LÝ TỰ TRỌNG
*
Anh là con của một gia đình cách mạng vốn quê ở Hà Tỉnh (Nghệ
Tỉnh) bò đòch khủng bố phải chạy sang Thái Lan và sinh anh ở đó. Anh là
một trong 7 thiếu niên được Bác Hồ trực tiếp tổ chức và bồi dưỡng ở Quảng
Châu (Trung Quốc) trong những năm 1925 -1927. Năm 1929 anh được đoàn
thể đưa về nước hoạt động làm liên lạc ở xứ ủy Nam Kì và ở tại Sài Gòn.
Anh còn hoạt động cách mạng trong thanh niên công nhân và học sinh.
Trong cuộc mít tinh kỉ niệm khởi nghóa Yên Bái ngày 9/2/1931 anh
đã bắn chết tên thanh tra mật thám Pháp Lơ grăng để bảo vệ đồng chí diễn
thuyết của mình. Thực dân Pháp đã bắt anh, hết tra trấn lại dụ dỗ, nhưng
anh vẫn một lòng trung thành với cách mạng. Chúng hứa sẽ cho anh sang
Pháp học, sẽ có chức có quyền, vợ đẹp, con khôn, ăn mặc sung sướng. Anh
trả lời: Ta sinh ra không phải để ăn thứ cơm ấy.
Ra trước tòa, viên luật sư bào chữa cho anh rằng: bò can chưa đến
tuổi thành niên nên hoạt động không có suy nghó. Anh gạt phắt đi: “…..Tôi
chưa đến tuổi thành niên thật, nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng con đường
thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đường
nào khác…….”.
Nửa đêm về sáng một ngày cuối năm 1931 kẻ thù đã hèn hạ đưa
anh lên máy chém. Trước lúc hy sinh anh vẫn hát vang bài quốc tế ca. Năm
ấy anh mới 17 tuổi.
1
VÕ THỊ SÁU
*
Chò tên thật là Nguyễn Thò Sáu, quê ở làng đất đỏ, Bà Ròa, tỉnh
Đồng Nai.
Mới 12 tuổi chò đã theo anh trai tham gia hoạt động cách mạng, trốn
lê ở trên chiến khu. Năm 14 tuổi (1949) chò đã dùng lựu đạn giết một tên
quan ba Pháp và làm bò thương 20 tên lính ngay tại vùng đất đỏ. Từ chiến
khu trở về Bà Ròa, chò làm nhiệm vụ điều tra tình hình đòch và tiếp tế cho
kiện cho đồng đội diệt bộ binh giặc. Anh bình tónh thắt lại chiếc khăn quàng
màu đỏ trên cổ rồi vào nơi phục kích bên đường. Không may, tình huống
trận đánh diễn ra ngoài dự kiến. Trận đòa bò lộ, bọn đòch tấn công trước và
dồn quân ta vào thế bất lợi. Lực lượng quá chênh lệch, đơn vò phải vừa
đánh vừa yểm hộ cho từng bộ phận rút lui để bảo toàn lực lượng. Anh Ngô
Mây đã quyết đònh chờ cho một toán đông quân giặc tới gần chỗ anh nấp
rồi ôm quả bom bước ra, rút chốt. Bọn đòch chưa kòp nhìn rõ anh thì một
tiếng nổ dữ dội vang lên. Một trung đội u Phi tan xác và anh Ngô Mây đã
hy sinh oanh liệt.
Anh đã được nhận quân chương quân công hạng hai và được quốc
hội truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày
31/8/1955.
3
CÙ CHÍNH LAN
*
Anh sinh năm 1930 trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Quỳnh
Đội, huyện Huỳnh Lưu, Nghệ Tónh. Năm 1946 anh xung phong nhiệm vụ
liên lạc đến khi làm tiểu đội trưởng, anh đều làm tốt và được đồng đội yêu
mến.
Anh đã dự hai chiến dòch và đánh ba trận. Trận Giang Mỗ, Hòa Bình
lần thứ nhất 7/12/1951, trận đòa bò lộ trên ra lệnh rút, đòch bắn rất dữ. Anh
đã anh dũng đi sau cùng kiềm chế giặc cho đơn vò rút rồi quay trở lại tìm
anh em bò thương, đưa được ba đồng chí trở về an toàn.
Trận Giang Mỗ lần thứ hai ngày 13/12/1951, đơn vò nổ súng diệt gọn
một đại đội đòch. Lúc chuẩn bò rút lui thì một chiếc xe tăng đòch tới tiếp
viên, chặn đường quân ta khiến cho nhiều đồng chí thương vong. Anh căm
giận xông lên, trèo lên kề họng súng vào khe hở trên tháp xe bóp cò. Anh
nhảy xuống lấy lựu đạn rồi lại nhảy lên xe tăng đòch, giật nấp xe quăng lựu
đạn vào. Giặc nhặt ném ra. Anh lại mở chốt lựu đạn chờ cho khối thuốc xì
hẳn ra vài giây rồi mới ném vào. Bọn giặc trong xe chết đè lên nhau. Chiếc
chúng treo chò lên bụi tre và giết chết.
