nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, thính lực và đánh giá kết quả điều trị điếc đột ngột bằng thuốc giãn mạch và corticoid - Pdf 23

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Điếc đột ngột (ĐĐN) là một cấp cứu trong chuyên khoa Tai Mũi Họng.
Mặc dù được biết từ rất lâu nhưng cho đến nay vấn đề chẩn đoán nguyên
nhân, điều trị vẫn còn nhiều tranh luận và đang tiếp tục được nghiên cứu.
Hiện nay các tác giả đều thống nhất về định nghĩa của ĐĐN như sau: là một
điếc tiếp nhận, thính lực giảm từ 30 dB trở lên với ít nhất ở 3 tần số liên tiếp
nhau và mới xuất hiện trong vòng 72 giờ, ở những bệnh nhân không có tiền
sử bệnh về tai [40], [73].
Điếc đột ngột thường xuất hiện ở một tai, nhưng đôi khi cũng xuất hiện
cả hai tai (khoảng 2%) và thường kết hợp với các triệu chứng khác như ù tai,
chóng mặt, cảm giác đầy nặng trong tai. [29][34]
Tại Hoa Kỳ tỷ lệ mắc bệnh hàng năm khoảng 5- 20 ca /100.000 dân
[39], [43]. Tại Việt Nam chưa có số liệu thống kê tỷ lệ bệnh. Theo một nghiên
cứu tại bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương trong vòng 6 tháng (từ 3 -
9/2011) có 168 bệnh nhân được chẩn đoán ĐĐN [20]. Theo một nghiên cứu
khác ở bệnh viện Tai Mũi Họng, Tp Hồ Chí Minh trong 2 năm (2005-2006)
có 450 trường hợp được chẩn đoán ĐĐN [10].
Điếc đột ngột có thể là triệu chứng của các bệnh như chấn thương, khối
u v.v Tuy nhiên trong lâm sàng phần lớn các trường hợp ĐĐN không xác
định được nguyên nhân còn gọi là điếc vô căn. Theo một số các tác giả [35],
[62] nguyên nhân nhiễm virus chiếm từ 25-65 % và cơ chế bệnh sinh liên
quan đến miễn dịch do kháng thể chéo với virus ở cơ quan Corti tạo phức hợp
kháng nguyên – kháng thể.
Điều trị ĐĐN cần phải tiến hành nhanh chóng và kịp thời nhằm hồi phục
sức nghe và khả năng giao tiếp cho người bệnh.
2
Điều trị ĐĐN có nhiều phương pháp như bằng thuốc, oxy cao áp…
Trong đó điều trị bằng thuốc là chủ yếu nhằm mục đích chống viêm, chống dị
ứng, chống co thắt, giãn mạch… Thuốc corticoid là thuốc chính trong điều trị
theo các hình thức như: đường toàn thân (tiêm tĩnh mạch, uống), tại chỗ (tiêm

ĐĐN, nhưng ông cũng phải công nhận rằng việc xác định nguyên nhân gây ra
ĐĐN là rất khó khăn [60], [73].
- Nhiều năm tiếp theo, các tác giả như Citelli (1926), Collet (1933),
Derleyn (1944), Fowler (1950), Hilger (1950) cũng đã dầy công nghiến cứu
về ĐĐN. Họ nhận thấy có một sự liên quan giữa ĐĐN và thiếu máu mê nhĩ
[28], [30].
- Bên cạnh đó các công trình nghiên cứu của các nhà tai học khác như :
Belal A. (1980), Byn F.M (1984), Byrre (1987), John Booth (1987), Gulya
(1994) [23], [24], đã góp phần làm cho bệnh cảnh lâm sàng của ĐĐN được
mô tả ngày càng đầy đủ hơn.
- Năm 1980 tác giả Wilson lần đầu tiên dùng corticoid đối với ĐĐN. Sau
đó có nhiều nghiên cứu cũng đã chứng minh hiêụ quả của corticoid trong hồi
phục thính lực [57], [58].
- Năm 1991 Itoh là người đầu tiên đưa ra báo cáo về việc điều trị bệnh
Menière bằng phương pháp tiêm corticoid vào hòm nhĩ. Sau đó 5 năm
Silverstein đưa ra báo cáo về việc điều trị ĐĐN bằng cách tiêm corticoid vào
hòm nhĩ [58].
1.1.2 Việt Nam
- Ở Việt Nam những nghiên cứu về vấn đề này còn rất ít. Năm 1966 lần
đầu tiên tác giả Lê Sỹ Nhơn đã đưa ra một trường hợp lâm sàng của một bệnh
4
nhân nữ 19 tuổi bị ĐĐN tại khoa TMH bệnh viện Bạch Mai Hà Nội được
đăng trong cuốn “Tai Mũi Họng tài liệu nghiên cứu” [16] .
- Năm 2000 Phạm Trường Minh đã nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và
đánh giá kết quả của điều trị điếc xảy ra đột ngột tại Viện TMH [14]. Năm 2006 tác
giả Nguyễn Thuý Vân đã nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và đánh giá hiệu quả điều
trị ĐĐN bằng corticoid đường toàn thân và thuốc giãn mạch tại Viện TMH Trung
ương [24].
1.2. SƠ LƯỢC GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ CỦA TAI.
Tai là một cơ quan có cấu trúc phức tạp, về mặt giải phẫu thì tai gồm có

