ĐẶT VẤN ĐỀ
Điếc đột ngột (ĐĐN) là một cấp cứu trong tai mũi họng mà vấn đề
chẩn đoán xác định nguyên nhân và điều trị vẫn còn nhiều tranh luận. Theo
các tác giả nghiên cứu về điếc đột ngột trên toàn thế giới đều thống nhất về
định nghĩa của điếc đột ngột như sau: Điếc đột ngột là một điếc tiếp
nhận,thính lực giảm từ 30 dB trở lên với ít nhất ở 3 tần số liên tiếp nhau và
mới xuất hiện trong vòng 3 ngày (72giờ) ở những bệnh nhân không có tiền sử
bệnh về tai [38], [46]. Theo tác giả Trần Bá Huy và một số tác giả Pháp thì
điếc đột ngột là một điếc tiếp nhận ở một bên tai, xảy ra trong vòng 24 giờ, thính
lực giảm trên 30 dB ở 3 tần số liên tiếp và không có nguyên nhân [57], [58] .
Điếc đột ngột thường xuất hiện ở một tai [3], [52] nhưng đôi khi cũng
xuất hiện cả hai tai chiếm khoảng 2% [26], [30] và thường kết hợp với các
triệu chứng khác như ù tai, cảm giác đầy nặng trong tai,chóng mặt đây lại
là những triệu chứng buộc bệnh nhân đến khám và điều trị.
Theo kết quả của nhiều nghiên cứu thì điếc đột ngột chiếm tỷ lệ từ 5 – 20
cas/100.000 người/năm [46], [51]. Tại Hoa Kỳ tỷ lệ mắc bệnh hàng năm
khoảng 5- 20 cas/100.000 dân [28], [37]. Theo một nghiên cứu tại bệnh viện
Tai Mũi Họng Tp Hồ Chí Minh (2005-2006) có 450 trường hợp [10].
Đến nay nguyên nhân trực tiếp gây bệnh vẫn chưa xác định rõ ràng và
đều được coi là bệnh vô căn. Các nguyên nhân gợi ý của điếc đột ngột vô căn
bao gồm: Nhiễm virus, tổn thương mạch máu, bệnh tự miễn của tai trong,do
vỡ màng ốc tai(màng Ressness). Trong số các nguyên nhân kể trên thì nguyên
nhân do virus chiếm từ 25-65 %, và cơ chế điếc đột ngột là do kháng thể chéo
với virus ở cơ quan Corti của tai trong, cho nên corticoid được xem là chủ lực
cho bệnh cảnh này [10], [36]. Đặc biệt sử dụng corticoid xuyên màng nhĩ sẽ
thấm qua cửa sổ bầu dục vào tai trong,giảm gắn kết kháng nguyên- kháng thể
1
Điếc đột ngột gây ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống sinh hoạt và giao
tiếp của con người.
Do căn nguyên và bệnh sinh của điếc đột ngột vẫn chưa rõ ràng và vấn
đề điều trị còn nhiều tranh luận. Với phương pháp điều trị mới bằng tiêm
- Ở Việt Nam những nghiên cứu về vấn đề này còn rất ít. Năm 1966 lần
đầu tiên tác giả Lê Sỹ Nhơn đã đưa ra một trường hợp lâm sàng của một bệnh
nhân nữ 19 tuổi bị điếc đột ngột tại khoa TMH bệnh viện Bạch Mai Hà Nội
được đăng trong cuốn “ Tai Mũi Họng tài liệu nghiên cứu ” [15] .
3
- Sau đó năm 2000 tác giả Phạm Trường Minh đã nghiên cứu đặc điểm
lâm sàng và đánh giá kết quả của điều trị điếc xảy ra đột ngột tại Viện TMH [21].
Đến năm 2006 tác giả Nguyễn Thuý Vân đã nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và đánh
giá hiệu quả điều trị điếc đột ngột bằng corticoid đường toàn thân và thuốc giãn
mạch tại Viện TMH Trung ương.Tác giả đã đưa ra các phương pháp xác định vị trí
tổn thương ở ốc tai hay sau ốc tai qua đo OAE và ABR [21].
