1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm loét đại trực tràng chảy máu (VLĐTT chảy máu) là bệnh mạn
tính, kéo dài, hay tái phát, gây nhiều biến chứng và có tỷ lệ tử vong cao. Bệnh
được biết đến từ lâu nhưng nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh hiện nay vẫn
chưa rõ ràng.
VLĐTT chảy máu có tỷ lệ thay đổi theo chủng tộc người và tuỳ từng
vùng địa lý khác nhau. Bệnh hay gặp ở người da trắng và người Do thái [3].
Hiện nay bệnh khá phổ biến ở các nước châu Âu và châu Mỹ nhưng hiếm gặp
ở châu Phi, châu Á. Tỷ lệ mới mắc VLĐTT chảy máu ở Mỹ là 15/100.000
dân/năm và tỷ lệ mắc chung là 200/100.000 dân [1]. Thời gian gần đây bệnh
đang có xu hướng tăng lên tại các nước châu Á, trong đó có Việt Nam và trở
thành mối quan tâm của nhiều thầy thuốc, đặc biệt là thầy thuốc chuyên
ngành tiêu hoá.
Tại Việt Nam, trong thập kỷ 70 - 80, bệnh VLĐTT chảy máu không
phải là một bệnh thường gặp. Trong nghiên cứu của Vũ Văn Khiên và Khúc
Đình Minh năm 2007, VLĐTT chảy máu chiếm khoảng 1,7% trong số các
bệnh nhân được soi ĐT [2]. Bệnh VLĐTT chảy máu thường xảy ra ở người
trẻ tuổi với bệnh cảnh lâm sàng đa dạng, phong phú từ mức độ nhẹ đến nặng,
tiến triển thành từng đợt để lại nhiều biến chứng trầm trọng như chảy máu,
phình ĐT nhiễm độc, viêm phúc mạc, suy kiệt do mất máu kéo dài, hẹp ĐT,
thủng ĐT, ung thư hóa…. Việc theo dõi tiên lượng và điều trị còn khó khăn.
Có nhiều yếu tố gây ra những đợt tái phát này như bệnh nhân bỏ thuốc, dùng
thuốc không đủ liều, nhiễm trùng hoặc stress tâm lý…. Ngoài các thuốc điều
trị, chế độ ăn uống và sinh hoạt của bệnh nhân cũng đóng một vai trò quan
trọng. Đối với bệnh nhân VLĐTT chảy máu mức độ nhẹ, vừa thường có thể
tự nuôi dưỡng với chế độ ăn thức ăn mềm, hạn chế chất xơ tạm thời. Với bệnh
2
1.1. Đại cương
1.1.1. Khái niệm về Viêm loét đại trực tràng chảy máu (VLĐTT chảy máu)
Bệnh viêm ruột (Inflammatory Bowel Diseases - IBD) gồm hai thể bệnh
chính là: viêm loét đại trực tràng chảy máu và Crohn.
Viêm loét đại trực tràng chảy máu là một thể bệnh của IBD, với đặc
điểm có các đợt viêm tái phát niêm mạc đại tràng không liên quan tới nhiễm
trùng đường tiêu hoá hoặc sử dụng thuốc chống viêm không steroid [6]. Đây
là bệnh viêm mạn tính có tính chất tự miễn, gây loét, chảy máu đại trực tràng,
tổn thương chủ yếu ở trực tràng và đại tràng phải.
VLĐTT chảy máu được R.Bensaude và J.Rachet mô tả từ năm 1935
nhưng có nhiều vấn đề tranh cãi với bệnh viêm đại tràng do vi khuẩn và sau
này được coi là bệnh riêng biệt với những tiêu chuẩn cụ thể về lâm sàng,
nội soi. Bệnh được sử dụng trong thực hành lâm sàng với nhiều danh từ:
viêm loét đại tràng, viêm đại trực tràng chảy máu hoặc viêm loét đại trực
tràng chảy máu không có nguyên nhân hoặc không đặc hiệu, nhưng các tác
giả thống nhất cách sử dụng hoàn chỉnh nhất là “viêm loét đại trực tràng
chảy máu” vì tên gọi này nêu lên đặc điểm quan trọng của bệnh như: viêm,
loét, chảy máu [7].
