thực hiện được mục
tiêu đã đề ra để đánh giá một công việc hoặc một quá trình nào đó có hiệu quả hay không.
Trong cách tiếp cận này, khi nói đến hiệu quả của một hoạt động/ quá trình nào đó, người ta
gắn nó với mục tiêu nhất định. Hiệu quả sẽ là sự so sánh giữa kết quả và mục tiêu cần phải
đạt được. Các hoạt động không có mục tiêu trước không thể đưa ra để tính hiệu quả.
Tại Việt Nam, có 3 quan điểm chính về hiệu quả và nhìn chung cả 3 quan điểm này
đều khá tương đồng với nhau:
Quan điểm thứ nhất, theo Đại từ điển tiếng Việt, hiệu quả là kết quả đích thực.
Quan điểm thứ hai, hiệu quả là một chỉ tiêu phản ánh mức độ kết quả thu được nhằm
đạt một mục đích cụ thể tương ứng với những nguồn lực phải bỏ ra trong quá trình thực hiện
một hoạt động nhất định. Trong cách tiếp cận này, khi nói đến hiệu quả của một hoạt động
nào đó, người ta gắn nó với mục đích nhất định. Hiệu quả luôn gắn với một mục tiêu nhất
định, không có hiệu quả chung chung.
Quan điểm thứ ba, hiệu quả là không lãng phí. Đây được xem là một quan điểm cho
chúng ta cách tiếp cận về bản chất hiệu quả nói chung.
Có thể thấy rằng, các tác giả Việt Nam chủ yếu đánh giá hiệu quả dựa trên sự so sánh
giữa kết quả đạt được với những phí tổn đã bỏ ra để có được kết quả đó. Như vậy, một hoạt


-

chức.
Hiệu quả kinh tế quốc dân: Được tính cho toàn bộ nền kinh tế, chính là sản phẩm
thặng dư, thu nhập quốc dân hay tổng sản phẩm xã hội mà đất nước thu được trong

mỗi thời kỳ so với lượng vốn sản xuất, lao động xã hội và tài nguyên đã bỏ ra.
 Căn cứ vào đối tượng chi phí:
- Hiệu quả chi phí bộ phận:Là mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí từng
-

yếu tố cần thiết để thực hiện hoạt động/ quá trình nào đó.
Hiệu quả chi phí tổng hợp: Là mối tương quan giữa kết quả thu được với tổng chi
phí bỏ ra để thực hiện hoạt động/ quá trình nào đó.
1.1.1.3. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp


15
Hiệu quả kinh doanh là một vấn đề được các nhà kinh tế và quản lý kinh tế hết
sức quan tâm trong rất nhiều năm qua. Mọi hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh
nghiệp nào cũng đều hướng tới mục tiêu hiệu quả. Các doanh nghiệp luôn phải nghĩ
cách làm thế nào để một đồng vốn bỏ vào kinh doanh mang lại hiệu quả cao nhất,
khả năng sinh lời nhiều nhất. Trong cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta, môi
trường kinh doanh luôn biến đổi đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có chiến lược kinh
doanh thích hợp. Công việc kinh doanh là một nghệ thuật, nó đòi hỏi các nhà quản
lý phải có sự tính toán nhanh nhạy, biết nhìn nhận vấn đề ở tầm chiến lược. Hiệu
quả kinh doanh luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh, có thể xem xét nó trên
nhiều góc độ khác nhau.
Cho tới thời điểm này, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau của các nhà kinh
tế về hiệu quả kinh doanh. Đầu tiên phải kể đến Adam Smith – cha đẻ của kinh tế

đảm bảo thực hiện có kết quả cao những nhiệm vụ kinh doanh đã đặt ra trong từng
thời kỳ với chi phí nhỏ nhất. Hiệu quả kinh doanh cũng là mối quan tâm hàng đầu
của doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp.
Mỗi quan điểm về hiệu quả kinh doanh nêu trên đều chứa đựng những ưu,
nhược điểm nhất định. Có thể thấy rằng, mặc dù các nhà nghiên cứu nhìn nhận hiệu
quả kinh doanh ở nhiều góc độ khác nhau nhưng nhìn chung hiệu quả kinh doanh
phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh
trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp.
Qua các quan điểm trên, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa đầy đủ về hiệu quả kinh
doanh như sau:
“Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn lực trong hoạt động kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra”
Trong đó, các nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm nguồn nhân lực, tài sản
vật chất, các nguồn lực vô hình. Đây là nhóm yếu tố quyết định khả năng hoạt động
của doanh nghiệp, trong đó nguồn lực quan trọng nhất là con người. Trình độ sử
dụng các nguồn lực trong hoạt động kinh doanh phản ánh khả năng phân bổ và tổ
chức quản lý sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp vào hoạt động kinh doanh.
Trong quá trình hoạt động của mình, các nhà quản trị doanh nghiệp thường đặt
ra nhiều mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Các mục tiêu này thường được ấn


