Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 2 * 2016
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH KÊ ĐƠN THUỐC TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CƠ SỞ 2 TRONG THÁNG 06/2015
Nguyễn Trần Giáng Hương*, Nguyễn Thị Quỳnh Nga*, Nguyễn Hoàng Thuyên*, Phạm Đình Luyến*
TÓM TẮT
Mở đầu: Việc thường xuyên theo dõi thực hiện tốt quy chế kê đơn, chỉ số kê đơn dựa trên hệ thống kê đơn
điện tử phải được chú trọng nhằm đảm bảo sử dụng thuốc an toàn hợp lý cho bệnh nhân.
Mục tiêu: Đánh giá thực hiện quy chế kê đơn và các chỉ số kê đơn cho bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Đại
Học Y dược Tp.HCM Cơ sở 2.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang với phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân
tầng, sử dụng MS Excel 2010 và IBM SPSS 20.0 để phân tích thống kê 400 đơn thuốc điều trị ngoại trú trong
tháng 06/2015.
Kết quả: Đơn thuốc khảo sát thực hiện đúng theo quy chế kê đơn 92,5%. Giá trị trung bình của các chỉ số kê
đơn tại bệnh viện theo WHO/INRUD lần lượt là % generic (82,76% so với 100%) cao hơn so với báo cáo ở Thái
Lan 67,4%; % kháng sinh (33,75% so với ⩽30%),tỷ lệ này là 36,7% tại Malaysia và tại Thái Lan là 23,1% (bệnh
viện vùng). Số thuốc trung bình trong một đơn thuốc ngoại trú cao hơn giá trị khuyến cáo của WHO (4,35 so với
⩽2). Chỉ số này là 3,33 ở Malaysia; 4,13 (bệnh viện vùng) ở Thái Lan.
Kết luận:Tình hình kê đơn thuốc tại bệnh viện khảo sát phù hợp quy chế kê đơn, tuy nhiên vẫn còn một số
vấn đề cần được chấn chỉnh.
Từ khóa: kê đơn thuốc, kê đơn điện tử, chỉ số kê đơn.
ABSTRACT
SURVEY OF DRUG PRESCRIBING PRACTICES
AT UNIVERSITY MEDICAL CENTER HO CHI MINH CITY BRANCH 2 IN JUNE 2015
Nguyen Tran Giang Huong, Nguyen Thi Quynh Nga, Nguyen Hoang Thuyen, Pham Dinh Luyen,
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Supplement of Vol. 20 - No 2 – 2016: 114 - 120
Background: The regular implementation review of prescription regulations, prescribing indicators based on
bệnh nhân ngoại trú, đồng thời giúp lãnh đạo
Thuốc là vũ khí quan trọng trong cuộc chiến
bệnh viện quản lý, phát hiện các sai sót trong
chống lại bệnh tật. Tuy nhiên, thuốc là "con dao
chuyên môn, cũng như những tiêu cực trong
hai lưỡi" do đó phải được sử dụng một cách hợp
khám chữa bệnh. Từ những lý do thực tiễn trên,
lý. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), sử dụng
nghiên cứu này đã được tiến hành tại bệnh viện
thuốc hợp lý, an toàn là “việc đảm bảo cho người
Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cơ sở 2
bệnh nhận được thuốc thích hợp với yêu cầu của
trong tháng 06/2015. Đồng thời nghiên cứu cũng
lâm sàng, liều lượng phù hợp với từng cá thể,
tiến hành đánh giá so sánh chỉ số kê đơn với một
trong khoảng thời gian vừa đủ và giá thành thấp
số nước trong khu vực Đông Nam Á để có một
nhất cho mỗi người cũng như cho cộng đồng của
cái nhìn toàn diện hơn về tình hình kê đơn thuốc
họ"(9). Sử dụng thuốc không hợp lý bao gồm việc
ở các nước khác nhau.