VLĐTT chảy máu là bệnh viêm mạn tính có tính chất tự miễn, gây tổn
thương lớp niêm mạc và dưới niêm mạc loét và chảy máu đại trực tràng. Vị trí
tổn thương chủ yếu ở trực tràng và giảm dần cho đến đại tràng phải.
4
1.1.2. Dịch tễ học
1.1.2.1. Trên thế giới
Tỷ lệ mắc bệnh VLĐTT chảy máu khác nhau tuỳ từng vùng địa lý, phụ
thuộc vào chủng tộc người và ngày càng có xu hướng gia tăng [8].
Bệnh phổ biến ở người da trắng hơn người da mầu. Người Do thái có tỷ
2001
1997
57,1/100.000
7,57/100.000
2001
14,5/100.000
2000
6,0/100.000
- Tỷ lệ mắc bệnh nam/nữ xấp xỉ bằng 1 [3]. Bệnh hay gặp ở lứa tuổi trẻ
dưới 40, đôi khi có tính chất gia đình [13]. Thời điểm khởi phát bệnh hay gặp
nhất là từ 15 – 40 tuổi [10]. Tuy nhiên, bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ tuổi nào,
có khoảng > 15% số bệnh nhân ở thời điểm chẩn đoán có tuổi trên 60 tuổi
5
[14]. Tỷ lệ tử vong do VLĐTT chảy máu ngày nay đã giảm đi nhiều so với
trước đây do có nhiều tiến bộ về chẩn đoán và điều trị.
1.1.2.2. Tại Việt Nam
Trước đây bệnh VLĐTT chảy máu không thường gặp có lẽ do bệnh
chưa được chú ý và cũng chưa có thăm dò đủ để chẩn đoán. Gần đây bệnh có
xu hướng gia tăng, nhưng chưa có nghiên cứu nào trong nước xác định rõ tỷ
lệ mà chỉ tập chung báo cáo, thống kê số lượng bệnh nhân đến nhập viện, tỷ lệ
mắc bệnh giữa nam/nữ, đặc điểm bệnh và kết quả điều trị. Theo nghiên cứu
tiêu diệt mất nhiều loại VK thường trú, một vài loại còn sống sót phát triển
mạnh hơn và gây bệnh [21].
1.1.3.3. Miễn dịch
Người ta tìm thấy hai loại tự kháng thể xuất hiện ở bệnh nhân VLĐTT
chảy máu và Crohn có thể đóng vai trò trong quá trình sinh lý bệnh là:
pANCA (perinuclear antineutrophil cytoplasmic antibodies) và ASCA (anti –
Sacharomyces cerevisiae antibodies).
pANCA dương tính ở 40% BN Crohn và 80% BN VLĐTT chảy máu.
Tỷ lệ pANCA dương tính cao hơn ở những BN có kết hợp viêm xơ chít hẹp
đường mật tiên phát [22].
Tuy nhiên, nếu chỉ có pANCA và ASCA đơn độc thì không có giá trị
cao trong chẩn đoán phân biệt VLĐTT chảy máu và Crohn. Các tự kháng thể
này chỉ có ích khi các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng khác không cho
phép phân biệt được hai bệnh này.
1.1.3.4. Môi trường
Chế độ ăn (sữa), thuốc tránh thai, thuốc lá…có ảnh hưởng tới những
đợt tiến triển bệnh.