17
định theo các lĩnh vực cụ thể như mức lợi nhuận; năng suất, chi phí, vị thế cạnh
tranh, tăng thị phần; nâng cao chất lượng phục vụ; duy trì sự tồn tại của doanh
nghiệp; đạt sự ổn định nội bộ …. Tại một thời điểm nhất định, doanh nghiệp có thể
có nhiều mục tiêu khác nhau. Các mục tiêu này thay đổi theo thời gian và mỗi khi
thay đổi mục tiêu, cách nhìn nhận và đánh giá hiệu quả cũng thay đổi theo (PGS.
TS. Phạm Công Đoàn, 2012).
Quan điểm về hiệu quả kinh doanh ở trên sẽ được tác giả sử dụng xuyên suốt
trong toàn bộ nghiên cứu này. Về bản chất, hiệu quả kinh doanh là mối quan hệ so

kỳ đó. Các mục tiêu thường được các nhà quản trị doanh nghiệp đặt ra theo các lĩnh
vực cụ thể, bao gồm: mức lợi nhuận; năng suất, chi phí; vị thế cạnh tranh, tăng thị
phần; nâng cao chất lượng phục vụ; duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp; đạt sự ôn
định nội bộ …
Trên thực tế, tại một thời điểm nhất định doanh nghiệp có thể có nhiều mục
tiêu khác nhau và chúng sẽ thay đổi theo thời gian. Chính sự thay đổi mục tiêu này
sẽ dẫn đến sự thay đổi trong cách nhìn nhận cũng như đánh giá hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp đó. Tuy nhiên, tất cả các mục tiêu trên đều hướng tới một mục
tiêu cơ bản đó là mức tăng lợi nhuận để đảm bảo tính ổn định và phát triên doanh
nghiệp. Vì vậy, lợi nhuận được xem là tiêu chuẩn để thiết lập các chỉ tiêu đo lường
và đánh giá hiệu quả kinh doanh và tối đa hóa lợi nhuận luôn là mong muốn của các
doanh nghiệp. Để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp phải chấp nhận sự mạo hiểm
trong kinh doanh, nhưng mạo hiểm không đồng nghĩa với sự liều lĩnh mà phải đi
đôi với an toàn. Chính vì vậy, lợi nhuận hợp lý, lợi nhuận trong thế ổn định của
doanh nghiệp mới là tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chứ
không phải là lợi nhuận tối đa.


19
Việc sử dụng lợi nhuận làm tiêu chuẩn để xác lập các chỉ tiêu đo lường và
đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp vẫn chưa phản ánh đầy đủ sự đóng
góp của doanh nghiệp với nền kinh tế quốc dân và xã hội. Với vai trò là một thành
phần của nền kinh tế quốc dân, của xã hội thì lợi nhuận chưa phản ánh đầy đủ
những lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt được.
Khi phân tích, đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cần phải đặt
nó trong mối quan hệ với hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế nói chung, nghĩa là vừa
phải quan tâm đến lợi ích kinh tế mang lại cho doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp và
người lao động vừa phải quan tâm đến những lợi ích của toàn bộ nền kinh tế, xã hội.
1.1.2.2. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Hệ thống chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp



20
a) Các chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp
- Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp.
HQM =
Trong đó:
HQM: Hiệu quả kinh tế
M: Doanh thu thuần đạt được trong kỳ
GV: Trị giá vốn hàng hóa đã tiêu thụ
F: Chi phí đã bỏ ra để đạt doanh thu
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh
nghiệp trong hoạt động kinh doanh, nghĩa là trong một thời kỳ nhất định doanh
nghiệp thu được bao nhiêu đồng doanh thu bán hàng trên một trăm đồng chi phí bỏ
ra. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ trình độ sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp
càng cao.
-

Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận = x 100
Trong đó:
LN: Tổng lợi nhuận đạt được trong kỳ (Lợi nhuận trước thuế)
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh trong một thời kỳ nhất định doanh nghiệp thu
được bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đồng doanh thu bán hàng thuần. Chỉ tiêu
này càng cao thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng cao.