trí của cửa sổ tròn chính là đáy của một lõm hình phễu (hố cửa sổ tròn) mà
xung quanh là xương của ốc tai xương. Ở trạng thái bình thường cửa sổ tròn
được đậy bởi một màng, còn được gọi là màng nhĩ phụ hay màng cửa sổ tròn.
Từ hòm nhĩ có thể nhìn thấy phần trung tâm màng cửa sổ tròn bị lõm, và lồi
về phía ốc tai so với viền cửa sổ.
Màng nhĩ phụ hay màng cửa sổ tròn được cấu tạo bởi 3 lớp sau :
- Lớp ngoài hay còn được biết là lớp niêm mạc, nó có nguồn gốc là lớp
niêm mạc của hòm nhĩ.
- Lớp giữa là lớp xơ.
- Lớp trong là màng lót của ốc tai.
Cả hai cửa sổ bầu dục và cửa sổ tròn có kích cỡ tương tự nhau, xấp xỉ
2,5 mm
2
. Lối vào của hố cửa sổ tròn thì thường nhỏ hơn so với kích cỡ này.
Chức năng của cửa sổ tròn
Sự dẫn truyền qua chuỗi xương con làm thay đổi áp lực ở cửa sổ bầu
dục, tạo nên sự di chuyển của ngoại dịch từ vịn tiền đình đến vịn nhĩ. Sự lệch
pha của cửa sổ bầu dục và màng nhĩ phụ (Scarpa) ở cửa sổ tròn tạo nên sự
dịch chuyển của ngoại dịch, gây nên các rung động. Các rung động này được
truyền tiếp đến cơ quan Corti, hoạt động điện sinh học của cơ quan Corti tập
hợp thành các kích thích nghe được chuyển qua thần kinh VIII lên vỏ não.
7
Hình 1.3. Hình ảnh minh họa cơ chế hoạt động của ốc tai
1.2.2. Tai trong
Trong phần giải phẫu và chức năng tai trong chúng tôi xin phép chỉ
trình bày phần giải phẫu và chức năng của ốc tai, và đặc biệt là ốc tai màng
nơi có chứa cơ quan tiếp nhận âm thanh, động mạch cấp máu cho ốc tai, thần
kinh ốc tai.
1.2.2.1. Ốc tai màng
Còn gọi là ống ốc tai, chứa đựng bộ phận chủ yếu tiếp nhận âm thanh là

