Trường THPT Gia Nghĩa Phan Trường Quân
1) Chính sách khai thác thuộc địa lần 2 của TD Pháp (1919-1930):
+Nguyên nhân:
CTTG lần thứ I (1914-1918) kết thúc. Pháp tuy là nước thắng trận nhưng bản thân nền
kinh tế Pháp bị tàn phá nặng nề. CN, NN, TN đều bị suy sụp.
Ngoài ra Pháp còn mất một khoản tiền lớn cho Nga vay là 25 tỷ Frăng họ đòi lại
được.
Để bù đắp lại những thiệt hại đó, bọn tư bản độc quyền Pháp một mặt tăng cường
bóc lột nhân dân lao động trong nước. Mặt khác tăng cường đẩy mạnh khai thác bóc lột
thuộc địa.
Chính sách khai thác thuộc địa đã ra đời trong hoàn cảnh đó.
Ngoài mục đích bù đắp tất cả những thiệt hại do chiến tranh gây lên. Chính sách
khai thác thuộc địa lần 2 của Pháp còn nhằm mục đích vơ vét làm giàu cho chính quốc.
Cuộc khai thác thuộc địa lần 2 được đẩy mạnh trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị,
văn hoá, xã hội mà trọng tâm là kinh tế. Cuộc khai thác này dễn ra qui mô tốc độ lớn hơn
gấp nhiều lần so với cuộc khai thác thuộc địa 1.
+Trong kinh tế:
Pháp tăng cường đầu tư vốn vào Đông dương trong vòng 6 năm từ 1924 -1929 số
vốn Pháp đầu tư vào đông dương tăng gấp 6 lần so với 20 năm trước chiến tranh (vốn bỏ
ra càng nghiều lãi thu về càng lớn) vốn được tập trung chủ yếu vào 2 ngành chính là nông
nghiệp và khai thác mỏ.
+ Trong nông nghiệp: tính đến năm 1927 số vốn Pháp đầu tư trong nông nghiệp đã
lên đến 400 triệu frăng ( gấp 10 lần so với trước CT) và được tập trung chủ yếu trong việc
lập đồn điền. Nhờ đó mà diện tích đồn điền trồng cao xu tăng từ 15000 ha năm 1918 lên
đến 120.000 ha năm 1930
+ Trong công nghiệp: Vốn được đầu tư chủ yếu vào ngành khai mỏ. Nhiều công ty
than mới nối tiếp nhau ra đời: Hạ long, Đồng đăng Đông triều, Tuyên quang.
+ Ngoài ra vốn còn được đầu tư mở mang 1 số ngành CN chế biến như: Nhà máy
sợi Nam định, Hà đông, diêm Hà nội, Hàm Rồng, đường Tuy hoà, gạo chợ Lớn… Nhằm
khai thác triệt để nguồn tài nguyên và nguồn nhân công rẻ mạt ở nước ta.
+ Để nắm chặt hơn nữa thị trường VN, bọn tư bản độc quyền pháp đã ban hành
dạy chữ quốc ngữ, chữ Pháp, trường cao đẳng, dạy nghề nhằm đào tạo tầng lứop tay sai
cho Pháp, đào tạo công chức, công nhân lành nghề.
Bên cạnh đó Pháp cũng ra sức tuyên truyền công ơn khai hoá của Pháp. Nhằm gieo
rắc ảo tưởng hoà bình, hợp tác với bọn thực dân Pháp và bù nhìn vua quan bán nước.
Như vậy, chính sách khai thác thuộc địa II của Pháp về cơ bản không thay đổi so
với chính sách khai thác thuộc địa I, đều không nhằm giải phóng sức sản xuất khỏi sự
giàng buộc của chế độ phong kiến, đưa VN thành nước CN phát triển. Mà chỉ du nhập
quan hệ SX TBCN trong 1 chừng mực nhất định dưới những hình thức hỗn hợp xen kẽ
với quan hệ SX phát triển để biến VN thành thuộc địa hoàn chỉnh của Pháp, nhằm đem
lại lợi nhuận tối đa cho Pháp. Nhưng cuộc khai thác thuộc địa lần II diễn ra với quy mô
lớn hơn, tốc độ cường độ lớn gấp nhiều lần so với cuộc khai thác thuộc địa I.
* C/sách khai thác thuộc địa II của Pháp đã có ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình kinh
tế và phát triển nước ta:
+ Về kinh tế: C/sách khai thác thuộc địa II của Pháp đã đưa đến tác động 2 chiều
trong kinh tế.
- Mặt tích cực: thúc đẩy kinh tế VN phát triển, du nhập phương thức SX TBCN vào
VN, làm cho kinh tế VN không còn thuần nhất là kinh tế nhà nước mà đã xuất kiện
những ngành kinh tế mới: Khai mỏ, các cơ sở CN chế biến, giao thông vận tải, ngân
hàng…
- Mặt tiêu cực: C/sách khai thác ồ ạt, bừa bãi của thực dân Pháp đã phá hoại nguồn
tài nguyên của nước ta, C/sách hạn chế tối đa sự phát triển của chủ nghĩa đã kìm hãm sự
Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp THPT 2
Trường THPT Gia Nghĩa Phan Trường Quân
phát triển kinh tế nước ta làm cho nền kinh tế nước ta phát triển phiến diện, què quặt, lệ
thuộc vào kinh tế của C/quốc.
+ Về xã hội: C/sách khai thác thuộc địa II của Pháp ảnh hưởng sâu sắc đến đời
sống của mọi tầng lớp trong xã hội, nhất là công nhân và nông dân vô cùng cực khổ. Mâu
thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc.