Những người hút thuốc lá có nguy cơ mắc VLĐTT chảy máu thấp hơn
những người không hút thuốc lá 40%, do Nicotine có tác dụng ức chế hoạt
động của TB Th2 dẫn tới giảm nồng độ của IL-1 và IL-8 [23]. Trong một số
7
nghiên cứu khác, người ta nhận thấy hút thuốc lá làm giảm nguy cơ mắc bệnh
VLĐTT chảy máu, thậm chí còn được coi là một yếu tố làm thuyên giảm triệu
chứng bệnh trong những đợt tiến triển, nhưng lại tăng nguy cơ mắc bệnh
Crohn [15; 25; 26].
Những phụ nữ dùng thuốc tránh thai có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 2,5 lần
so với những phụ nữ không dùng thuốc tránh thai [26;27;29].
quá trình viêm và phá huỷ tổ chức dẫn đến biểu hiện bệnh [25].
1.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của VLĐTT chảy máu
1.2.1. Lâm sàng
Bệnh có thể khởi phát từ từ hoặc đột ngột với các triệu chứng lâm sàng
rầm rộ như đại tiện phân lỏng nhiều lần trong ngày, có thể kèm theo phân
nhày máu, đau bụng, sốt [14].
Đại tiện phân nhày máu: trong đợt tiến triển bệnh nhân thường có số
lần đại tiện tăng lên trong ngày, có thể tới 20 lần/ngày. Về tính chất phân:
phân lỏng có thể kèm theo phân nhầy hoặc có dây máu hoặc máu đỏ tươi tuỳ
mức độ bệnh. Những trường hợp đại tiện phân máu, dây máu thì thường có
tổn thương rộng và trên cao. Những trường hợp đại tiện phân máu đỏ tươi
thường là tổn thương đoạn thấp như trực tràng hoặc đại tràng sigma. Nhiều
trường hợp có đại tiện phân máu nhưng không nhìn thấy bằng mắt thường mà
phải qua xét nghiệm soi phân mới phát hiện được. Tuy nhiên có khoảng 30%
trường hợp VLĐTT chảy máu với viêm loét trực tràng hoặc viêm loét trực
tràng và đại tràng sigma có triệu chứng đại tiện phân táo [24].
Đau bụng: đau hố chậu trái nếu tổn thương ở ĐT sigma hoặc ĐT
xuống, có khi đau lan tỏa khắp bụng hoặc dọc khung ĐT. Bệnh nhân có thể
đau quặn bụng hoặc chỉ đau âm ỉ. Cũng có trường hợp bệnh nhân không có
triệu chứng đau bụng.
Tình trạng toàn thân
9
Sốt: trong các đợt tiến triển, bệnh nhân có thể có sốt nhẹ hoặc sốt cao
tuỳ theo tình trạng bệnh.
Gầy sút cân: thường do tình trạng suy dinh dưỡng kéo dài. Bệnh nhân
thường có cảm giác mệt mỏi, chán ăn và không ăn được nhiều. Gầy sút cân
thường xảy ra ở những bệnh nhân có tổn thương rộng và trên cao.
thương gồm có: viêm mống mắt tái diễn, viêm màng mạch nhỏ. Tổn thương
mắt thường đi kèm với tổn thương da và khớp [29].
- Biểu hiện ở gan:
Gan nhiễm mỡ gặp ở 30 % trường hợp viêm ruột mạn tính tự phát.
Sỏi mật gặp ở 10% bệnh nhân viêm ruột mạn tính tự phát, hay gặp ở
Crohn hơn VLĐTT chảy máu.
Viêm đường mật xơ cứng nguyên phát hay gặp ở nam giới, 2 – 7 %
trường hợp VLĐTT chảy máu.
Cũng có thể gặp xơ gan mật nguyên phát trên bệnh nhân VLĐTT chảy
máu nhưng rất hiếm [29].
- Biểu hiện ở thận: sỏi thận gặp ở 2 – 6% trường hợp viêm ruột mạn tính
tự phát, hay gặp ở bệnh Crohn hơn VLĐTT chảy máu [13;29].
- Tắc mạch: huyết khối tĩnh mạch cửa, huyết khối tĩnh mạch sâu, nhồi
máu phổi ...