- Trong một báo cáo trên tạp chí Tai Mũi Họng số 3 năm 2008, Nguyễn
Minh Hảo Hớn và cộng sự lần đầu tiên đánh giá việc điều trị điếc đột ngột ở
người lớn bằng tiêm Corticoid xuyên màng nhĩ tại bệnh viện TMH Tp Hồ Chí
Minh đã nhận thấy Corticoid xuyên màng nhĩ vẫn còn hiệu quả với bệnh nhân
mà phác đồ kinh điển thất bại. Năm 2010 Hồ Xuân Trung và cộng sự sau khi
nghiên cứu điều trị bệnh nhân điếc đột ngột tại khoa TMH bệnh viện Đà Nẵng
bằng tiêm Dexamethasone vào hòm nhĩ kết hợp với thuốc điều trị toàn thân
cũng có nhận xét như trên.
- Trong nghiên cứu này chúng tôi sau khi đã xác định vị trí tổn thương
tại ốc tai bước đầu tiến hành đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị tiêm
Dexamethasone xuyên màng nhĩ.
1.2. SƠ LƯỢC GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ CỦA TAI.
Tai là một cơ quan có cấu trúc phức tạp, về mặt giải phẫu thì tai gồm có
3 phần là tai ngoài, tai giữa và tai trong [18], [40].Trong đó tai ngoài và tai
giữa có chức năng hứng,hướng,khuyếch đại và dẫn truyền âm thanh vào tai
trong.Còn tai trong có chức năng tiếp nhận âm thanh,bên cạnh chức năng
nghe tai trong còn tham gia vào việc điều chỉnh thăng bằng cho cơ thể.
1.2.1. Tai ngoài
Tai ngoài gồm có vành tai và ống tai ngoài.
5
Hòm nhĩ là một hốc rỗng nằm trong phần đá của xương thái dương, có
hình thấu kính lõm 2 mặt, có 6 thành, phía trước thông với thành bên họng
mũi bởi vòi nhĩ, phía sau thông với hệ thống bào xương chũm bởi một cống
nhỏ gọi là sào đạo. Hòm nhĩ chứa hệ thống xương con.
Hình 1.1. Thiết đồ cắt ngang tai ngoài, hòm nhĩ và tai trong []
* Các thành của hòm nhĩ:
Thành ngoài: gồm 2 phần:
Phần trên: là tường xương gọi là tường thượng nhĩ, có dây chằng cổ
xương búa chia làm 2 ngăn: ngăn trên là Kretschman, ngăn dưới là Prussack.
6
Phần dưới: là màng nhĩ là màng mỏng,có màu xám, trong, có tính chất
dai và cứng. Màng nhĩ được chia làm 2 phần: phần trên là màng chùng
(Shrapnell) quan hệ trực tiếp với túi Prussack. Phần dưới là màng căng chiếm
¾ diện tích màng nhĩ. Đây là phần rung động của màng nhĩ.
Hình 1.2. Thành ngoài hòm nhĩ []
Thành trong hay thành mê nhĩ:
Giữa lồi lên gọi là ụ nhô do vòng thứ nhất ốc tai tạo nên.
Dưới ụ nhô: có lỗ của thần kinh Jacobson
Cửa sổ bầu dục: ở phái sau trên ụ nhô có đế xương bàn đạp gắn vào.
Hố nằm giữa cửa sổ tròn và cửa sổ bầu dục gọi là ngách nhĩ.
Lồi ống thần kinh mặt: do đoạn II của ống thần kinh mặt tạo nên, nằm
vắt ngay phía trên của cửa sổ bầu dục.
7
Hình 1.3. Thành trong hòm nhĩ [ ]
Để phục vụ cho mục tiêu của đề tài nghiên cứu, chúng tôi xin trành bày
thêm về giải phẫu và chức năng của cửa sổ tròn.
Cửa sổ tròn : cửa sổ tròn cùng với cửa sổ bầu dục là hai miệng để
vào tai trong.Cửa sổ tròn nằm ở dưới và sau một chút so với cửa sổ bầu dục,
giữa cửa sổ tròn và cửa sổ được phân cách bởi sườn sau của ụ nhô.Vị trí của
màng nhĩ ở trên, lỗ thông hòm nhĩ với vòi tai ở dưới. Dưới lỗ thông hòm nhĩ
với vòi tai là vách xương mỏng ngăn cách hòm tai với động mạch cảnh trong.
Thành sau hay thành chũm:
Ở trên có một ống thông với sào bào gọi là sào đạo. Trên thành trong
của sào đạo là lồi ống bán khuyên ngoài.
Mỏm tháp nằm ngay sau cửa sổ bầu dục và trước đoạn 3 của dây thần
kinh mặt, có gân cơ bàn đạp chui ra bám vào cổ xương bàn đạp.