Dưới tác động của C/sách khai thác thuộc địa II xã hội VN tiếp tục phân hoá sâu
sắc hơn, làm hiện những giai cấp mới: Tư sản, tiểu TS.
nông dân luôn mang trong mình lòng căm thù sâu sắc đối với bọn đế quốc PK, chỉ chờ cơ
hội là bùng nổ. Họ có tinh thần cách mạng cao, thiết tha với mục tiêu độc lập dân tộc và
Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp THPT 3
Trường THPT Gia Nghĩa Phan Trường Quân
người cầy có ruộng. Với số đông trong xã hội G/C nông dân VN đã trở thành động lực
mạnh của CM GPDT
* Giai cấp tư sản: Là giai cấp mới được hình thành trong cuộc khai thác thuộc địa
lần 2 của pháp ở Đông dương. Từ khi ra đời và trong quá trình phát triển của mình giai
cấp TSVN hoạt động kinh doanh- chủ yếu tập trung trong các ngành CN nhẹ dịch vụ chế
biến nông sản: bông vải sợi xà phòng, xay sát, thuộc da vv.. chỉ có một số rất ít tư sản lớn
tìm cách hùn vốn với tư bản pháp đầu tư trong một số ngành công ngiệp lớn : khai mỏ để
kiếm lợi nhuận cao hoặc hùn vốn với nhau để lập ra ngân hàng.
GC tư sản VN là giai cấp nhỏ bé về số lượng, thế lực kinh tế yếu ớt, chính trị hèn
kém trong quá trình vươn lên laị bị tư bản pháp kìm hãm, chèm ép cạnh tranh quyết liệt
nên phải chịu nhiều thua thiệt. Sau một thời gian phát triển bị phân hoá thành hai bộ
phận:
+ Tư sản mại bản: có quyền lợi gắn chặt với đế quốc được đế quốc dung dưỡng. Tư
sản này phần lớn là thương nhân người Hoa kiều, họ không có tinh thần cách mạng vì
vậy cùng với đế quốc TS mại bản là bộ phận phản động cách mạng cần đánh đổ.
+ TS dân tộc: đây chính là bộ phận tư sản người việt có khuynh hướng kinh doanh
độc lập. Bị bọn đế quốc TB nước ngoài chèn ép, cạnh tranh vô cùng quyết liệt. Vì vậy họ
ít nhiều có tinh thần dân tộc dân chủ chống đế quốc phong kiến và có khả năng tham gia
cách mạng giải phóng dân tộc ở VN nhưng thái độ của họ kiên quyết dễ khải cải lương
thoả hiệp khi đế quốc mạnh hoặc được nhượng bộ.
* Giai cấp tiểu tư sản:
Họ là học sinh, sinh viên, dân nghèo sống chủ yếu ở thành thị, sau C/tranh do sự
phát triển của các ngành kinh tế, đặc biệt là sự mở rộng của các cơ quan hành chính, văn
hoá, giáo dục số lượng ngày càng đông và là G/cấp mới hình thành - Ra đời trong cuộc
khai thác thuộc địa lần 2.
Tiểu TS sống tập trung ở thành thị là nơi trung tâm kinh tế C/trị, VH, xã hội. Họ là
⇒
Hoàn cảnh ra đời đặc điểm và sự phát triển của G/cấp CN - VN đã làm cho công nhân
VN sớm trở thành một lực lượng C/trị độc lập, thống nhất trong cả nước. Để trên cơ sở
đó nhanh chóng vươn lên nắm quyền lãnh đạo CM nước ta. G/cấp CN VN trước hết là
động lực chính của cuộc CM giải phóng dân tộc đồng thời họ là giai cấp lãnh đạo CM.
* Chú ý: G/cấp CN VN là giai cấp duy nhất đảm đương vai trò lãnh đạo CM Việt nam vì:
G/cấp CN VN mang đầy đủ bản chất CM của giai cấp CN thế giới.
G/cấp CN VN là giai cấp bị áp bức bọc lột nặng nề nhất, họ có mâu thuẫn sâu sắc
với đế quốc, phong kiến và tư sản.
G/cấp CN VN có quan hệ mật thiết với nông dân VN, có sức mạnh tập thể, có đầu
óc tổ chức, có tinh thần CM và khả năng lôi kéo các tầng lớp xã hội khác trong cuộc đấu
tranh chống đế quốc và phong kiến.
Vì vậy họ là G/cấp duy nhất đảm đương vai trò lãnh đạo CM Việt nam.
* Kết luận: Dưới tác động của C/sách khai thác thuộc địa lần 2 xã hội Việt nam tiếp tục
phân hoá sâu sắc hơn, mỗi G/cấp có quyền lợi kinhtế khác nhau, có thái độ C/trị khác
nhau trong đó:
- Đại địa chủ: Tư sản mại bản có quyền lợi gắn chặt với quyền lợi của đế quốc,
không có tinh thần dân tộc cùng với đế quốc họ là kẻ thù chính của CM dân tộc dân chủ.
- Tư sản DT, tiểu chung địa chủ phần nào bị đế quốc phong kiến chèn ép, nên ít
nhiều có mâu thuẫn với đế quốc phong kiến và có tinh thần DT, cách mạng có thể tranh
thủ.
- Tiểu tư sản bị Đ/quốc và tư sản chèn fps, bạc đãi khinh rẻ họ có mâu thuẫn với
Đ/quốc, với tư sản và là lực lượng quan trọng của CM.
Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp THPT 5
Trường THPT Gia Nghĩa Phan Trường Quân
- G/cấp nông dân với 90% dân số, phần lớn bị xô đẩy vào con đường bần cùng hoá,
phá sản, họ căm thù Đ/quốc và phong kiến. Với số đông trong xã hội G/cấp nông dân là
động lực mạnh của cuộc CM giải phóng DT.
- G/cấp công nhân với đầy đủ bản chất CM của công nhân thế giới, là G/cấp bị áp
bức bóc lột nặng nề nhất, có mâu thuẫn sâu sắc với đế quốc, phong kiến, tư sản, họ là
1923 đấu tranh chống độc quyền hương cảng Sài Gòn và độc quyền suất cảng lúa
gạo nhiệm kỳ.
Ngoài ra TSDT còn dùng báo chí để bênh vực quyền lợi cho mình thành lập một số
tổ chức chính trị như: " Đảng lập hiến" nhằm đưa ra một số khẩu hiệu đấu tranh đòi tự do
Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp THPT 6
Trường THPT Gia Nghĩa Phan Trường Quân
dân chủ để tranh thủ sự ủng hộ của quần chún, nhưng khi được thực dân pháp nhượng bộ
cho một ít quyền lợi thì họ sẵn sàng thoả hiệp với Pháp
+ Phong trào đâú tranh của TSDT cho thấy: họ đấu tranh đòi quyền lợi về kinh tế
và khi được thực dân pháp nhượng bộ họ sẵn sàng thoả hiệp với Pháp dừng đấu tranh
3.3 Phong trào tiểu tư sản
Sau CTTGI dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa lần2 tư sản tăng
nhanh về số lượng và trở thành giai cấp mới trong XH VN
Ngay từ khi mới ra đời TTS VN bị tư sản pháp chèn ép, bạc đãi khinh dẻ. Đời sống
bấp bênh dễ bị xô đẩy vào con đường thất nghiệp, phá sản. Vì vậy TTS VN hăng hái đấu
tranh nhằm chống lại cường quyền áp bức.