Ngoài ra, VLĐTT chảy máu có thể còn kèm theo các bệnh và hội
chứng liên quan đến miễn dịch hệ thống khác như: viêm tuỵ tự miễn, bệnh lý
tuyến giáp, hội chứng Raynaud....
Đa số BN bị tái phát trong vòng 1 năm kể từ đợt chẩn đoán bệnh đầu tiên
[6],[14].
11
1.2.2. Xét nghiệm máu
* Công thức máu
- Hồng cầu giảm, huyết sắc tố giảm, hematocrit giảm.
- Thường gặp thiếu máu nhược sắc do tình trạng mất máu rỉ rả kéo dài.
Trong những đợt tiến triển của bệnh, có thể mất máu ồ ạt gây thiếu máu nặng.
- Bạch cầu và máu lắng có thể tăng trong các đợt tiến triển.
* Sinh hoá máu
Với Crohn: có thể thấy thành ruột dày > 2 cm, tổn thương đoạn, gồm cả
tổn thương ở ruột non, có thể thấy bệnh lý quanh hậu môn, apxe, dò [35].
1.2.5. Nội soi đại tràng toàn bộ
Nội soi đại tràng toàn bộ có vai trò quan trọng trong chẩn đoán xác
định VLĐTT chảy máu. Hiện nay chẩn đoán VLĐTT chảy máu chủ yếu
vẫn dựa vào nội soi đại tràng toàn bộ. Tại Nhật 94,8% bệnh nhân được
phát hiện bệnh qua nội soi lần đầu [24]. Trong nghiên cứu của Vũ Văn
Khiên và cs, 100% số trường hợp được phát hiện bệnh qua nội soi lần đầu
[2]. Nội soi đại tràng toàn bộ còn giúp đánh giá mức độ và phạm vi tổn
thương, giúp phát hiện các tổn thương ác tính hoặc biến chứng, giúp tiên
lượng và theo dõi bệnh.
13
- Vị trí tổn thương:
Trong VLĐTT chảy máu chỉ có tổn thương ở đại tràng, không có tổn
thương ở ruột non. Trừ trường hợp viêm đoạn cuối hồi tràng (viêm hồi tràng
hồi ngược) trong bệnh cảnh VLĐTT chảy máu có tổn thương toàn bộ đại
tràng [37]. Trực tràng là nơi thường gặp và tổn thương nặng nề nhất, càng lên
cao đến ĐT phải thì tổn thương càng nhẹ [3;24]. Theo tác giả A.Tromm và
B.May thì 95,6% có tổn thương ở trực tràng; 80,1% có tổn thương ở ĐT
sigma; 46,6% có tổn thương ở ĐT xuống; 33,1% có tổn thương ĐT ngang,
27,1% có tổn thương ĐT lên; 15,5% có tổn thương manh tràng [38].
Trong VLĐTT chảy máu rất ít gặp tổn thương ở hậu môn (dò, tổn
thương da quanh hậu môn...).
- Đặc điểm tổn thương: có một số đặc điểm tổn thương đặc trưng:
+ Xung huyết.
+ Phù nề .
+ Mủn.
máu niêm mạc tự phát là đặc điểm rất quan trọng trong giai đoạn này.
Dựa vào vị trí của tổn thương trên nội soi mà người ta có thể chia ra nhiều loại:
- Viêm loét trực tràng: tổn thương chỉ ở trực tràng.
- Viêm loét trực tràng và đại tràng sigma: tổn thương ở trực tràng đến
giữa ĐT sigma (khoảng 60 cm với ống soi đại tràng mềm).
- Viêm đại tràng trái: từ trực tràng lên đến ĐT góc lách nhưng không
bao gồm ĐT góc lách.
- Viêm đại tràng phải: từ trực tràng lên tới ĐT góc gan, không bao gồm
manh tràng.
- Viêm đại tràng toàn bộ: gồm cả manh tràng.