-

Ngoài hai chỉ tiêu trên ta có thể sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phí.
HQLN =

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh để thực hiện một trăm đồng doanh thu bán
hàng cần chi bo nhiêu đồng tiền lương.
-

Hiệu quả sử dụng vốn: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại là số tiền ứng
trước về các tài sản cân thiết nhằm thực hiện các nhiệm vụ cơ bản của kinh doanh
trong kỳ, bao gồm tiền ứng cho tài sản lưu động và tài sản cố định. Thông thường,
hiệu quả sử dụng vốn được đánh giá qua hai bước.
Bước 1: Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung: Hiệu quả sử dụng toàn bộ
vốn của doanh nghiệp được đánh giá bằng hai chỉ tiêu:
HQMV =
HQLNV =
Trong đó, vốn bình quân sử dụng trong năm được tính bằng công thức bình
quân điều hòa:
Vốn bình quân sử dụng trong năm =
Bước 2: Đánh giá hiệu quả sử dụng các loại vốn:
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động: Được đánh giá bằng chỉ tiêu tốc độ chu
chuyên vốn lưu động.
L=
N=
Trong đó:
MV: Mức tiêu thụ tính theo giá vốn trong kỳ
L: Số lần chu chuyển vốn lưu động trong kỳ
N: Số ngày chu chuyển vốn lưu động trong kỳ
Hiệu quả sử dụng vốn cố định: Được đánh giá bằng chỉ tiêu sức sản xuất của
vốn cố định (HMMVCĐ) và sức sinh lời của vốn cố định (HLNVCĐ).
HMMVCĐ =
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định được sử dụng trong kỳ
mang lại bao nhiêu đồng doanh thu.
Chỉ tiêu sức sinh lời của vốn cố định:

còn có sự cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. Các doanh nghiệp đều có xu
hướng tận dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật để cải tiến nâng suất, nâng cao


24
hiệu quả hoạt động, tích cực đầu tư vào các nguồn lực cần thiết. Nếu doanh nghiệp
thiếu vốn sẽ dẫn đến năng suất lao động thấp, thu nhập thấp, doanh nghiệp sẽ bị tụt
lùi trong cuộc đua khốc liệt đó một phần vì vòng quay của vốn càng ngắn lại thì quy
mô của doanh nghiệp càng co lại.
Nhờ có một lượng vốn tương đối, doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong việc
lựa chọn những sản phẩm sản xuất kinh doanh hợp lý, hiệu quả, đảm bảo an toàn tổ
chức, hiệu quả sử dụng vốn nâng cao, huy động tài trợ dễ dàng, khả năng thanh toán
đảm bảo, có đủ tiềm lực khắc phục khó khăn và một số rủi ro trong kinh doanh.
Bên cạnh đó, vốn cũng là yếu tố quyết định doanh nghiệp nên mở rộng hay thu
hẹp phạm vi hoạt động kinh doanh của mình. Khi đồng vốn của doanh nghiệp càng
sinh sôi nảy nở, doanh nghiệp sẽ càng có cơ hội mở rộng phạm vi hoạt động vào các
thị trường, lĩnh vực mà trước đó doanh nghiệp chưa có điều kiện thâm nhập còn nếu
như đồng vốn bị hạn chế, doanh nghiệp sẽ chỉ có thể tập trung vào một số hoạt động
mà doanh nghiệp có lợi thế trên thị trường.
Trong doanh nghiệp, vốn là cơ sở để mua sắm các trang thiết bị, máy móc, nhà
xưởng, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Ngoài ra, nó còn
được sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì và tạo tiềm lực cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Với đặc trưng là phải vận động để
sinh lời, nên một khi đã tham gia vào thị trường, doanh nghiệp sẽ phải ngày càng
phát triển để làm cho đồng vốn của mình ngày càng tăng theo thời gian, điều đó
cũng góp phần nâng tầm thương hiệu cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp chiếm
được sự tin tưởng của người tiêu dùng.
1.1.3.2. Vai trò của giải pháp tài chính đối với nâng cao hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp
Giải pháp tài chính là những biện pháp, chính sách liên quan đến việc thu hút

hút và tích lũy được, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được cấu thành từ 2 nguồn chính, đó là nguồn
vốn do các nhà đầu tư, những người cho vay và nguồn vốn từ lợi nhuận tích lũy,
đóng góp của cổ đông … Các giải pháp tài chính góp phần quan trọng giúp doanh
nghiệp sử dụng vốn một cách hiệu quả cả 2 nguồn vốn này. Trong điều kiện của nền
kinh tế thị trường, yêu cầu của các quy luật kinh tế đã đặt ra cho các doanh nghiệp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status