Phong trào đấu tranh của TTS diễn ra dưới nhiều hình thức phong phú:
- Lập các tổ chức chính trị như " VN nghĩa đoàn" " Hội phục việt " " hội Hưng
Nam " Đảng thanh niên"vv… Tập hợp quần chúng " chủ yếu là TTS thành thị " đấu tranh
với nhiều hoạt động sôi nổi như mít tinh, biểu tình, bãi khoá , bãi thị,
- Họ lập nhiều tờ báo tiến bộ như; " Chuông rè" " An nam trẻ " " Người nhà quê"
và lập các nhà xuất bản tiến bộ như " Nam đồng thư xã" "Cường học thư xã" " Quan hải
tùng thư " xuất bản sách báo tiến bộ, đấu tranh chống cường quyền áp bức .
Tiêu biểu nhất trong phong trào TTS - VN thời kỳ này là 2 phong trào.
Đòi thả Phan Bội Châu (1925)
Đòi để tang Phan Châu Trinh (1826)
Phong trào đã lôi cuốn hàng chục vạn người tham gia. Thực sự là cuộc biểu dương
lực lượng lớn nhất của TTS VN sau CTTGI Phong trào đã buộc được thực dân pháp phải
nhượng bộ
Từ cuộc đấu tranh của TTS trong nước tại T.Quốc T6/1924 đã xảy ra vụ mưu sát
trải qua 2 giai đoạn phát triển
a) Từ 1919- 1925
Cả nước có 25 cuộc đấu tranh của CN tiêu biểu là cuộc đấu tranh của CN và thủy
thủ trên các tầu chiến của pháp, ghé cảng Hải Phòng 1919 tiếp đó là cuộc đấu tranh của
công nhân Sài Gòn - Chợ lớn năm 1920 đã dẫn đến sự ra đời của tổ chức "Công hội đỏ"
1922 CN bắc kỳ đấu tranh đòi nghỉ ngày chủ nhật có lương. 1924 Những cuộc đấu tranh
của CN các nhà máy rượu, xay sát gạo đã nổ ra. Đặc biệt tháng 8/1925 có cuộc đấu tranh
của CN thợ máy đóng tầu Ba son ngăn cản tầu chiến pháp trở lính sang đàn áp phong trào
CM TQuốc. Lần đầu tiên CN đã có hành động phối hợp quốc tế không chỉ đấu tranh đòi
quyền lợi cho mình mà còn có tinh thần quốc tế cao cả. Điều đó chứng tỏ ý thức chính trị
của CN đã được nâng lên một bước, chủ nghĩa mác- lê nin ngày càng được truyền bá sâu
rộng ở VN thông qua hoạt động của lãnh tụ nguyễn ái Quốc, Phong trào CN từ 1919-
1925 cho thấy:
+ Phong trào CN thời kỳ này nổ ra còn lẻ tẻ và mang nặng tính tự phát, chủ yếu đòi
quyền lợi về kinh tế
+ Giữa các phong trào chưa có sự liên kết chặt chẽ với nhau
+ Tuy nhiên phong trào đã mang nhưng nét mới mà phong trào đấu tranh trước
chưa có: . sự xuất hiện của tổ chức Công Hội Đỏ (1920) là một tổ chức bí mật lãnh đạo
phong trào công nhâ .Phong trào CN Ba Son ( T8/1925) đã đánh dấu bước phát triển mới
của phong trào CN từ tự phát sang tự giác.
b) Từ 1926-1929
* Phong trào CN nước ta có nhiều bước phát triển mới, những nhân tố mới thúc đẩy
phong trào CN phát triển là:
- ảnh hưởng sâu sắc của CMDT DC ở TQuốc với trung tâm là công xã Quảng
Châu
Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp THPT 8
Trường THPT Gia Nghĩa Phan Trường Quân
- Vụ phản biến của bè lũ Tưởng Giới Thạch 1927 đã cung cấp những bài học kinh
nghiệm quý báu về vai trò lãnh đạo của gia cấp vô sản trong cuộc CM DT DC ở các nước
thuộc địa, nửa thuộc địa về tính chất hai mặt của GCTS
c) Sự phát triển của phong trào CN: Có tác dụng thúc đẩy sự xuất hiện đa tổ chức cộng
sản ở VN cuối1929 và sự ra đời của ĐCS VN 1930 là một trong những nguyên nhân để
cấu thành ĐCS VN.
5) Sự xuất hiện của 3 tổ chức CM ở VN trong những năm 1925-1927
Trong những năm 1925-1927 ở nước ta đã lần lượt xuất hiện 3 tổ chức CM:
VNTNCMĐCH, Tân Việt CMĐ và VN QDĐ. Quá trình xuất hiện và hoạt động của các
tổ chức CM nói trên:
Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp THPT 9
Trường THPT Gia Nghĩa Phan Trường Quân
a) VN TNCMĐCH (hội VNCMTN)
Sau một thời gian hoạt động ở liên xô cuối năm 1924 lấy tên là lý thị NAQ bí mật
về quảng châu TQuốc. Tại đây người đã liên lạc với các nhà CM VN đang hoạt động trên
đất TQuốc, nhất là tổ chức " Tâm Tâm Xã "( đó là tổ chức yêu nước của thanh niên VN
tai quảng Châu) tích cực vận động, tổ chức, huấn luyện, đào tạo cán bộ CM.
Tháng6/1925 cùng với Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, người đã sáng lập ra hội
VNCM TH với mục đích "làm cách mệnh" "( đập tan bọn pháp. Giành lại độc lập cho sứ
sở) "rồi sau làm cách mệnh thế giới ( Lật đổ CNĐQ và thực hiện CNCS).