15
Hình 1.3: ĐT bình thường
Hình 1.5: VLĐTT chảy máu mức độ vừa
Hình 1.4: VLĐTT chảy máu mức độ nhẹ
Hình 1.6: VLĐTT chảy máu mức độ nặng
1.2.6. Mô bệnh học
- Giai đoạn bệnh ổn định (giai đoạn thuyên giảm, giai đoạn yên lặng):
Nổi bật là hình ảnh viêm teo niêm mạc và cấu trúc niêm mạc bị phá hủy,
cấu trúc khe tuyến bất thường, đảo lộn, méo mó.
16
lâm sàng. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào nội soi ĐT và MBH.
- Giai đoạn bệnh tiến triển: có thể khởi phát với các triệu chứng lâm sàng
rất rầm rộ hoặc chỉ có một số triệu chứng tùy theo mức độ nặng của bệnh.
1.3.2. Chẩn đoán phân biệt
- Đôi khi gặp khó khăn, đặc biệt là có một số trường hợp rất khó phân
biệt VLĐTT chảy máu hay Crohn.
- Trĩ: loại trừ sau khi soi ống hậu môn.
- Ung thư đại tràng: loại trừ bằng nội soi ĐT và xét nghiệm MBH.
- Viêm ĐT cấp do vi khuẩn:
Các viêm ĐT nhiễm khuẩn thường khởi phát đột ngột, biểu hiện bằng
đại tiện phân lỏng có máu, với đau là đặc điểm nổi bật. Có thể rất khó phân
biệt với VLĐTT chảy máu giai đoạn khởi đầu. Một số trường hợp viêm ĐT
do vi khuẩn nặng cũng có thể có triệu chứng giống như phình giãn ĐT nhiễm
độc. Chẩn đoán phân biệt bằng cấy phân, soi phân tìm ký sinh trùng, ELISA
với amip. Sinh thiết trực tràng trong viêm ĐT nhiễm khuẩn có hình ảnh thâm
nhiễm rất nhiều BCĐNTT ở niêm mạc, mô đệm, các khe tuyến vẫn giữ cấu
trúc bình thường là các đặc điểm để phân biệt với VLĐTT chảy máu.
- Viêm đại tràng thiếu máu: thường khởi phát đột ngột, bệnh nhân đau
nhiều, hay gặp ở bệnh nhân nhiều tuổi, có bệnh lý mạch máu kèm theo.
- Hội chứng ruột kích thích: triệu chứng lâm sàng cũng tương tự đau
bụng, rối loạn phân có nhầy, không có máu, không gầy sút cân, không thiếu
máu. Nội soi ĐT bình thường.
- Lao ruột: vị trí tổn thương thường ở phần cuối hồi tràng, cũng có thể
gây tổn thương ở manh tràng và ĐT lên. Trên hình ảnh nội soi có thể có loét
lớn, hẹp, dò. Viêm u hạt trong lao ruột có thể không phân biệt được với
Crohn, cần phải nuôi cấy tìm vi khuẩn lao và nhuộm tìm trực khuẩn kháng
18
Tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng trong 10 năm đầu của bệnh là 2%, sau 20
năm bị bệnh là 8% và sau 30 năm là 18%. Ở Mỹ tỷ lệ BN bị ung thư hoá là
5/1000, ở Anh là 4/1000 và các nước khác là 2/1000 [40].
- Phình giãn đại tràng nhiễm độc: khi đại tràng ngang có đường kính > 6
cm, xuất hiện các triệu chứng nhiễm trùng, nhiễm độc. Chẩn đoán phình giãn đại
tràng nhiễm độc cần phải được đặt ra khi có 3 trong số các dấu hiệu sau: sốt >
38,6 độ C, mạch > 120 lần/phút, bạch cầu > 10,000 G/l, thiếu máu < 60 % giá trị
bình thường, Albumin < 30 g/l [33].
- Suy dinh dưỡng: do quá trình viêm mạn tính lâu ngày, do mất
albumin qua đường tiêu hóa....