M ng mà ái
Sợi TB lông trong
TB lông trong
Các TBtrụ
9
Là bộ phận chủ yếu của cơ quan thính giác, nằm trong nội dịch của ống
ốc tai, ở trên màng đáy và có cấu trúc phức tạp, bao gồm các thành phần:
+ Màng mái: Là một phần của màng xoắn trên toàn bộ chiều dài của cơ
quan Corti, có chiều rộng và dày tăng dần từ đáy lên đỉnh ốc tai. Phía trong
màng mái có một trụ rung chuyển, trụ này lệch vào phía trong so với trụ màng
đáy để tạo ra sự di chuyển các lông của tế bào thần kinh ở màng mái. Màng
mái nằm dựa nhẹ lên các tế bào lông của cơ quan Corti, có một khoảng cách
để đảm bảo sự rung động của các lông tế bào thần kinh này.
+ Các trụ: Tạo thành khung ở giữa cơ quan Corti, được sắp xếp thành
hai dãy trụ: Các trụ trong và trụ ngoài, các trụ này khi lên trên chúng hội tụ lại
thành một khoang hình tam giác gọi là đường hầm Corti [11], [21].
+ Các tế bào nâng đỡ gồm:
- Tế bào nâng đỡ trong: Đi từ chân màng mái tới tựa vào trụ trong. Đầu
trên của tế bào này cùng với đầu trên của trụ trong tạo thành yếu tố nâng đỡ
bao quanh tế bào lông trong.
- Các tế bào nâng đỡ ngoài: Ở ngoài trụ ngoài gồm các lớp tế bào :
* Tế bào Deiters
* Tế bào Hansen
* Tế bào Claudius
+ Các tế bào giác quan: Gồm các tế bào lông trong và tế bào lông ngoài.
- Tế bào lông trong: Có khoảng 4500 tế bào, đó là các tế bào hình trụ,
đầu nhỏ xếp thành một dãy ở phía trong trụ trong.
- Tế bào lông ngoài: Có khoảng 12.000 – 20.000 tế bào, hình trụ đầu to,
xếp thành 3 dãy ở phía ngoài trụ ngoài.
10

cầu nang rồi chia làm 2 nhánh, một nhánh chạy vào thân và phần sau của
xoan nang, đầu và bóng của ống bán khuyên đứng ngang, một nhánh đến
vòng xoắn ốc tai.
- Động mạch ốc tai riêng : Đi vào trụ ốc cấp máu cho động mạch dây
chằng xoắn ( động mạch vằn mạch) liên quan với vằn mạch và cho động mạch
hạch xoắn, cuối cùng cho một nhánh nối với động mạch tiền đình - ốc tai.
Ốc tai được cấp máu bởi một mạch máu nhỏ và rất ít nhánh nối, do đó
phần ốc tai có thể bị đe doạ khi một trong những động mạch sau bị thiếu máu:
Động mạch tai trong, động mạch tiểu não trước dưới, động mạch thân nền
hoặc động mạch đốt sống.
12
Hình 1.7 Các động mạch ốc tai riêng.[71]
1.2.2.4. Dây thần kinh ốc tai
+ Dây thần kinh ốc tai: Dây thần kinh ốc tai có nguyên uỷ từ các hạch
xoắn, từ các hạch này các tế bào hướng tâm 2 cực cho sợi đi ra các tế bào
lông trong và tế bào lông ngoài để cảm giác âm thanh, còn các sợi đi vào tạo
thành các dây nhỏ qua trụ ốc tai tới đáy ống tai trong tụ họp thành dây thần
kinh ốc tai.
Phần ốc tai và tiền đình của dây VIII nằm trong một bao chung trong
ống tai trong, có liên quan đến dây thần kinh mặt, sau đó thoát ra ở lỗ tai
trong rồi đến hành tuỷ, [11], [21].
Tĩnh mạch ốc
tai sau
Tĩnh mạch ốc tai
trước
Tiểu động mạch hạch
xoắn
Động mạch ốc
tai
Tiểu ĐM dây

TK tiền đình dưới
Ống nội bạch huyết
Ống BK sau
Bóng màng sau
Ống màng chung
Hạch tiền đình
Ống BKtrên
14
• Đường dẫn truyền thần kinh thính giác từ dây thần kinh ốc
tai, qua thân não lên vỏ não.
+ Dây thần kinh ốc tai
Dây thần kinh có nguyên uỷ từ các hạch xoắn, từ các hạch này các tế
bào hướng tâm hai cực cho các sợi đi ra các tế bào lông trong và lông ngoài
để cảm giác âm thanh, còn các sợi đi vào tạo thành các sợi nhỏ qua trụ ốc tai
tới đáy ống tai trong tụ họp thành dây thần kinh ốc tai.
Phần ốc tai và tiền đình của dây VIII nằm trong một bao chung trong
ống tai trong, có liên quan với dây thần kinh mặt, sau đó thoát ra ở lỗ tai trong
rồi đi đến hành tuỷ.
+ Đường dẫn truyền thính giác từ thân não lên vỏ não
* Nhân ốc tai.
- Nhân ốc tai là trạm dừng bắt buộc đầu tiên của tất cả các sợi hướng
tâm đi vào từ dây ốc tai. Nó nằm ở hai bên rãnh hành cầu và phía ngoài điểm
vào của dây thần kinh VIII.
- Nhân ốc tai được chia làm hai nhóm chính là nhân ốc tai lưng và nhân
ốc tai bụng. Nhân ốc tai bụng lại chia làm hai nhóm phụ là nhân ốc tai bụng
trước và nhân ốc tai bụng sau.
+ Nhân ốc tai bụng là chặng dừng chân của các sợi thần kinh nhận cảm
giác âm thanh ở tần số thấp.
+ Nhân ốc tai lưng là chặng dừng chân của các sợi thần kinh nhận cảm
giác âm thanh ở tần số cao.