* Các tầng hòm nhĩ: Hòm nhĩ được chia thành 3 tầng
Thượng nhĩ: Thượng nhĩ được chia làm 2 phần ngoài và trong. Chỉ có
thượng nhĩ trong thông với hạ nhĩ còn thượng nhĩ ngoài không thông với hạ
nhĩ. Thượng nhĩ rất kém thông khí, là nơi chứa xương con.
Hạ nhĩ: Là phần tai giữa nằm phía dưới sàn của ống tai xương.
Trung nhĩ: Nằm giữa thượng nhĩ và hạ nhĩ.
1.2.2.2.Màng nhĩ
Là một màng mỏng nhưng dai và chắc, che ở phía ngoài hòm nhĩ, ngăn
cách ống tai ngoài và tai giữa. Màng nhĩ có mầu hơi xám, sáng bóng.Màng
nhĩ có 2 hình dạng cơ bản, hình tròn và bầu dục.
Kích thước của màng nhĩ trung bình ở người Việt Nam:
Đường kính dọc: 8,65 ± 0,85 mm. Đường kính ngang qua rốn nhĩ :
7,72 ± 0,52 mm.
Mặt trong của màng nhĩ được gắn chặt với cán của xương búa cho tới
tận rốn nhĩ, điểm mà màng nhĩ nhô về phía hòm nhĩ.
10
Hình 1.4. Màng nhĩ [7]
Cấu tạo: Màng nhĩ gồm 2 phần là màng chùng và màng căng.
Màng chùng: là màng mỏng có hình tam giác ngăn cách với màng căng
bởi dây chằng nhĩ búa trước và nhĩ búa sau, qua rãnh Rivinus gắn trực tiếp
vào phần xương thành trên ống tai. Màng chùng cấu tạo gồm 2 lớp: lớp ngoài
tế bào biểu mô liên tiếp với tế bào biểu mô vảy của ống tai ngoài, lớp trong là
lớp tế bào trụ có lông chuyển.
động của màng nhĩ. Nếu không khí ở đấy giảm xuống thì sẽ làm cho màng nhĩ
bị lõm và rung động kém, tai sẽ nghe kém hoặc có tiếng ù.
1.2.3 Tai trong
12
1.2.3.1 Ốc tai xương
Là một ống xoắn ốc, hình nón cao khoảng 5 ly, đáy có đường kính xấp
xỉ 9 ly ở giữa có trụ ốc,xung quanh có ống xoắn ốc quấn thành hình xoắn,dài
32 ly.Nó gồm 2 vòng rưõi, xoắn quanh một hình chóp nón rỗng gọi là trụ ốc.
Ốc tai được chia làm 2 vịn:
-Vịn tiền đình ở trên, vịn nhĩ ở dưới, hai vịn này thông với nhau ở
chỏm của ốc tai. Vịn tiền đình có cửa sổ bầu dục và đế xương bàn đạp bịt
lại,trong vịn tiền đình có chứa ống ốc tai, trong ống ốc tai có chứa nội dịch.
- Vịn nhĩ lồi vào tai giữa thành ụ nhô,ở bên có cửa sổ tròn, có màng nhĩ
phụ bịt kín [3], [18], [40].
Hình 1.5. Mê nhĩ xương bên phải đã phẫu tích: mê nhĩ màng đã lấy đi[ ]
13
Ốc tai xương bọc ngoài ốc tai màng,có cấu trúc in khớp, giữa ốc tai
xương và ốc tai màng có chứa ngoại dịch.
Ốc tai cho ta biết cường độ và âm sắc của tiêng động.
1.2.3.2 Ốc tai màng
Còn gọi là ống ốc tai, chứa đựng bộ phận chủ yếu tiếp nhận âm thanh là
cơ quan Corti.
Ống ốc tai có hình trụ tam giác, nằm trong vịn tiền đình, có ba thành.
- Thành trên là màng Reissner
Hình 1.6. Thiết đồ cắt ngang ống ốc tai.[ ]
- Thành dưới là màng đáy dài khoảng 30-35mm, ở đáy ốc tai hẹp và dầy,
càng lên cao càng rộng và mỏng (chiều rộng ở đáy khoảng 150 micro met, ở
đỉnh ≈ 450 µm). Cấu trúc như vậy làm hco nó tiếp nhận âm thanh theo tần số
14
sóng âm ở từng vùng. Nhìn chung âm thanh có tần số cao được tiếp nhận ở
- Tế bào lông trong: Có khoảng 4500 tế bào, đó là các tế bào hình trụ,
đầu nhỏ xếp thành một dãy ở phía trong trụ trong.