sử dụng quá nhiều thuốc (polypharmacy); sử
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU
dụng kháng sinh điều trị nhiễm trùng không do
vi khuẩn; liều lượng trung bình thuốc kháng
Đối tượng khảo sát
sinh và các loại thuốc kê đơn không phù hợp với
400 đơn thuốc điều trị ngoại trú tại khoa
tình trạng bệnh nhân.
khám bệnh bệnh viện Đại học Y Dược Thành
ngẫu nhiên phân tầng, sử dụng MS Excel 2010
và IBM SPSS 20.0 để phân tích thống kê, đánh
giá việc thực hiện quy chế kê đơn và các chỉ số
kê đơn.
Chỉ số kê đơn bao gồm số thuốc kê trung
bình trong một đơn, tỷ lệ phần trăm thuốc được
kê tên generic hoặc tên chung quốc tế (INN), tỷ
lệ phần trăm đơn kê có kháng sinh, tỷ lệ phần
trăm đơn kê có thuốc tiêm và tỷ lệ phần trăm
thuốc được kê đơn có trong danh mục thuốc
thiết yếu (10). Qua khảo sát 400 đơn thuốc ngoại
trú tại khoa khám bệnh BVĐHYD cơ sở 2, một số
chỉ kê đơn WHO/INRUD sau đã được sử dụng
trong nghiên cứu.
Số thuốc kê trung bình trong một đơn thuốc
Số thuốc trung bình/ đơn =
Tỷ lệ phần trăm đơn kê có kháng sinh
115
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 2 * 2016
% đơn kê có kháng sinh =
x 100%
≤ 19 tuổi
20-29 tuổi
30-39 tuổi
40-49 tuổi
50-59 tuổi
60-65 tuổi
> 65 tuổi
Địa bàn cư trú
Đông Nam Bộ & Đồng bằng Sông Cửu Long
Thành phố Hồ Chí Minh
Trong khoảng thời gian tháng 06/2015 lấy
mẫu tại khoa khám bệnh Bệnh viện ĐHYD cơ sở
2, có 400 đơn thuốc được ghi nhận và đánh giá
theo các nội dung sau
Khảo sát và đánh giá việc thực hiện quy chế
kê đơn
Kết quả khảo sát thực hiện quy chế kê đơn
qua phân tích 400 đơn thuốc ngoại trú được
trình bày ở Bảng 2 và Hình 1.
Bảng 2: Kết quả thực hiện quy chế kê đơn
Số lượng
(%)
đơn
Tên, tuổi, giới tính, địa chỉ bệnh nhân
372
93
Chẩn đoán bệnh
400
68
84
28
33
39,5
60,5
6,25
19,5
21,0
17,0
21,0
7,0
8,25
39,5
100
6,25
25,75
46,75
63,75
84,75
91,75
100
219
181
54,75
45,25
dạng bào chế, tên thuốc, liều lượng, số lượng,
cách dùng và cuối cùng là chữ ký của bác sĩ kê
đơn (1). Đơn có ít nhất một nội dung bất kỳ bắt
buộc tuân thủ trong mẫu đơn nhưng không thực
hiện thì được xem là vi phạm Quy chế. Qua khảo
sát, có 7,5% đơn thuốc khảo sát thực hiện chưa
đúng đủ theo quy chế kê đơn. Sai sót gặp trong
đơn như thiếu thông tin bệnh nhân (địa chỉ),
hướng dẫn sử dụng thuốc. Địa chỉ bệnh nhân
phải ghi chính xác số nhà, đường phố hoặc thôn,
xã để tiện liên lạc với bệnh nhân nếu có bất kỳ
sai sót y khoa nào xảy ra hoặc thông báo kịp thời
cho bệnh nhân khi hãng sản xuất thông báo
thuốc đã kê có vấn đề cần thu hồi.
Nghiên cứu Y học
Hướng dẫn dùng thuốc phải được ghi đầy
đủ, rõ ràng nhằm tránh tình trạng bệnh nhân
dùng thuốc sai liều, sai thời điểm dùng thuốc
hoặc không tuân thủ điều trị dẫn đến hiệu quả
điều trị của thuốc bị giảm. Đơn không ghi hướng
dẫn dùng thuốc đầy đủ cụ thể có thể dẫn đến
việc bệnh nhân uống thuốc sai thời điểm hoặc
quá liều không tuân trị, từ đó dẫn đến việc điều
trị kém hiệu quả. Điều này chứng tỏ việc kê đơn
tại bệnh viện vẫn còn vấn đề cần được chấn
chỉnh.
Kết quả khảo sát thực hành kê đơn thuốc
trong nhóm thuốc kháng histamin thế hệ thứ hai
là levocetirizin & fexofenadin (3 đơn) hay 2
thuốc thuộc nhóm kháng viêm không steroid là
etoricoxib & celecoxib (4 đơn) và meloxicam&
piroxicam (1 đơn). Điều này càng tăng nguy cơ
xảy ra tác dụng phụ, giảm hiệu quả điều trị và
tăng chi phí điều trị trên bệnh nhân.
117
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 2 * 2016
Nghiên cứu Y học
Kết quả nghiên cứu về các chỉ số kê đơn
Có 1739 thuốc được kê trong 400 đơn khảo
sát, số thuốc trung bình trong 1 đơn là 4,35
thuốc/đơn. Tỷ lệ % đơn kê kháng sinh là 33,75%
trong khi 82,76% thuốc được kê tên generic. Các
chỉ số kê đơn đã được phân tích và so sánh với
mức khuyến cáo của WHO được trình bày ở
Bảng 3.
Bảng 3: Đánh giá chỉ số kê đơn theo WHO (n= 400)
Chỉ số kê đơn
Số thuốc kê trung bình
trong 1 đơn thuốc
Tỷ lệ phần trăm thuốc
được kê tên generic(%)
Tỷ lệ phần trăm đơn kê có
Một nghiên cứu ở Malaysia cho thấy số
lượng trung bình của các loại thuốc được kê đơn
tại phòng khám y tế công cộng ở Kuala Lumpur
là 3,33 (7). Nhiều nghiên cứu khác nhau trên thế
giới cho thấy số thuốc trung bình trong một đơn
thuốc ở các nước phát triển là 1,3 - 2,2; ở các nước
đang phát triển là 1,4 – 4,8 (4). Để đảm bảo việc kê
đơn hợp lý an toàn, khuyến cáo của Tổ chức Y tế
Thế giới là số thuốc trong một đơn là ít hơn 2 loại
thuốc. Tỷ lệ các phản ứng có hại tăng lên theo
cấp số nhân khi kết hợp nhiều loại thuốc (10). Việc
sử dụng quá nhiều thuốc trong cùng một đơn sẽ
làm tăng nguy cơ xảy ra các tác dụng không
mong muốn cũng như tương tác thuốc ảnh
hưởng đến kết quả điều trị và thậm chí có hại
118
cho bệnh nhân sử dụng. Mặt khác kê nhiều
thuốc trong đơn sẽ tổn hại kinh tế cho người
bệnh và gây lãng phí không đáng có trong chi
phí y tế. Qua khảo sát 400 đơn thuốc tại khoa
khám bệnh BVĐHYD cơ sở 2 nhận thấy tỷ lệ
thuốc Generic chiếm tỷ lệ 82,76%. Tỷ lệ này là
khá cao so với nghiên cứu Holloway, K.A (2012)
ở Thái Lan là 67,4% (BV vùng) và 87,9% (BV
huyện) và gần mức khuyến cáo của
WHO/INRUD là 100% thuốc generic (2,3). Số liệu
thống kê số loại thuốc kê trong đơn cho mỗi
bệnh nhân/1 ngày trong 400 đơn khảo sát được
Như đã trình bày ở Bảng 4, vẫn còn tồn tại
việc kê quá nhiều thuốc trong đơn (≥ 8 loại
thuốc/bệnh nhân/ngày- 8,25%). Tổng số đơn có
kê thuốc kháng sinh là 135 đơn chiếm tỷ lệ
33,75% trong đó có 90 đơn kê 1 kháng sinh (với
tỷ lệ 22,5%), 42 đơn kê 2 kháng sinh (với tỷ lệ là
10,5%) và 3 đơn kê 3 kháng sinh (0,75%). Đơn
thuốc kê 3 kháng sinh gặp ở trong đơn chẩn
đoán viêm loét dạ dày, tá tràng do Helicobacter
pylori (H.pylori) được điều trị theo phác đồ 4
thuốc kết hợp 1 thuốc nhóm ức chế bơm proton
và 3 thuốc kháng sinh. Có 2 phác đồ điều trị H.P
được bác sĩ kê cho bệnh nhân:
Phác đồ 3 thuốc (Amoxcillin+ Levofloxacin+
Omeprazol).
Phác đồ 4 thuốc (Rapeprazol+ Bismuth+
Tetracyclin+ Metronidazol).
Tình trạng kết hợp nhiều loại kháng sinh tuy
chiếm một tỷ lệ nhỏ không đáng kể 0,75% nhưng
cũng rất đáng quan tâm vì nếu không có sự giám
sát chặt chẽ thì tỷ lệ này sẽ tăng lên một cách
nhanh chóng và đưa đến hiện tượng lạm dụng
Chuyên Đề Dược
70
38,25
Phân họ Penicilin
45
24,59
Quinolon
28
15,30
Nitro-Imidazol
12
6,56
Peptid
12
6,56
Macrolid
Nghiên cứu Y học
KẾT LUẬN
Tình hình kê đơn thuốc tại Bệnh viện Đại
Học Y dược Tp.HCM cơ sở 2 là phù hợp với quy
chế kê đơn tuy nhiên để đảm bảo kê đơn thuốc
an toàn, hợp lý, hiệu quả, nâng cao hơn nữa
công tác chăm sóc sức khỏe người dân thì việc kê
đơn tại bệnh viện vẫn còn một số vấn đề cần
được chấn chỉnh như việc kết hợp quá nhiều
thuốc trong đơn và vẫn còn trường hợp kê 2
thuốc cùng một nhóm tác dụng dược lý. Điều
này làm tăng nguy cơ xảy ra tác dụng phụ,
tương tác thuốc, giảm hiệu quả điều trị và tăng
chi phí điều trị cho bệnh nhân. Phần mềm ứng
dụng tin học tại bệnh viện chưa hỗ trợ việc giám
sát kê đơn thuốc và phát hiện tương tác thuốc,
sai sót trong kê đơn. Một sự đầu tư hợp lý để
nâng cấp ứng dụng công nghệ thông tin trong
hoạt động kê đơn thuốc, theo dõi tương tác
thuốc là một xu thế tất yếu giúp nâng cao hiệu
quả trong công tác quản lý, điều hành hoạt động
của bệnh viện từ đó cải tiến và nâng cao chất
lượng khám chữa cho bệnh nhân.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
thuốc ngoại trú tại bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang.
Luận văn tốt nghiệp dược sĩ CKI, Đại học Y Dược Hồ Chí
Minh.
Saleh K và Ibrahim MIM (2006). How to rational are drugs
used in Malaysian Primary Health Care sector. Malaysian
Journal of Pharmaceutical Sciences, 4:1-12.
119
Nghiên cứu Y học
8.
9.
10.
120
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 2 * 2016
Trần Nhân Thắng (2013). Khảo sát tình hình sử dụng kháng
sinh trong điều trị ngoại trú tại bệnh viện Bạch Mai. Y học
thực hành,8:84-88.
World Health Organization (1987). The rational use of drugs Report of the conference of Experts, Nairobi. 1985. [Cited 2015
Oct 20].
Available
from:
http://apps.who.int/medicinedocs/en/m/abstract/Js17054e/.