Sau khi thành lập hội được tổ chức thành 5 cấp từ TW -địa phương " tổng bộ- Sứ
uỷ - tỉnh uỷ - huyện uỷ và cấp chi bộ cơ sở ". Ngay từ khi mới thành lập hội đã là một tổ
chức thống nhất, tập trung và tuyệt đối không chia bè phái
Hội lấy tuần báo" Thanh niên" Làm cơ quan ngôn luận và hạt nhân hoạt động là
Cộng sản đoàn(21/6/1923 tuần báo TN ra số đầu tiên)
Sau khi thành lập hội tích cực mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ đưa về nước hoạt
động. Trực tiếp giảng dạy tại các khóa huấn luyện NAQ
Từ 1925-1927 Hội đã đào tạo được 75. Hội viên. Phần lớn số hội viên sau các lớp
huấn luyện được đưa về nước hoạt động. Những hội viên suất xắc được hội cử đi học tiếp
tại các trường đại học phương đông ở Mác-xơ-cơ-va và trường đại học quân sự hoàng
phố TQuốc. Hội còn tích cực truyền bá tích cực Mác- lê nin về trong nước thông qua việc
xuất bản sách báo, tài liệu. đặc biệt năm 1927 hội đã xuất bản cuốn "Đường cách mệnh"
lấy chủ nghĩa "Tam dân" của Tôn Trung Sơn (1 trào lưu dân chủ tư sản thịnh hành nhất ở
TQ lúc bấy giờ) làm nền tảng tư tưởng chính trị "Dân tộc độc lập; dân tự do; dân sinh
hạnh phúc" như vậy VN QD Đảng là 1 Đảng theo xu hướng CM dân chủ tư sản tiêu biểu
cho tư sản DT ở Việt nam.
Tổ chức: xây dựng thành 4 cấp từ trung ương đến địa phương. Nhưng trên thực tế
trong qúa trình hoạt động chưa khi nào thống nhất được với nhau. Thành phần Đảng viên
của Đảng phức tạp, bao gồm: Học sinh, sinh viên, công chức, tư sản DT, tiểu thương, tiểu
chủ, thân hào, phú nông, địa chủ ở nông thôn. Binh lính sỹ quan người Việt trong quân
đội Pháp trong đó Đảng coi binh lính người việt trong quân đội Pháp làm nòng cốt. Như
vậy VN QD Đảng là 1 chính Đảng nhưng tổ chức chưa chặt chẽ, chưa khoa học. Việc kết
nạp Đảng viên không thận trọng. Vì vậy TD Pháp đã theo dõi được mọi hoạt động của
Đảng, chỉ chờ dịp là ra tay khủng bố..
Hoạt động: Đảng lấy "Tự do-Bình đẳng-Bác ái" là nguyên tắc hoạt động của mình.
Mục địch hoạt động của VN QD Đảng là cuộc CM dân tộc; CM C/trị; CM xã hội" nhằm
lật đổ chế độ phong kiến thiết lập nền DC cộng hoà. Địa bàn hoạt động của Đảng bị bó
hẹp, chủ yếu trong phạm vi 1 số tỉnh bắc kỳ. Trong quá trình hoạt động VN QD Đảng
thiên về hoạt động quân sự, nặng về ám sát khủng bố cá nhân.
VN QD Đảng là 1 chính Đảng bụt với tổ chức và phương thức hoạt động như thế
VN QD đảng khó có thể tồn tại lâu dài, được đánh dấu bằng cuộc khởi nghĩa Yên bái
( tháng 2/1930 ).
d. Khởi nghĩa Yên bái:
* Nguyên nhân: Trong những năm 1928 - 1929 phong trào yêu nước của nhân dân
ta phát triển mạnh mẽ, do sự hoạt động tích cực của 3 tổ chức CM kể từ sau khi thành
lập. Khiến cho thực dân Pháp no sợ điên cuồng khủng bố để ngăn chặn phong trào.
Tháng 2/1929 nhân Trùm Mộ Phu Ba danh ra Hà nội VN QD Đảng tổ chức vụ ám
sát tên Trùm mộ Phu khét tiếng này. Sau sự ám sát, thực dân Pháp đã ra tay khủng bố
trắng gây những tổn thất cho phong trào CM đang lên cao. VN QD Đảng là tổ chức chịu
những thiệt hại nặng nề nhất: Gần 1 nghìn đảng viên bị bắt, toàn bộ số vũ khí dự trữ bị
tịch thu.
Bị động trước tình thế đó những yếu nhân còn lại của VNQD đảng. Quyết địng dốc
đạo.
Với sự nhạy cảm về chính trị một số hội viên tiên tiến của VNTNCM ĐCH đã họp
vào cuối tháng 3 /1929 tại số nhà 5D đường Hàm Long Hà Nội lập ra Chi bộ Cộng sản
đầu tiên gồm 7 người và tích cực mở rộng cuộc vận động để tiến tới thành lập một Đẩng
CS.
Tháng 5/1929 Đại hội lần thứ nhất của VNTNCM- ĐCH đã họp tại Hương cảng
T.Quốc dưới sự chỉ huy của Lâm Đức Thụ. Dự đại hội gồm đại biểu của Bắc kỳ, nam kỳ
và đại biểu của tổng bộ thanh niên.
Tại ĐH trù bị đại biểu của Bắc kỳ đã đưa ra đề nghị phải thành lập ngay một đảng
CS để thay thế cho VNTNCM-ĐCH nhưng đề nghị đó không được ĐH chấp nhận. Vì
các đại biểu cho rằng điều kiện để thành lập chưa chín muồi mặc dù đều nhận thấy việc
Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp THPT 12
Trường THPT Gia Nghĩa Phan Trường Quân
thành lập 1 chính đảng là cần thiết không được chấp nhận đại biểu của Bắc kỳ đã bỏ đại
hội về nước ra kêu gọi công nhân, nông dân hưởng ứng chủ trương thành lập Đảng.
* Quá trình xuất hiện:
- Ngày 17/6/1929 tại số nhà 312 phố Khâm Thiên - Hà nội đại biểu các tổ chức cơ sở Bắc
kỳ quyết định thành lập ĐDCS Đảng thông qua điều lệ, ra báo "búa liềm" làm cơ quan
ngôn luận. Cử BCH TW. ĐDCS Đảng ra đời đã đáp ứng được yêu cầu bức thiết của quần
chúng được quần chúng nhiệt liệt hưởng ứng, uy tín và tổ chức của Đảng phát triển rất
nhanh.