16
Hình 1.9 Đường dẫn truyền thính giác lên não [52]
1.4. BỆNH HỌC ĐIẾC ĐỘT NGỘT
1.4.1. Nguyên nhân ĐĐN
ĐĐN có thể xảy ra do tổn thương tại ốc tai hoặc dây thần kinh thính
giác hay tổn thương thần kinh trung ương.
1.4.1.1 Nguyên nhân tại ốc tai
Đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân gây ra
ĐĐN nhưng vấn đề này vẫn còn nhiều khó khăn, phần lớn các trường hợp
không tìm thấy nguyên nhân. Một số giả thuyết về nguyên nhân bệnh sinh được
nhiều tác giả nhắc đến đó là: Thuyết do virus, do mạch máu, do miễn dịch…
Neuron loại 1
Thần kinh
TĐ – OT
Cấu trúc lưới Phức hợp trám trên

Nhân Ốc tai
Củ não sinh tư trên
Thể gối giữa
Cấu trúc lưới
Vỏ não thuỳ thái
dương
17
• Do virus:
Wilson và cộng sự (1983) [69] nghiên cứu trên 122 bệnh nhân bị ĐĐN và
thấy rằng có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm bị nhiễm virus và nhóm chứng.
Những nghiên cứu trên xương thái dương của Schuknecht [53] cho thấy
rằng có mối liên quan giữa ĐĐN và tình trạng nhiễm virus. Người ta đã tìm thấy
virus hoặc kháng thể kháng virus trong ngoại dịch của bệnh nhân bị ĐĐN.
Trên thế giới đã có tác giả phân lập và nuôi cấy được virus quai bị

nội hay ngoại dịch ).
- Co thắt động mạch dây chằng xoắn : kết quả gây tăng xuất tiết nội
dịch làm cho ốc tai màng sũng nước. Áp xuất nội dịch cao có thể tràn vào tiền
đình do hỏng van ngăn cách giữa ốc tai và tiền đình. Loại này trên thính lực
đồ thấy sức nghe giảm nhiều ở các tần số trầm, bệnh nhân có ù tai, cảm giác
đầy tai hoặc tức nặng trong tai.
- Co thắt động mạch ốc tai riêng : gây điếc hoàn toàn tai trong, kèm
theo bệnh nhân có hiện tượng nghe đôi và hồi thính.
• Do nguyên nhân miễn dịch:
ĐĐN có thể gặp trên những bệnh nhân bị Luput, viêm nút quanh động
mạch hay hội chứng Cogan. Theo McCabe ĐĐN có liên quan đến bệnh tự
miễn ở tai trong. Test ức chế miễn dịch dương tính ở những bệnh nhân nghiên
cứu, và việc điều trị bằng corticoid có kết quả tốt cũng chứng minh cho giả
thuyết này.
• Do nhiễm độc:
- Nhiễm độc do thuốc đứng hang đầu, trong đó chủ yếu là nhiễm độc
kháng sinh nhóm Aminozid. Do sự lắng đọng của thuốc trong nội
19
dịch tai trong gây ra những hậu quả kéo dài ngay cả khi đã ngừng sử
dụng thuốc.
- Nhiễm độc do rượu
- Nhiễm độc do thuốc lá
• Do rối loạn chuyển hoá:
Các nguyên nhân gây ra rối loạ chuyể hoá toàn thể:
- Suy thận
- Nhiễm toan máu do nguyên nhân tại thận
- Đái tháo đường
- Tăng lipid máu
- Suy giáp trạng
Các rối loạn chuyển hoá thường đưa đến tình trạng thiếu máu của tai

