Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 1 * 2019
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ RÒ TRỰC TRÀNG ÂM ĐẠO
TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Võ Thị Mỹ Ngọc*, Nguyễn Trung Tín**
TÓMTẮT
Mở đầu: Rò trực tràng âm đạo là bệnh hiếm gặp nhưng là một thách thức với người bệnh và bác sĩ phẫu
thuật. Nguyên nhân thường gặp nhất là chấn thương sản khoa. Điều trị bệnh dựa vào phân loại và vị trí của
đường rò.
Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị bệnh rò trực tràng âm đạo của các phương pháp phẫu thuật
được áp dụng tại BV Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu tất cả những người bệnh rò trực tràng âm đạo
được điều trị bằng phẫu thuật tại BV Đại học Y dược, thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 2012 đến năm 2017.
Kết quả: Trong 5 năm, tổng kết được 17 trường hợp rò trực tràng âm đạo được phẫu thuật. Tuổi trung
bình là 40,6 ± 16,2. Thể bệnh phần lớn là thể thấp và vừa. Phương pháp phẫu thuật chủ yếu là cắt đường rò, kèm
chuyển vạt phủ chỗ khâu (47,1%), tạo hình tầng sinh môn (23%). Có 2 trường hợp nhiễm trùng sau mổ. Tỷ lệ
lành bệnh là 46%.
Kết luận: Tỷ lệ thành công của phẫu thuật tái tạo đường rò trực tràng âm đạo chúng tôi được khá cao. Các
yếu tố chủ yếu có thể tác động tốt đến kết quả điều trị là bệnh lần đầu, rò thuộc thể thấp và có tạo hình tầng sinh
môn trong mổ.
Từ khóa: Rò trực tràng âm đạo, cắt đường rò, vạt da trượt.
ABSTRACT
THE RESULT OF SURGERY FOR TREATMENT OF RECTOVAGINAL FISTULA AT UNIVERSITY
MEDICAL CENTER, HO CHI MINH CITY
Vo Thi My Ngoc, Nguyen Trung Tin
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 - No 1- 2019: 238-243
Objective: To evaluate the result of surgery for treatment of rectovaginal fistula.
dễ kích ứng và bối rối, tỷ lệ tái phát còn cao sau
mổ tái tạo. Rò trực tràng âm đạo có thể bẩm sinh
hay mắc phải.
Rò trực tràng âm đạo có thể xảy ra trong quá
trình chuyển dạ và sanh. Chuyển dạ kéo dài
cùng với hoại tử vách trực tràng âm đạo hay tổn
thương sản khoa với rách thể đáy chậu độ 3 hay
độ 4. Quá trình nhiễm trùng vách trực tràng âm
đạo cũng có thể gây ra rò trực tràng âm đạo.
Nhiễm trùng có thể gây ra rò trực tràng âm đạo
thường 7-10 ngày sau sanh. Ở những nước phát
triển tỷ lệ rò trực tràng âm đạo sau sanh ngã âm
đạo chiếm khoảng 0,06-0,1%. Còn ở các nước
đang phát triển, tần suất này cao gấp 3 lần(4).
Các nguyên nhân khác có thể gây ra rò trực
tràng âm đạo là áp xe hậu môn trực tràng và
nhiễm trùng tuyến Bartholin, bệnh túi thừa của
ruột già ở những bệnh nhân có cắt tử cung, lao,
bệnh lý ác tính như k trực tràng, tử cung, cổ tử
cung, hay ở những bệnh nhân sau xạ trị, sau
phẫu thuật vùng chậu, viêm loét trực tràng và
bệnh Crohn ….
Rò trực tràng âm đạo đơn giản
Rò nhỏ, thấp, thứ phát sau nhiễm trùng hay
chấn thương. Những đường rò này thường
khỏe, nhiều mạch máu có thể tái tạo với kỹ thuật
tại chỗ.
Rò trực tràng âm đạo phức tạp
Rò lớn, cao, hay do bệnh viêm ruột, ung thư,
Đối tượng nghiên cứu
Lỗ rò dưới 2,5cm là rò kích thước nhỏ, từ
2,5cm trở lên là rò kích thước lớn.
Tất cả những người bệnh rò trực tràng âm
đạo được điều trị bằng phẫu thuật mổ tại BV Đại
học Y dược, thành phố Hồ Chí Minh.
Vị trí
Rò thấp
Lỗ rò ở trực tràng dưới đường lược, lỗ rò ở
âm đạo bên trên mép màng trinh.
Rò cao
Lỗ rò ở âm đạo ngang mức cổ tử cung.
Rò trung gian
Vị trí nằm giữa 02 loại rò trên.
239
Nghiên cứu hàng loạt ca.
Thời gian nghiên cứu
5 năm (từ năm 2012 đến năm 2017).
KẾTQUẢ
Trong 5 năm, chúng tôi tổng kết được 17
trường hợp rò trực tràng âm đạo. Tuổi nhỏ nhất
là 20, lớn nhất là 72, trung bình là 40,6 ± 16,2 tuổi.
2 (11,8%)
1 (5,9%)
1 (5,9%)
1 (5,9%)
1 (5,9%)
1 (5,9%)
17 (100%)
Có 12 trường hợp chưa từng mổ rò trực
tràng âm đạo lần nào, chiếm 70,6%, 4 trường
hợp đã mổ rò trực tràng âm đạo 01 lần và 01
trường hợp đã mổ rò trực tràng âm đạo 02 lần.
Biểu đồ 1: Tiền căn mổ cũ rò trực tràng âm đạo
Gần 50% các trường hợp rò trực tràng âm
đạo là thể vừa và thấp (94,1%). Chỉ có 01
trường hợp là rò trực tràng âm đạo thể cao
(5,9%) (Biểu đồ 2).