- Không bao lâu sau khi ĐDCS Đảng ra đời các hội viên tiên tiến trong tổng bộ và kỳ bộ
VNTNCM - ĐCH mở nhiệm kỳ cũng quyết định thànhg lập An Nam CS Đảng tháng
4/1929 lấy báo "đỏ" làm cơ quan ngôn luận. Sau khi ra đời An nam CS Đảng tích cực vận
động để thống nhất với ĐDCS Đảng và đẩy mạnh công tác phát triển Đảng.
- ở Trung kỳ 1 số dảng viên tiên tiến của Tân việt chịu ảnh hưởng sâu sắc của khuynh
hướng cách mạng vô sản đã tích cực vận động thành lập các chi bộ cộng sản và xúc tiến
chuẩn bị thành lập Đảng CS. Đến 9/1929 ĐD CS liên đoàn ra đời.
* ý nghĩa:
Chỉ trong vòng 1 thời gian ngắn không đầy 4 tháng cuối 1929 ở nước ta đã có 3 tổ
phải hiểu rõ kẻ thù đó". Từ nhận thức đó người đã chọn con đường sang phương Tây.
Ngày 5/6/1911 lấy tên là Văn Ba xin làm phụ bếp cho 1 tàu buôn Pháp (tàu đô đốc
latut xơ terêvin) người rời cảng nhà rồng ra đi tìm đường cứu nước, bắt đầu hành trình
cứu nước đầy gian khổ. Người đi nhiều nước Âu, Phi, Mỹ làm nhiều nghề khác nhau để
vừa kiếm sống vừa hoạt động. Với phương thức đó người có điều kiện tiếp xúc và lăn lộn
trong phong trào quần chúng. Thực tế hoạt động đã giúp người rút ra được 1 nhận thức
quan trọng. ở đâu cũng chỉ có 2 loại người: Người bị áp bức, và người đi áp bức người
khác. Từ đó người rút ra kết luận: Nhân dân lao động tất cả các đều là bạn. CNĐQ đâu
cùng là thù. Đây là bài học quan trọng đầu tiên, bài học phân biệt bạn - thù chỉ đến người
phân biệt đúng đắn.
CM tháng 10 Nga bùng nổ và thắng lợi (11/1917) từ Luân Đôn người trở về Pari
để tiếp tục hoạt động, tại đây người đã tham gia Đảng xã hội Pháp. Tích cực hoạt động
trong phong trào công nhân Pháp.
C/tranh TG I kết thúc các nước thắng trận họp hội nghị hoà bình Vecsai (1/1919)
để phân chia quyền lợi sau chiến tranh thay mặt cho những người VN yêu nước tại Pháp
người dã gửi tới hội nghị 1 bản yêu sách gồm 8 điều đòi quyền các dân tộc (6/1919) yêu
sách đó không được chấp nhận nhưng đã gây tiếng vang lớn trong dư luận và giới Việt
kiều Pháp. Qua sự thất bại của việc làm này người đã rút ra được 1 bài học quan trọng có:
"Chỉ có giải phóng G/cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc. Cả hai cuộc G/phóng
này chỉ có thể là sự thực hiện của CM vô sản và CM thế giới".
Tháng 7/1920 NAQ đã đọc sơ thảo của lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Luận
cương đã chỉ cho người con đường giành độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào và có
tác động mạnh mẽ đến nhận thức, làm chuyển biến tư tưởng của NAQ.
Tháng 12/1920 tại đại hội Đảng xã hội Pháp lần thứ XVIII ở Tua Người đã bỏ
phiếu tán thành quốc tế III và tham gia sáng lập ĐCS Pháp Sự kiện này đánh dấu bước
ngoặt trong cuộc đời hoạt động của NAQ . Từ chủ nghĩa yêu nước chân chính Người đã
đến với chủ nghĩa Lê nin tìm ra con đường cách mạng đúng đắn cho nhân dân VN , con
đường giải phóng DT với giải phóng người lao động . Mở đầu giải quyết khủng hoảng về
đường lối giải phóng DT ở nước ta .
Năm 1921 được sự giúp đỡ của nhữnh người cộng sản Pháp người sáng lập ra "
Từ 1928 hội có chủ trương vô sản hoá , thực hiện 3 cùng (Cùng ăn, cùng ở, cùng
làm ) đưa người của CM vào hoạt động trực tiếp trong các đồn điền, xínghiệp, nhà máy,
hầm mỏ … Nhờ đó mà chủ nghĩa M Lê nin có điều kiện truyền bá sâu rộng vào quần
chúng nhân dân và làm cho phong trào CN có sựchuyển biến về chất đã dần đến sự lột
xác của phong trào CN đó là sự xuất hiện của 3 tổ chức CS.
Cuối 1929 nhận thư chỉ thị của quốc tế CS từ Xiêm , NAQ về hương cảng Trung
quốc để triệu tập chủ trì hôi nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản thành một chính Đảng duy
nhất lấy tên là ĐCSVN. Hội nghị được tiến hành từ 3 => 7 /2/1930 , với uy tìn và tài
năng tổ chức của NAQ sau 5 ngàylàm việc Hội nghi đã đi đến thống nhất, hợp nhất 3 tổ
chức CS thành một chính Đảng duy nhất lấy tên là ĐCSVN. Hội nghị đã thông qua chính
cương vắn tắt sách lược vắn tắt , điều lệ vắn tắt do NAQ soạn thảo , đây được coi là
cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta . Cương lĩnh đã vạch ra đường lối chiến lược,
sách lược cơ bản của nước ta chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối lãnh đạo
cách mạng ở nước ta hơn 2/3 thế kỉ .
Những hoạt động của của NAQ từ 1919-1930 đã có nhiều cống hiến lớn đối với
cách mạng VN. Trong đó nổi bật lên 4 cống hiến lớn :
Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp THPT 15
Trường THPT Gia Nghĩa Phan Trường Quân
- Từ chủ nghĩa yêu nước chân chính Người quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước.