Ngày 31/8/1955 chò đã được Quốc hội truy tặng anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân.
5
LA VĂN CẦU
*
Anh là người dân tộc Tày, quê ở xã Khâm Thành, huyện Trùng
Khánh, tỉnh Cao Bằng sinh năm 1932. Khi được tuyên dương anh hùng, vừa
tròn 20 tuổi là tiểu đội trưởng. Anh là con trai của một gia đình vốn có mối
thù sâu sắc với đế quốc và phong kiến. Cha bò giặc Pháp bắt và đánh rất dã
man, sau kiệt sức mà chết.
Thế là anh đã sống rất khổ cực từ tấm bé. Cách mạng tháng Tám
thành công, anh được giác ngộ cách mạng. Năm 1946, mới 16 tuổi, anh khai
tăng lên 18 để được vào bộ đội. Được nhập ngũ, anh rất phấn khởi. Anh đã
tham gia chiến đấu 29 trận, trận nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
được giao.
Trong trận đánh đồn Đông Khê lần thứ nhất (1950) đang bò đau chân,
anh vẫn quyết xin đi chiến đấu, khi trận đánh gặp khó khăn, anh đã động
viên các đồng chí bò thương, băng bó cẩn thận và cõng hết thương binh vè
nơi an toàn. Trên đường rút lui, đòch nhảy dù phản kích, anh vẫn cố vác
khẩu 12 ly 7 thu được của đòch về đơn vò.
Tới trận Đông Khê lần thứ hai (1950) anh được phân công chỉ huy tổ
đánh bộc phá. Phá đến hai hàng rào cuối cùng thì cả tổ bò thương hết. Chỉ
còn một mình, anh vẫn đánh vào lô cốt. Vượt vào đến hàng rào thứ ba thì
anh bò thương ngất đi. Tỉnh dậy thấy cánh tay phải đã gãy nát, lủng lẳng
bên mình, anh liền nhờ đồng đội chặt bỏ cánh tay đã hỏng để tiếp tục ôm
bộc phá đánh tan lô cốt đầu cầu mở đường cho đơn vò xung phong. Và với
cánh tay trái còn lại. Anh đã đánh tiếp cùng đồng đội diệt gọn lô cốt ấy.
Anh đã được Quốc hội phong danh hiệu anh hùng quân đội năm 1952.
6
Năm 1949, anh xung phong vào bộ đội và đã tham gia nhiều chiến
dòch. Tại chiến dòch nào anh cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Anh mồ côi mẹ từ nhỏ, cha đi làm thợ mỏ xa, anh phải đi làm thuê cho
đòa chủ năm năm rồi trốn về nhà ở với dì, tham gia du kích.
Đông xuân 1953 -1954, đơn vò hành quân đi chiến dòch, anh làm liên
lạc tiểu đoàn. Trong trận đánh quân đòch rút chạy từ Lai Châu về Điện Biên
Phủ ở Mường Pồn từ đầu năm 1954, vừa mới đi công tác trở về xong, anh
đã xung phong làm nhiệm vụ đưa tin cho đại đội đang đụng giặc phải ghìm
chân chúng lại. Tình hình chiến đấu mỗi lúc một ác liệt. Anh được lệnh ở
lại chiến đấu. Sau 3 đợt phản kích của đòch,
đại đội chỉ còn 17 người. Anh vẫn bò thương nhưng tiếp tục chiến đấu. Một
khẩu trung liên của ta đang bắn bỗng im tiếng vì xạ thủ hy sinh. Khẩu còn
lại của đồng chí Chu Văn Pù vận động tới không có chỗ đặt súng, nguy
hiểm qúa anh Bế Văn Đàn liền chạy lại cầm 2 chân của khẩu trung liên đặt
lên vai mình và hô bạn bắn. Anh Pù nghiến răng vừa bắn, vừa chảy nước
mắt vì thương bạn. Những viên đạn căm thù đã nã rất chính xác vào đám
quân giặc khiến chúng phải hoảng hốt tháo chạy. Song anh Đàn đã bò thêm
hai vết thương nữa và anh dũng hy sinh khi hai tay vẫn còn ghì chặt đôi
chân càng súng trên vai mình.
Ngày 31/8/1955 anh được quốc hội truy tặng danh hiệu anh hùng lực
lượng vũ trang nhân dân.
8
PHAN ĐÌNH GIÓT
*
Anh sinh năm 1920, quê ở làng Tân Yên, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh
Nghệ Tỉnh.
Nhà rất nghèo, bố mất sớm, anh phải sống cuộc đời đi ở từ 13 tuổi.