- Khối u hành não cầu
- U củ não sinh tư
- Bệnh xơ cưng rải rác
1.4.1.3 Điếc đột ngột không tìm thấy nguyên nhân (Idiopathic)
Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu về nguyên nhân ĐĐN, nhưng phần lớn
các trường hợp không tìm thấy nguyên nhân. Người ta ước tính có tới 90 %
các trường hợp ĐĐN không tìm thấy nguyên nhân. Nhưng có một số giả
thuyết về nguyên nhân bệnh sinh được nhiều người nhắc đến là: do nhiễm
virus, co thắt mạch máu tai trong, chấn thương vi thể ốc tai và do nguyên
nhân miễn dịch.
21
1.4.2. Chẩn đoán
1.4.2.1 Lâm sàng
 Nghe kém: là triệu chứng chủ yếu, nghe kém ở 1 hoặc 2 bên tai,
xuất hiện một cách đột ngột. Người bệnh mô tả một cách chính xác ngày giờ
họ thấy xuất hiện nghe kém. Bệnh thường xảy ra vào ban đêm hoặc lúc buổi
sáng ngủ dậy. Đa số nghe kém xuất hiện và tiến triển nhanh trong vòng vài phút
đến vài giờ. Cũng có khi nghe kém xuất hiện rồi tăng dần trong vòng một vài
ngày. Nghe kém ở nhiều mức độ khác nhau, đa số là điếc nặng có khi là điếc
đặc.
- Các triệu chứng đi kèm:
 Ù tai: Ù tai là triệu chứng gây khó chịu nhất cho người bệnh, có thể
ù tai tiếng trầm như tiếng xay lúa, nhưng đa số là ù tai tiếng cao như tiếng ve
kêu, tiếng còi tàu…
Ù tai thường xuất hiện cùng với nghe kém nhưng có khi ù tai xuất hiện
trước nghe kém
 Chóng mặt: Có thể có bệnh nhân bị chóng mặt quay thật sự nếu có
tổn thương ở phần tiiền đình ngoại biên, hoặc chỉ có thể là mất cảm giác
thăng bằng hay bồng bềnh như say sóng nếu tổn thương phần tiền đình trung
ương.

Response )
Đây là một test cho phép đánh giá sức nghe ở 4 tần số, đồng thời cả hai
tai hoặc một tai tuỳ vào lựa chọn. Nhanh chóng thu được kết quả dưới dạng
23
thính lực đồ. ASSR giúp xác định các bệnh lý khó trong hệ thống thính giác
như, u dây thần kinh thính giác, bệnh lý không đồng bộ của hệ thống thính
giác… Đây là test áp dụng rất tốt cho nghe kém trẻ sơ sinh và người lớn bị
chậm hay trì chệ phát triển tâm thầm.
• Chụp cắt lớp vi tính xương thái dương
- Trong trường hợp ĐĐN là một triệu chứng trong giai đoạn sớm của u dây
thần kinh thính giác, khi chụp CT có thể thấy hình ảnh ống tai trong dãn rộng.
• Chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI)
Đây là một thăm dò chức năng mang lại nhiều lợi ích trong chẩn đoán
nguyên nhân:
- Chụp MRI được coi là tiêu chuẩn vàng trong việc chẩn đoán các khối
u dây VIII, khối u góc cầu tiểu não, hay u hố não sau.
- Ngoài ra chụp MRI còn phát hiện ra các nguyên nhân khác như : Bệnh
xơ cứng rải rác, viêm mê nhĩ….
• Siêu âm Doppler mạch máu cổ
- Thăm dò này giúp phát hiện hình ảnh phình tách đốt sống hay hẹp
động mạch thân nền gây thiếu máu cung cấp cho ốc tai.
• Các xét nghiệm sinh hoá
- Các xét nghiệm này cho phép xác định các yếu tố nguy cơ về mạch
máu như : rối loạn đông máu, mỡ máu, đường máu, protide máu…
1.4.4. Các dạng thính lực đồ
Các dạng thính lực đồ được Pignal [74] phân loại như sau:
- Thính lực đồ dạng đi lên:
Biểu đồ thính lực có dạng đi lên, thính lực giảm nhiều ở các tần số trầm,
giảm ít ở các tần số cao (hình 1.10). Do tổn thương các tế bào vùng đỉnh nhiều
hơn vùng đáy. Người bệnh nghe kém hơn ở các âm trầm và tốt hơn ở các âm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status