Sau nhiều năm bôn ba, hoạt đọng NAQ đã tìm đến chủ nghĩa M.Lê Nin và tìm ra con
đường cứu nước đúng đắn cho DT, con đường giải phóng theo học thuyết M.Lê Nin, đó
là độc lập DT với CNXH, giải phóng DT đồng thời với giải phóng giai cấp .
- Là người đầu tiên và có công lớn nhất truyền bá chủ nghĩa M. Lê Nin về VN và
các nước thuộc địa khác. Có tác dụng soi sáng con đường cách mạng vô sản, thức tỉnh
giác ngộ quần chúng bị áp bức đứng lên đấu tranh, bên cạnh đó còn có t/d chuẩn bị cho
việc thành lập ĐCS .
- Là người trực tiếp chuẩn bị về tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự thành lập một
đảngcách mạng của giai cấp vô sản ở VN vào đầu 1930 .
- Người còn soạn thảo cho Đảng một đường lối sách lược cách mạng đúng đắn,
sáng tạo. Đó là chính cương, sách lược vắn tắt, các văn kiện này đã trở thành cương lĩnh
Thực hiện chỉ thị của quốc té CS cuối 1929 NAQ từ Xiêm về Hương cảng TQ để
triệu tạp và chủ trì hội nghị hợp nhất 3 tổ chức CS. Hội nghị họp từ ngày 03 - 07/2/1930.
Tham dự hội nghị có 03 đại biểu chính thức và 2 đại biểu dự khuyết. Sau 5 ngày làm việc
với tinh thần thống nhất cao, dân chủ hội nghị đã đi đến:
+ Xoá bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm
CS thành 1 chính đảng duy nhất lấy tên là ĐCS VN.
+ Hội nghị đã thông qua chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, điều lệ vắn tắt do
NAQ soạn thảo.
+ H/nghị đã định ra kế hoạch thống nhất các tổ chức CS ở trong nước và cử 1 ban
chấp hành TW lâm thời.
+ H/nghị đã quyết định xuất bản "Tạp chí đỏ" và báo "Tranh đấu" làm cơ quan lý
luận và tuyên truyền của Đảng.
Với tất cả nội dung trên H/nghị thành lập Đảng 03/2/1930 mang giá trị như 1 đại
hội. Nhân dịp Đảng ra đời NAQ thay mặt quốc tế CS gửi thư thông báo sự ra đời của
Đảng CS VN và ra lời kêu gọi anh em bị áp bức bóc lột…Lời kêu gội là văn kiện quan
trọng nêu tổng quát đường lối, mục tiêu, nhiệm vụ của CM việt nam.
c) ý nghĩa của việc thành lập Đảng:
* ĐCS VN ra đời là 1 bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử CM VN. Chấm dứt tình trạng
khủng hoảng về lãnh đạo CM nước ta kéo dài 2/3 thế kỷ. Kể từ đây CMVN đã có 1 chính
đảng chân chính, duy nhất lãnh đạo.
* Đảng CS VN ra đời là sản phẩm của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh
giai cấp quyết liệt của nhân dân ta, là sự sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử trên con đường
đấu tranh quyết liệt và mấy thập niên đầu thế kỷ 20. Đây là SP của sự kết hợp CN mác lê
nin với phong trào CN và và phong trào yêu nước ở VN thời dại mới, ĐCS VN theo học
thuyết mác lê nin có đường lối CM khoa học và sáng tạo, có đội ngũ cán bộ Đảng viên
kiên trung suốt đời hy sinh cho lý tưởng của CM vô sản, cho độc lập dân tộc, cho tự do
của nhân dân. Sự lãnh đạo của đảng là nhân tố đầu tiên quyết định mọi thắng lợi của CM.
* Kể từ khi Đảng ra đời CM VN thực sự trở thành 1 bộ phận khăng khít của CM
thế giới.
* Sự ra đời của Đảng là sự chuẩn bị tất yếu, đầu tiên có tính quyết định cho những
CN và NN, thi hành luật lao động ngày làm 8 giờ.
+ Về văn hoá xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức nam nữ bình quyền, phổ thông
giáo dục theo hướng công nông hoá.
Các nhiệm vụ CM đề ra trên đây bao trùm cả 2 nội dung DT và dân chủ, chống đế
quốc và chống phong kiến. Trong đó nổi bật là chống đế quốc và phong kiến tay sai
giành độc lập tự do cho nhân dân. Cương lĩnh còn nêu rõ sau khi hoàn thành CM tư sản
dân quyền sẽ tiến lên chủ nghĩa cộng sản để xoá hoàn toàn mọi hình thức áp bức bóc lột
xây dựng hạnh phúc cho mọi người.
* Để thực hiện mục tiêu và tiến trình CM như vậy Đảng đề ra sách lược CM gồm:
+ Lãnh đạo CM là giai cấp công nhân thông qua tổng tham mưu là Đảng CS VN.
Đảng có trách nhiệm thu phục đại bộ phận Công nhân nông dân, coi đây là động lực
chính của CM, hết sức lôi kéo tri thức tiểu tư sản, tư sản DT, tiểu trung địa chủ trong khi
liên minh các giai cấp phải giữ vững nguyên tác CM, không xa vào đường lối thoả hiệp.
Đảng phải thực hiện liên minh - Công - Nông vững chắc và thành lập mặt trận thống nhất
DT để đoàn kết toàn dân, đoàn kết DT.
+ Đảng phải đoàn kết với CM thế giới, các DT bị áp bức mà trước hết là đoàn kết
với giai cấp vô sản Pháp.
+ Về phương pháp CM: CM VN phải tiến hành bằng bạo lực. CM phải đi từ thấp
đến cao, từ đòi hỏi lợi ích kinh tế trước mắt đến đòi hỏi lợi ích C/trị lâu dài, kết hợp đấu
Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp THPT 18
Trường THPT Gia Nghĩa Phan Trường Quân
tranh C/trị với đấu tranh vũ trang và khi thời cơ đến thì tiến hành khởi nghĩa giành chính
quyền..
* Để htực hiện chiến lược, sách lược nêu trên Đảng đề ra chương trình hành động
nhằm củng cố, giữ vững quyền lãnh đạo, tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân, nhất là
công - nông đoàn kết quốc tế để thực hiện mục tiêu CM.