Cách mạng tháng Tám thành công, anh tham gia tự vệ chiến đấu. Năm
1950 anh tham gia vào bộ đội chủ lực.
Trong cuộc sống tập thể anh rất yêu đồng chí và được đồng đội rất q
Năm 1953, anh được điều về làm tiểu đội trưởng tiểu đội cao xa
pháo, chuẩn bò cho trận đánh lớn của quân đội ta.
Trên đường hành quân dài hàng nghìn kílômét, để tham gia chiến
dòch Điện Biên Phủ, anh luôn luôn gương mẫu làm mọi việc nặng nhọc,
động viên giúp đỡ đồng đội đưa pháo tới nơi tập kết an toàn.
Những khi kéo pháo lên dốc, xuống dốc, anh đều chú ý rút kinh
nghiệm, khắc phục khó khăn giúp đỡ đồng đội.
Kéo pháo vào đã rất gian khổ, đưa pháo ra càng ác liệt hơn.
Hôm ấy sau 5 đêm kéo pháo ra đến dốc chuối, một cái dốc có độ nghiêng
70 độ, đường đã hẹp lại công và trơn, rất nguy hiểm, pháo đang xuống dốc
thì dây bò đứt, pháo lao nhanh xuống. Lúc đó anh Diện và anh Ty đang giữ
càng để lái pháo. Hai anh cố giữ cho pháo đi thẳng đường. Nhưng một trong
4 dây kéo bò đứt. Anh Ty bò càng pháo hất văng xuống suối. Nguy hiểm
qúa. Pháo lăn xuống vực mãi. Anh Diện liền hô to:
“thà hy sinh quyết bảo vệ phao!”…rồi anh buông càng pháo, anh lao mình
vào bánh xe pháo. Nhờ vậy pháo bò vướng, nghiêng vào bờ núi và dừng lại.
Song anh Diện đã hy sinh vì pháo đè quá nặng.
10
Ngày 7/5/1956 anh đã được quốc hội truy tặng Huân chương quân
công hạng hai và danh hiệu Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân
NGUYỄN VIẾT XUÂN
*
Anh sinh năm 1934, ở xã Ngũ Kiên, huyện Vónh Tường, tỉnh Vónh
Phú.
Năm 10 tuổi, anh vượt vùng tạm bò đòch chiếm ra vùng tự do để đi bộ
đội và tham gia chiến đấu trong đơn vò pháo cao xạ ở Điện Biên Phủ. Anh
thuộc lớp cán bộ trẻ được Đảng đào tạo một cách toàn diện. Khi giặc Mỹ
leo thang đưa máy bay đánh phá Miền Bắc năm 1965, anh là chính trò viên
một đại đội pháo cao xạ.
Trong một trận chiến đấu ác liệt với máy bay giặc Mỹ ở Miền Tây
Đả đảo Nguyễn Khánh !
Hồ Chí Minh muôn năm!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Việt Nam muôn năm!”
12
Anh đã được truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
LÊ THỊ RIÊNG
*
Quê ở tại Bạc Liêu, tỉnh Minh Hải. Cô là con một gia đình nông dân
nghèo, mồ côi cha mẹ từ sớm. Ngay từ khi còn nhỏ, chứng kiến cảnh áp bức
bốc lột của bọn cường hào gian ác, cô đã giác ngộ cách mạng. Năm 1945
sau cách mạng tháng Tám cô đã tham gia kháng chiến chống Pháp.
Năm 1954, sau khi Hiệp nghò Giơ – Ne- Vơ được kí kết cô tiếp tục
tham gia các phong trào chống Mỹ – Diệm. Đến ngày mặt trận dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam ra đời (20/1/1960) cô được bầu hội phó Hội
liên hiệp phụ nữ giải phóng và ủy viên ủy ban trung ương mặt trận dân tộc
giải phóng miền Nam Việt Nam..
Cô là một cán bộ có tài năng và đức độ, được toàn thể phụ nữ miền
Nam và nhân dân miền Nam cảm mến, tin yêu.
Trong một chiến đi công tác hồi tháng 5/1967 cô bò bọn mật thám
của bè lũ Mỹ – Thiệu –Kỳ bắt. Bọn mật vụ CIA và bọn Nguyễn Ngọc Loan
dùng mọi cực hình tra tấn rất dã man. Chúng đốt tay cô đến trơ xương,
nhưng cô vẫn giữ tinh thần hiên ngang, bất khuất.
Đêm mùng 2 tết Mậu thân, tức đêm 31/1/1968, thi hành lệnh của chủ
Mỹ, bọn Thiệu – Kỳ –Loan đã đưa cô và một số đồng chí đang bò giam giữ
lên chiếc xe hơi, chạy đến đường Hồng Bàng rồi xả súng bắn. Bọn ác ôn
hèn nhát đã ám hại cô Lê Thò Riêng. Nhưng cô vẫn sống trong niềm tiếc
thương của đồng bào cả nước.
13