- Chảy máu: chảy máu ồ ạt, không giảm khi điều trị nội khoa. Trong
trường hợp này phải đặt ra chỉ định phẫu thuật ngoại khoa can thiệp, cắt toàn
bộ đại tràng.
1.5. Phân loại mức độ bệnh viêm loét đại trực tràng chảy máu
Hiện nay chẩn đoán xác định VLĐTT chảy máu dựa vào các triệu
chứng lâm sàng, nội soi đại tràng toàn bộ và MBH. Trong đó nội soi đóng vai
trò chủ yếu trong việc chẩn đoán xác định cũng như phân loại mức độ bệnh.
* Lâm sàng
Bệnh có thể ở giai đoạn ổn định hoặc giai đoạn hoạt động, thường BN
đến viện vì đợt khởi phát đầu tiên hoặc đợt tiến triển của bệnh.
- Giai đoạn ổn định bệnh: thường không có triệu chứng gì đặc biệt trên lâm
sàng. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào nội soi.
- Giai đoạn bệnh tiến triển: có thể khởi phát với các triệu chứng lâm sàng
rầm rộ hoặc chỉ có một số triệu chứng tùy theo mức độ nặng nhẹ của bệnh.
Nổi bật và thường gặp nhất trong VLĐTT chảy máu là đau bụng và tiêu chảy
phân máu, kèm theo sốt và sút cân. Tùy từng giai đoạn bệnh mà có các biểu
hiện khác nhau, người ta chia 3 mức độ:
4–6
>6
Nhiệt độ (độ C)
37,8
Mạch (lần/phút)
100
Máu lắng (mm/h)
30
Albumin (g/l)
1
Đặc điểm
Tần số đi lỏng
2
Chảy máu
trực tràng
3
Hình ảnh
niêm mạc
4
Theo thăm
khám
Cách tính điểm:
0 điểm
Không
Không
Bình
thường
Bình
thường
1 điểm
1-2
lần/ngày
Thành vệt
Hướng dẫn điều trị VLĐT: khuyến cáo của khu vực châu Á - Thái Bình
Dương[1]:
* Điều trị tấn công:
- VLĐTT chảy máu thể nhẹ: 5-ASA uống + 5-ASA thụt giữ.
- VLĐTT chảy máu thể vừa: 5-ASA uống ± 5-ASA/ Corticoid thụt giữ
phụ thuộc vào triệu chứng tại trực tràng, bắt đầu sử dụng Corticoid nếu bệnh
nhân không đáp ứng sau 2-4 tuần. Liều tối ưu: Sulfasalazine: 3-6g/ngày;
Mesalamine 4-4,8g/ngày; Balsalazine: 6,7g/ngày; Olsalazine: 2g/ngày.
- VLĐTT chảy máu thể nặng: Corticoid đường uống là lựa chọn đầu
tiên, nếu thất bại dùng Corticoid truyền tĩnh mạch. Corticoid đường tĩnh mạch
22
nếu VLĐT kèm theo triệu chứng toàn thân. Có thể cân nhắc Cyclosporine nếu
dùng Corticoid thất bại, mặc dù khoảng 50% bệnh nhân cuối cùng vẫn cần
phải cắt đại tràng sau 1 năm theo dõi. Chỉ dùng kháng sinh khi có biến chứng
nhiễm khuẩn.
* Điều trị duy trì: khuyến cáo cho tất cả các trường hợp trừ những thể nhẹ
hoặc khu trú đáp ứng hoàn toàn với điều trị ban đầu. Điều trị duy trì cũng
được chỉ định cho những bệnh nhân tái phát trong vòng 6 tháng sau khi đã có
đáp ứng. 5-ASA là thuốc dùng để điều trị duy trì, thời gian thường kéo dài, có
khi đến 3-5 năm, không khuyến cáo giảm liều. Không sử dụng Corticoid.