Đề giữ vững vai trò lãnh đạo Đảng phải được tổ chức nghiêm minh theo điều lệ
xác định tôn chỉ, mục đích, nguyên tắc, tiêu chuẩn kết nạp Đảng viên để nhiệm vụ, quyền
lợi của Đảng và xây dựng hệ thống tổ chức chặt chẽ.
* ý nghĩa của chính cương vắn tắt, S/lược vắn tắt.
Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp THPT 19
Trường THPT Gia Nghĩa Phan Trường Quân
Phương pháp CM phải đi từ thấp đến cao ,từ đòi lợi ích trước mắt đến
đòi lợi ích C/trị lâu dài, kết hợp đấu tranh C/trị với đấu tranh vũ trang tiến lên khởi nghĩa
giành chính quyền khi có thời cơ.
e) So sánh văn kiện T2 với văn kiện T10.
Đối chiếu nội dung các văn kiện tháng 2 với luận cương C/trị tháng 10 /1930 ta
thấy:
+ Luận cương đã xác định được những vấn đề chiến lược cơ bản mà chính cương,
sách lược vắn tắt đã nêu.
+ Tuy nhiên luận cương còn mắc phải 1 số hạn chế mà chính cương, sách lược vắt
tắt không mắc phải: Không xác định rõ được mâu thuẫn nào bao trùm cơ bản. Luận
cương không nêu cao ngọn cờ giải phóng dân tộc lên hàng đầu mà nặng về đấu tranh
G/cấp.
Đánh giá không đúng khả năng CM của G/cấp tiểu tư sản, phần nào tư sản DT và
tiểu trung địa chủ. Vì vậy không tập hựop được đông đảo nhân dân trong mặt trạn thống
nhất DT.
Những hạn chế đó của luận cương đã được Đảng phát hiện kịp thời trong quá trình
thực hiện và kiên quyết khắc phục để đưa luận cương trở về với chính cương. Tháng
11/1939 với hội TW lần 6 đề ra chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đặt nhiệm
vụ G/phóng DT lên hàng đầu.
Đề vận dụng
Đề 1: Quá trình vận động thành lập ĐCS VN (03/2/1930). Tại sao nói sự ra đời của
Đảng là một bước ngoặt vĩ đại của lịch sử CMVN.
Bài làm:
Quá trình vận động thành lập Đảng CS VN là một quá trình chuẩn bị lâu dài của
lãnh tụ NAQ và những người yêu nước, CM việt nam từ những năm 20 của TK 20. Quá
trình đó diễn ra như thế nào ?.
ĐCS VN ra đời (03/2/1930) là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác lê nin
với phong trào C/nhân và phong trào yêu nước Việt nam. Vì thế khi phong trào C/nhân
1 bước không đơn thuần là đấu tranh đòi quyền lợi K/tế. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ
của phong trào công nhân, yêu nước của các tầng lớp nhân dân cũng đã diễn ra sôi nổi,đó
là phong trào đấu tranh của TTS…Qua đó chủ nghĩa Mác LN ngày càng được truyền bá
sâu rộng vào VN, phong trào công nhân đủ sức tiếp thu sâu sắc lí luận của chủ nghĩa M -
LN làm cho ý thức của C/nhân-nông dân nâng lên rõ rệt. Đầu 1929 cuộc đấu tranh của
C/nhân nổ ra mạnh mẽ suốt từ Bắc chí Nam cùng với phong trào yêu nước cũng đang
phát triển mạnh mẽ kết thành 1 làn sóng DT dân chủ rộng lớn. Từ tình hình đó khiến cho
TNCMĐCH không còn đủ sức lãnh đạo phong trào, yêu cầu cấp thiết đặt ra phải có 1
chính đảng. T3 - 1929 với sự nhạy cảm chính trị một số đội viên tiên tiến VNTNCMĐCH
ở Bắc kỳ đã thành lập chi bộ CSđầu tiên (tại số nhà 5D - đường Hàm Long - HN).
Không đầy 4 tháng cuối 1929 ở nước ta đã lần luợt 3 tổ chức CS: Đông Dương
CSĐ (6/ 1929), An Nam CSĐ (1929), và Đông Dương CSLĐ (9/1929). Sự ra đời của 3 tổ
chức Đảng chứng tỏ 3 nhân tố: Chủ nghiã Mác - Lê nin, Ptrào Công nhân và ptrào yêu
nước đã kết hợp nhuần nhuyễn với nhau điều kiện thành lập Đảng CS đã chín muồi.
Với chức trách là phái viên QTế CS, Nguyễn ái Quốc đã triệu tập và chủ trì hội
nghị hợp nhất 3 tổ chức CS (3/2/1930) tại Hương Cảng - TQ thành 1 chính Đảng duy
nhất lấy tên là ĐCSVN. Hội nghị đã thông qua chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt,
điều lệ vắn tắt do NAQ soạn thảo. Chính cương, sách lược vắn tắt đã vạch ra đường lối
chiến lược sách lược cơ bản của CMVN và được coi là cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta.
Hội nghị cũng định ra một kế hoạch thống nhất các tổ chức CS trong nước và cử 1 BCH
Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp THPT 21
Trường THPT Gia Nghĩa Phan Trường Quân
TW lâm thời của Đảng. Với nội dung trên Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức CS ngày 3/2/
1930 mang tầm vóc như 1 ĐH.
* ý nghĩa: ĐCSVN ra đời là 1 bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử CMVN, với lịch sử
giai cấp công nhân chứng tỏ giai cấp CNVN đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo CM, với
DT chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về giai cấp lãnh đạo của CM nước tahơn 2/3 thế kỷ.
Kể từ đây CM VN đã thuộc quyền lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp CN thông qua ĐCS.
Là sản phẩm của sự kết hợp CN Mác - Lênin, Ptrào CN và ptrào yêu nước.
CMVN thực sự trở thành bộ phận khăng khít của CM thế giới. Chuẩn bị tất yếu
càng được truyền bá sâu rộng vào Việt Nam, thức tỉnh những người VN hướng họ đi theo
con đường CM đúng đắn, đó là con đường cách mạng Vô sản.