- Tế bào lông ngoài: Có khoảng 12.000 – 20.000 tế bào, hình trụ đầu to,
xếp thành 3 dãy ở phía ngoài trụ ngoài.
Ốc tai được chi phối bởi 3 sợi dây thần kinh: Tự động,hướng tâm và ly
tâm. Thần kinh tự động thường đi kèm với các mạch máu và thần kinh của trụ
ốc tai và mảnh xoắn.
16
- Tế bào lông trong và tế bào lông ngoài của cơ quan Corti được chi
phối bởi hai loại thần kinh là hướng tâm và ly tâm.
Có 90% các sợi hướng tâm tạo Synape trực tiếp với đáy tê bào lông
trong còn lại 10 % cho tế bào lông ngoài.
Các sợi ly tâm tạo Synape trực tiếp với tế bào lông ngoài, không trực
tiếp với tế bào lông trong mà nó tạo Synape với phần tận cùng của sợi hướng
tâm. Vai trò của các sợi ly tâm là ức chế những điểm khác nhau của cơ quan
Corti, điều này giúp ta có thể hướng sự chú ý vào các âm nhất định và bỏ qua
các âm khác.
1.2.3.3. Dịch mê nhĩ
+ Ngoại dịch: Nằm trong khoang ngoại dịch giữa mê nhĩ xương và mê
nhĩ màng,tức là nằm xung quanh ống bán khuyên màng, xung quanh cầu
nang, xoan nang, ở vịn tièn đình và vịn nhĩ.
+ Nội dịch: Ở trong mê nhĩ màng, trong xoan nang, trong cầu nang,
trong ống và túi nội dịch,trong ống ốc tai, ống bán khuyên màng.Nội dịch
được sản xuất bởi vân mạch [13], [40].
1.2.4. Động mạch cấp máu cho ốc tai
Động mạch tai trong có thể tách trực tiếp từ động mạch thân nền hoặc
từ một nhánh một nhánh của động mạch than nền là động mạch tiểu não trước
dưới. Sau khi cấp máu cho dây thần kinh số VIII, động mạch tai trong đi tiếp
bằng một mạch máu nhỏ đường kính khoảng 200 micromet rồi phân thành 3
nhánh tận cấp máu cho mê nhĩ màng [23], [40].
Sinh lý nghe tiếp âm:
• Sự pháp sịnh xung động từ ốc tai:
Trong loa đạo luôn có điện thế thường xuyên, khi kích thích âm sẽ xuất
hiện điên thế vi âm và điện thế tập hợp dẫn đến sự giải phóng các chất trung
gian hoá học trong các tế bào long làm xuất hiện điện thế hoạt động ở khớp
thần kinh. Điện thế hoạt động truyền qua sợi thần kinhvà chuyển thành luồng
thần kinh.
• Đường dẫn truyền thần kinh thính giác:
Sau khi năng lượng của song âm được truyền vào ngoại dịch của tai
trong qua cửa sổ bầu dục, năng lượng của song âm này sẽ tác động lên cơ
quan Corti và cơ quan Corti sẽ chuyển chúng thành các xung động thần
19
kinhtheo các sợi trục của các tế bào long, tập trung về hạch Corti rồi dẫn
truyền theo bó loa đạo của dây thần kinh số VIII, đi trong ống tai trong vào
than não than não. O than não,bó loa đạo chia làm nhiều bó nhỏ đi dến nhiều
nhân thần kinh như nhân ốc lưng, nhân ốc bụng, phức hợp tram trên, củ não
sinh tư dưới và cuối cùng tập trung lại đi theo thuỳ thái dương một và hai của
vỏ não, đó là trung khu phân tích thính giác[3], [13], [40] .
1.4 BỆNH HỌC ĐIẾC ĐỘT NGỘT
1.4.1 Nguyên nhân điếc đột ngột
Điếc đột ngột có thể xảy ra do tổn thương tại ốc tai hoặc dây thần kinh
thính giác hay tổn thương thần kinh trung ương.
1.4.1.1 Nguyên nhân do ốc tai
Đến nay đã có rât nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân gây ra
điếc đột ngột nhưng vấn đề này vẫn còn nhiều khó khăn, phần lớn các trường
hợp không tìm thấy nguyên nhân.Một số giả thuyết về nguyên nhân bệnh sinh
được nhiều tác giả nhắc đến đó là: Thuyết do virus, dp mạch máu, do miễn
dịch…
• Do virus:
Wilson và cộng sự (1983) [55] nghiên cứu trên 122 bệnh nhân bị điếc
- Tăng huyết áp
- Bẹnh Berger
- Bệnh máu tăng đông
- Tăng độ nhớt của máu
21
Các bệnh lý này có thể gây ra hiện tượng tắc mạch,co thắt mạch, hoặc
vỡ mạch ở ốc tai dẫn đến điếc đột ngột.
• Do nguyên nhân miễn dịch:
Điếc đột ngột có thể gặp trên những bệnh nhân bị Luput, viêm nút
quanh động mạch hay hội chứng Cogan.Theo McCabe điếc đột ngột có lien
quan đến bệnh tư miễn ở tai trong.Test ức chế miễn dịch dương tính ở những
bệnh nhân nghiên cứu, và việc điều trị bằng corticoid có kết quả tốt cũng
chứng minh cho giả thuyết này.
• Do nhiễm độc:
- Nhiễm độc do thuốc đứng hang đầu, trong đó chủ yếu là nhiễm độc
kháng sinh nhóm Aminozid.Do sự lắng đọng của thuốc trong nội
dịch tai tronggây ra những hậu quả kéo dài ngay cả khi đã ngừng sử
dụng thuốc.
- Nhiễm độc do rượu
- Nhiễm độc do thuốc lá
• Do rối loạn chuyển hoá:
Các nguyên nhân gây ra rối loạ chuyể hoá toàn thể:
- Suy thận
- Nhiễm toan máu do nguyên nhân tại thận
- Đái tháo đường
- Tăng lipid máu
- Suy giáp trạng
Các rối loạn chuyển hoá thường đưa đến ting trạng thiếu máu của tai
trong hoặc gây tình trạng nhiễm độc tai trong.
• Do các bệnh máu
- Thiểu năng tuần hoàn : Động mạch cột sống than nền
- Khối u hành não cầu
- U củ não sinh tư
- Bệnh xơ cưng rải rác
1.4.1.3 Điếc đột ngột không tìm thấy nguyên nhân (Idiopathic)
Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu về nguyên nhân điếc đột ngột, nhưng
phần lớn các trường hơp không tìm thấy nguyên nhân. Người ta ước tính có
tới 90 % các trường hợp điếc độy không tìm thấy nguyên nhân.Nhưng có một
số giả thuyết về nguyên nhân bệnh sinh được nhiều người nhắc đến là: Thuyết
do virus, do mạch máu, do rách màng ốc tai và do nguyên nhân tự miễn.
1.4.2. Chẩn đoán
1.4.2.1 Lâm sàng
- Nghe kém: là triệu chứng chủ yếu, nghe kém ở 1 hoặc 2 bên tai, xuất
hiện một cách đột ngột. Người bệnh mô tả một cach chính xác ngày giờ họ
thấy xuất hiện nghe kém. Bệnh thường xảy ra vào ban đêm hoặc lúc buỏi sang
ngủ dậy. Đa số nghe kém xuất hiện và tiến triển nhanh trong vòng vài phút đến
vài giờ. Cũng có khi nghe kém xuất hiện rồi tăng dần trong vòng một vài ngày.
Nghe kém ở nhiều mức độ khấc nhau, đa số là điếc nặng có khi là điếc đặc.
- Các triệu chứng đi kèm:
*Ù tai: Ù tai là triệu chứng gây khó chịu nhất cho người bệnh, có thể ù
tai tiếng trầm, nhưng đa số là ù tai tiếng cao như tiếng ve kêu, tiếng còi tàu…
Ù tai thường xuất hiện cùng với nghe kém nhưng có khi ù tai xuất hiện
trước nghe kém
24
• Chóng mặt: Có thể có bệnh nhân bị chóng mặt quay thật sự nếu có
tổn thương ở phần tiiền đình ngoại biên, hoặc chỉ có thể là mất cảm
giác thăng bằng hay bồng bềnh như say song nếu tổn thương phần
tiền đình trung ương.
• Cảm giác đầy tai: Người bệnh mô tả như bị đút nút tai.
• Ngoài ra có thể gặp : Đau tai, sốt, đau đầu