* Chế độ dinh dưỡng:
- Mức độ nhẹ hoặc vừa: thức ăn mềm, hạn chế chất xơ tạm thời.
- Mức độ nặng:
+ Nhịn ăn hoàn toàn.
+ Nuôi dưỡng đường tĩnh mạch đảm bảo 2500 kilocalo/ngày [3].
+ Bổ sung sắt, acid folic 1mg/ ngày nếu dùng 5-ASA kéo dài.
+ Bồi phụ nước và điện giải.
BMI
< 16
16 – 16,9
17 – 18,4
18,5 – 22,9
≥ 23
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng (DD)
Suy dinh dưỡng (SDD) nặng
Suy dinh dưỡng trung bình
Suy dinh dưỡng nhẹ
Bình thường
Dư cân
* Phương pháp đánh giá toàn thể: (SGA -Subjective Global Assessment –
Destky và cộng sự 1987).
Theo khuyến nghị bởi hội dinh dưỡng lâm sàng châu Âu (ESPEN) và
Mỹ (ASPEN) năm 2002
Nguyên tắc chung, dựa vào: 1. Thay đổi cân nặng; 2.Thay đổi thói quen ăn
uống; 3. Thay đổi thói quen sinh hoạt hằng ngày; 4. Thay đổi lâm sàng (mất cơ,
mỡ, phù, cổ trướng); 5. Triệu chứng đường tiêu hóa; 6. Stress chuyển hóa.
Bảng 1.5: Khám bệnh nhân đánh giá theo bảng sau
(Thang điểm đánh giá SGA)[50]
24
Các thông tin
Giảm cân trong 6 tháng
Thay đổi về khẩu phần
đi lại được
Nhẹ, vừa
Giảm lớp mỡ dưới
Nằm tại gường
Nặng
Phù, cổ trướng
A
da, giảm khối cơ
B
( 9 – 12 điểm)
( 4 – 8 điểm)
(0 – 3 điểm)
Bình thường
SDD nhẹ và TB
SDD nặng
Tổng số điểm của
thang SGA
Đánh giá tình trạng
Điểm
Trong bào tương sắt kết hợp với một protein gọi là apoferritin để tạo thành
ferritin. Ferritin là dạng dự trữ của sắt. Một lượng nhỏ của sắt được dự trữ dưới
dạng hemosiderin. Hemosiderin tạo thành những đám lớn trong tế bào.
Đặc tính lớn nhất của transferrin là nó gắn rất mạnh với các receptor ở
màng nguyên hồng cầu trong tuỷ xương rồi đi vào trong tế bào bằng quá trình
nhập bào. Ở bên trong tế bào, transferin sẽ giải phóng sắt vào ti thể
(monochodria) để tổng hợp Hem ở đó. Ở những người có nồng độ transferin
thấp, chất này không cung cấp được sắt cho nguyên hồng cầu nên họ sẽ bị
thiếu máu nhược sắc.
Khi các hồng cầu già bị thực bào, Hb sẽ bị phân huỷ, sắt được giải phóng
ra sẽ được dự trữ lại dưới dạng ferritin hoặc sử dụng lại để tạo Hb.
- Hấp thu sắt ở ruột non: sắt được hấp thu ở ruột non theo cơ chế sau:
apoferritin do gan bài tiết sẽ theo mật vào tá tràng. Ở ruột non apoferritin sẽ
gắn với sắt tự do hoặc hợp chất sắt sắt như Hb, myoglobin của cơ để tạo
tranferritin. Tranferrin được gắn vào receptor ở màng tế bào biểu mô của
niêm mạc ruột, vào tế bào biểu mô rồi được hấp thu vào máu để trở thành
tranferrin của huyết tương. Tốc độ hấp thu sắt rất chậm, khoảng vài miligam
mỗi ngày cho dù lượng sắt có trong thức ăn rất nhiều [46].
- Sự điều hoà hấp thu sắt ở ruột non được thực hiện theo 2 cơ chế: