Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 21 * Số 1 * 2017
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG GIÃN MẠCH VÙNG MẶT VÀ HIỆU QUẢ
ÁNH SÁNG XUNG CƯỜNG ĐỘ CAO BƯỚC SÓNG 570-950nm
TRONG ĐIỀU TRỊ GIÃN MẠCH DA MẶT TẠI BỆNH VIỆN
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH-CƠ SỞ 1
Nguyễn Thiên Hương*, Lê Minh Phúc*, Nguyễn Lê Trà Mi*, Văn Thế Trung*, Lê Thái Vân Thanh*
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá đặc điểm lâm sàng của giãn mạch vùng mặt và hiệu quả của ánh sáng xung
cường độ cao bước sóng 570-950nm trong điều trị giãn mạch trên da mặt.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca trên bệnh nhân nữ giãn mạch đến
khám tại Bệnh viện Đại Học Y Dược – Thành phố Hồ Chí Minh (BV.ĐHYD – TP.HCM) từ 01/10/2015 đến
30/05/2016. Chẩn đoán bệnh giãn mạch dựa vào lâm sàng. Đánh giá hiệu quả của IPL bước sóng 570-950nm
trong điều trị giãn mạch trên mặt bằng đếm mạch máu còn lại sau điều trị qua hình chụp và máy đo ghi nhận chỉ
số a* sự thay đổi màu đỏ trên da bệnh nhân.
Kết quả: bệnh nhân nữ giãn mạch gồm 62 người. Tuổi trung bình của phụ nữ tham gia nghiên cứu là 42,58
± 7,6 tuổi, 80,62% đối tượng trên 45 tuổi. Phụ nữ giãn mạch kèm nám (80,6%), phụ nữ giãn mạch đã từng dùng
thuốc tránh thai (59,7%), thỉnh thoảng dùng mỹ phẩm (46,8%), tiếp xúc ánh sáng mặt trời (ANMT) trên 1giờ
chiếm 64,5%. Các yếu tố ảnh hưởng đến độ nặng của giãn mạch là “từ 45 tuổi trở lên”, “tiếp xúc ANMT vào giờ
cao điểm mỗi ngày hơn 1 giờ” và “hiện diện nám” và “thỉnh thoảng sử dụng mỹ phẩm”. Có 30 bệnh nhân (BN)
điều trị IPL bước sóng 570-950nm trong 3 lần đầu không cải thiện, sau đó còn lại 10BN tiếp tục điều trị và 4
người (40%) cải thiện sau 7 lần. Số lượng mạch máu giảm giữa lần đầu và lần điều trị thứ bảy được đánh giá bởi
bác sĩ qua hình chụp (p< 0,05). Chỉ số a* của máy colorimeter giảm sau 7 lần (p
colorimeter was recorded to evaluate changes of facial patient’s redness.
Results: All 62 female patients with their average ages participating with the research were 42.58 (+/-7.6
years), 80.62% of over 45 year-old. For those, who have had using contraception (59.7%), sometimes using makeups (46.8%), and more than one hour of sunlight exposure (64.5%). The factors impact on the high rates of
telangiectasia were "over 45 years old", "more than one hour of sunlight exposure on the peak time", "existence
of melasma", and "sometimes use make-ups". There were 30 female patients applied with IPL 570-950nm in
treatment had no critical changes in the first 3 times, but last 10 continued and improved after 7 times in which
40% had reduction in redness. This was confirmed by physician’s photographic assessment where the number of
vessel reduced at 7 treatments compared to the first (p
25
Nghiên cứu Y học
Bệnh nhân không hợp tác cũng như không
tái khám đúng hẹn, không tuân thủ các biện
pháp đã tham vấn.
Bệnh nhân đã điều trị các phương pháp vi
bào da, lột da, laser trong vòng 9 tháng qua.
Nhiễm trùng da đang hoạt động trên mặt.
Phụ nữ đang có thai hoặc cho con bú.
Cách tiến hành nghiên cứu
Bệnh nhân được chẩn đoán giãn mạch dựa
vào lâm sàng. Ngay sau đó, mỗi bệnh nhân được
hỏi bệnh sử và thăm khám lâm sàng, chụp hình
đo chỉ số a* trên máy colorimeter, ghi nhận tất cả
các yếu tố liên quan vào bệnh án nghiên cứu.
Bệnh nhân đồng ý điều trị sẽ được theo dõi
và điều trị với máy laser bước sóng 570-950nm.
Ghi nhận tác dụng phụ sau điều trị.
Bệnh nhân tái khám những lần sau sẽ được
chụp hình và đo chỉ số a* trước và sau điều trị để
đánh giá tiến triển của điều trị.
Phân tích số liệu
Số liệu thu thập được nhập và xử lý bằng
máy tính với phần mềm SPSS 20.0.
Thống kê mô tả: dùng tần số, tỉ lệ %, trung
bình ± ĐLC, trung vị.
chiếm 64,5%. Nhóm bệnh nhân giãn mạch
không có thói quen dùng kem chống nắng với
tỉ lệ 77,4%, nhóm có thói quen dùng kem
chống nắng chiếm tỉ lệ 22,6%. Thể phối hợp
đường và nhánh chiếm tỉ lệ cao nhất 79%
trong các thể phối hợp, không có bệnh nhân có
thể đơn độc hình nhện hoặc hình chấm, mà
chỉ có thể đơn độc hình đường chiếm 17,7%.
Mối liên quan lâm sàng và mức độ giãn
mạch
Các yếu tố ảnh hưởng đến độ nặng của giãn
mạch là “từ 45 tuổi trở lên”, “tiếp xúc ANMT
vào giờ cao điểm mỗi ngày hơn 1 giờ”, “hiện
diện nám” và “thỉnh thoảng sử dụng mỹ phẩm”.
Phân tích hồi qui logistic đa biến mối liên hệ
giữa giãn mạch có độ nặng liên quan đáng kể tới
“tiếp xúc ANMT vào giờ cao điểm hơn 1 giờ”.
Hiệu quả sau điều trị IPL
Đánh giá chủ quan của thầy thuốc (n=32)
Theo thang điểm cải thiện sau điều trị
Sau 3 tháng điều trị bệnh nhân không thay
đổi và số lượng bệnh nhân tiếp tục điều trị đã
giảm dần. Qua 5 tháng, số bệnh nhân còn 10 ca,
điều trị có 2 ca cải thiện ít 0-25%. Tiếp tục điều trị
tháng thứ 6, tỉ lệ cải thiện 1 ca 25-50% và 1 ca vẫn
giữ mức độ cải thiện 0-25%. Sau 7 liệu trình chỉ
còn lại 8 bệnh nhân trong đó 2 (20%) ca cải thiện
50-75%, 1(10%) ca cải thiện 25-50 %, 1 (10%) ca
T6
0,053
T7
0,045
Đánh giá khách quan theo chỉ số a*
T0
p
T1
0,172
T2
0,113
T3
0,164
T4
0,168
T5
0,153
T6
0,053
T7
cường độ mạnh quanh năm, người dân có tập
quán sinh hoạt phần lớn là tiếp xúc với ngoài trời
và không có thói quen chống nắng.
Nám có kèm giãn mạch chiếm 80,6%, sự
tương tác giữa các mạch máu ở da và hắc tố bào
có thể có ảnh hưởng đến sự phát triển của hắc tố
bào và môi trường mạch máu bao quanh hắc tố
bào có thể có vai trò quan trọng trong sự phát
triển của nám(29).
Có 59,7% phụ nữ giãn mạch đã từng dùng
thuốc tránh thai. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu
nào nêu rõ mối quan hệ giữa việc dùng thuốc
tránh thai dẫn đến giãn mạch trên mặt.
27
Nghiên cứu Y học
Nguy cơ phát triển giãn mạch gia tăng tỉ lệ
với thời lượng tiếp xúc UVR, đặc biệt ở người
sống tại các vùng có cường độ UVR cao(29).
Nghiên cứu có đến 64,5% trường hợp tiếp xúc
ANMT (trong khoảng 9 giờ - 16 giờ) hơn 1 giờ
mỗi ngày, tiếp xúc dưới 1 giờ chiếm 19,4% và
không tiếp xúc chỉ chiếm 16,1%.
Nghiên cứu cho thấy có 12,9% bệnh nhân
thường xuyên dùng mỹ phẩm. Thỉnh thoảng
dùng mỹ phẩm chiếm 46,8%, không dùng mỹ
phẩm chiếm 40,3%.
45 tuổi” và “tiếp xúc ANMT từ 9 – 16 giờ > 1
giờ mỗi ngày”.
Đánh giá hiệu quả IPL trên phụ nữ giãn
mạch trên mặt
Đánh giá chủ quan của thầy thuốc
Tỉ lệ cải thiện giãn mạch tăng dần trong quá
trình điều trị bằng IPL; 20% cải thiện 0-25% tại
thời điểm T5; 30% có cải thiện bao gồm 20% cải
thiện 25-50% tại thời điểm T6; 40% có cải thiện
bao gồm 20% cải thiện 50-75% tại thời điểm T7.
diện một cách khách quan theo phương thức
tương tự với màu sắc mà mắt người cảm nhận
được. Giá trị a* trung bình trong nhóm điều trị
dao động và có khuynh hướng giảm khi so sánh
thời điểm bắt đầu điều trị và thời điểm sau điều
trị T5. Giá trị a* giảm tại thời điểm T7 so với tại
thời điểm T3 có ý nghĩa thống kê (p