CN Mác - Lê nin còn chỉ rõ ĐCS là lực lượng lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ
và cách mạng XHCN. Xác định đúng đắn vấn đề động lực CM, liên minh giai cấp, vị trí
CM thuộc địa, phương pháp CM bạo lực… đó là cơ sở cho cương lĩnh Cách mạng của
Đảng sau này.
Nhờ có CN Mác - Lênin mà ptrào CN đã chuyển từ tự phát sang tự giác. Sự lớn
mạnh của ptrào CN đòi hỏi phải có 1 chính Đảng duy nhất và thống nhất lãnh đạo. Ptrào
CN là điều kiện cơ bản quyết định dẫn tới sự ra đời của Đảng.
Giai cấp CN Việt Nam hình thành từ rất sớm, ngay từ cuộc khai thác thuộc địa 1
của thực dân Pháp, do bị áp bức bóc lột nặng nề nên ngay từ khi mới ra đời CN VN đã
bước vào trận tuyến đấu tranh chống áp bức bóc lột nhưng trước chiến tranh thế giới 1,
ptrào CN vẫn chưa trở thành lực lượng riếng biệt mà còn hoà lẫn vào ptrào dân tộc.
Sau ctranh thế giới 2, dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa 2 CNVN đã
tăng nhanh về số lượng, ptrào đấu tranh của CN cũng tăng nhanh về chất lượng. Trong
những năm 1919 - 1925 đã xuất hiện những cuộc bãi công lớn của CN đòi hỏi quyền lợi
kinh tế , chính trị trở thành lực lượng riêng biệt và bước đầu xuất hiện tổ chức sơ khai. Từ
1926 - 1929 do tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin ptrào CN đã phát triển dần lên trình độ tự
giác dẫn đến sự lột xác của phong trào, đó là sự xuất hiện 3 tổ chức CS cuối 1929. Sự ra
đời 3 tổ chức CS chứng tỏ CN Mác - Lênin đã kết hợp nhuần nhuyễn với ptrào CN làm
cơ sở cho sự ra đời 1 chính Đảng VS duy nhất.
Như vậy ptrào CN ngày 1 trưởng thành đi từ tự phát đến tự giác là 1 trong những
điều kiện tất yếu dẫn đến sự ra đời của ĐCSVN.
ĐCSVN ra đời còn là nhu cầu đòi hỏi của ptrào yêu nước VN, kể từ khi thực dân
Pháp nổ súng xâm lược nước ta (1858 ). Nhân dân ta với tinh thần yêu nước nồng nàn đã
không ngớt vùng dậy đánh đuổi Pháp để giành độc lập dân tộc. Đó là các ptrào của nhân
dân đặt dưới sự lãnh đạo của vua quan PK như: Ptrào Cần Vương, các cuộc khơỉ nghĩa
của nông dân… nhưng tất cả các ptrào đó đều thất bại.
Từ sau ctranh thế giới I đến 1930 ptrào yêu nước VN tiêu biểu theo 2 khuynh
hướng rõ rệt: Khuynh hướng TS và VS. Khuynh hướng TS bao gồm các ptrào đấu tranh
Đầu 1930 VNQDĐ đã tiến hành cuộc K/nghĩa Yên Bái và nhanh chóng bị thất bại,
bọn TD pháp đã đàn áp cuộc K/nghĩa dã man, ghìm P/trào trong biển máu. Chính sách
khủng bố trắng trợn của TD Pháp không làm nhụt tinh thần đấu tranh của nhân dân ta mà
càng nung nấu thêm lòng căm thù cao độ với bọn đế quốc PK thúc đẩy nhân dân ta đứng
lên đấu tranh mạnh mẽ quyết liệt với kẻ thù dân tộc, G/C.
3/2/1930 ĐCSVN ra đời đã đề ra đường lối chiến lược, sách lược CM đúng đắn.
Đây là ngọn cờ tập hợp lực lượng và hướng dẫn quần chúng đấu tranh.
* Chủ trương: Ngay sau khi ra đời Đảng đã chủ trương phát động trong toàn quốc
1 ptrào CM mới chống đế quốc và PK vì mục tiêu "Độc lập DT và người cày có ruộng",
chủ trương của Đảng đề ra đã đáp ứng nguyện vọng của đông đảo của quần chúng nhân
dân lao động, giải quyết đúng đắn 2 mâu thuẫn cơ bản của XHVN. Mâu thuấn dân tộc và
mâu thuẫn giai cấp. DO đó ptrào đã tập hợp được đông đảo lực lượng tham gia suốt từ B
- N. Vì vậy có thể khẳng định Đảng CSVN ra đời với đường lối CM đúng đắn là nguyên
nhân chủ yếu, quyết định nhất dẫn đến sự bùng nổ và thắng lợi của cao trào CM 30 - 31
mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ tĩnh.
b. Diễn biến:
Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp THPT 24
Trường THPT Gia Nghĩa Phan Trường Quân
Ngay từ đầu 1930 ptrào CMVN đã diễn ra rất sôi nổi và rộng khắp, mở đầu là hàng
loạt các cuộc đấu tranh của CN đồn điền Phú riềng (3/2/1930), đồn điền Dầu Tiếng
(2/1930), CN nhà máy sợi Nam Định (3/1930 ), đấu tranh của CN nhà máy cưa, diêm
Bến Thuỷ (4/1930). Đây là những cuộc đấu tranh mở đầu ptrào CM 30 - 31.
Cùng với ptrào CM là những cuộc đtranh của nông dân và các tầng lớp nhân dân
lao động ở các tỉnh: Thanh hoá, Quảng bình, Quảng nam…
Đầu 5/1930 ptrào CM VN dẩng lên rất mạnh mang sắc thái đấu tranh ctrị rõ rệt.
Khắp nơi các hình thức đấu tranh diễn ra sôi nổi như: mít tinh, biểu tình, dải truyền đơn,
cắm cờ búa liềm, căng khẩu hiệu. Tiêu biểu là cuộc biểu dương lực lượng ngày 1/5/1930,
CN nhà máy Diêm Bến thuỷ và hàng ngàn nông dân ở các vùng lân cận, thị xã Vinh rầm
rộ biểu tình thị uy đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống khủng bố chính trị, đòi thi hành
Luật lao động, đòi giảm sưu thuế.