Hầu hết (94,1%) các trường hợp người bệnh
có nội soi trực tràng trước mổ. Chỉ có 01 trường
hợp không có nội soi vì người bệnh này bị ung
thư trực tràng đã mổ và có biến chứng rò trực
tràng âm đạo và đã nội soi trước đó. Khoảng
29,4% các trường hợp được chụp cộng hưởng từ
trước mổ (5 trường hợp), 20% các trường hợp có
chụp cộng hưởng từ ghi nhận có tổn thương cơ
thắt đi kèm.
240
thể dùng 01 mình (5,9%), phối hợp với
Augmentin (11,8%), với Ceftazidim (58,5%), với
nhóm Quinolon (17,6%), với Unasyn (5,9%).
Chuyên Đề Ngoại Khoa
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 1 * 2019
Thời gian nằm viện trung bình là 9,9 ± 4,8 ngày,
ngắn nhất là 4 ngày và kéo dài nhất là 23 ngày.
Nhiễm
trùng
12%
Tái phát
Không
biến
chứng
88%
Biểu đồ 3: Biến chứng sau mổ
Chúng tôi theo dõi được 13 trường hợp
(được 76,5%) với thời gian dao động từ 2-6 năm.
Kết quả cho thấy có 6 trường hợp lành bệnh
(46,2%), 7 trường hợp không lành (53,8%).
Sau đặt vòng tránh thai 1 (16,7%)
0
Các yếu tố
241
Các yếu tố
Thể
bệnh
Chuyển
vạt
Kiểu vạt
Mổ 02 lần
Mổ 01 lần
Chưa mổ
Thấp
Vừa
Cao
Có
Không
Cơ nâng
Cơ hành hang
Có
Không
Tạo hình
thể đáy
chậu
4(4,5). Trong nghiên cứu của chúng tôi, có hơn
phân nửa các trường hợp rò trực tràng âm đạo
xảy ra do quá trình sanh ngã âm đạo. Triệu
chứng của bệnh phụ thuộc kích thước và vị trí
lỗ rò, thường gặp nhất là có hơi hay dịch phân
qua bên âm đạo.
Chẩn đoán trước mổ chủ yếu dựa vào triệu
chứng lâm sàng. Các phương tiện giúp khẳng
định chẩn đoán thêm như nội soi trực tràng,
siêu âm qua nội soi hay chụp cộng hưởng từ
vùng chậu. Siêu âm lòng hậu môn và cộng
hưởng từ khá chính xác khi xác định sự toàn
vẹn của cơ thắt(2). Đo áp lực hậu môn dùng
đánh giá giảm chức năng cơ thắt khi không có
khiếm khuyết về giải phẫu học. Trong nghiên
cứu này, có 94,1% các trường hợp được nội soi
trực tràng trước mổ và 29,4% các trường hợp
được đánh giá tổn thương thể đáy chậu bằng
cộng hưởng từ. Những trường hợp không
chụp cộng hưởng từ đều rớt vào giai đoạn
trước năm 2017. Sau thời điểm này, các bác sĩ
chuyên khoa hậu môn trực tràng đã có ý thức
hơn trong việc đánh giá thương tổn thể đáy
chậu đi kèm với rò trực tràng âm đạo. Vì vấn
đề quan trọng là cần đánh giá sự tự chủ khi đi
Chuyên Đề Ngoại Khoa
Nghiên cứu Y học
tháng, 01 trường hợp là 6 năm, 01 trường hợp
là 14 năm và 01 trường hợp là 20 năm. Những
trường hợp có thời gian kéo dài là do người
bệnh đến chậm. Nói về các trường hợp phẫu
thuật sau sanh mới 02 tuần, có 01 trường hợp
lành bệnh, một trường hợp không lành phải
mổ lại và 01 trường hợp không theo dõi được.
Vậy tỷ lệ lành bệnh khi phẫu thuật sớm sau
sanh khoảng 50% - tương đương với tỷ lệ lành
bệnh chung. Như vậy, thời gian mổ có thể sớm
hơn nếu bác sĩ đánh giá mô đường rò tốt,
không đang trong tình trạng viêm nhiễm.
Trong khi hồi cứu hồ sơ, chúng tôi không ghi
nhận có dùng kháng sinh điều trị cho người
bệnh trước mổ và chuẩn bị ruột.
Đối với rò trực tràng âm đạo đơn giản, phẫu
thuật làm vạt chèn là phẫu thuật qua ngã hậu
242
môn phổ biến nhất giữa các phẫu thuật viên đại
trực tràng. Có nhiều hình thức nhưng nguyên
tắc chung là đường mổ, và đóng chỗ rò trực
tràng, và đóng với một vạt niêm mạc mạch máu
trên chỗ đường rò có áp lực cao. Vạt chèn được
làm bằng niêm mạc, dưới niêm mạc, cơ và được
đặt vào khoang trực tràng âm đạo. Cần đảm bảo
rằng đường khâu không căng. Mức độ thành
công có thể từ 29%-100%. Con số thay đổi này có
thể do kỹ thuật mổ mà cũng do lực chọn người
quan trọng đối với rò sau xạ trị hay do bệnh lý
viêm ruột. Đầu tiên nên làm chuyển lưu phân
cùng với điều trị bệnh nền để giải quyết tình
trạng viêm. Sau đó phục hồi rò trực tràng âm
Chuyên Đề Ngoại Khoa
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 1 * 2019
đạo sẽ có khả năng thành công cao hơn.
Chúng tôi phân tích các trường hợp có làm
vạt che lỗ rò. Tất cả (100%) không có nhiễm
trùng sau phẫu thuật dùng vạt che lỗ rò. Có 02
trường hợp đường rò trực tràng âm đạo lành
(25%), 04 trường hợp không lành (50%), còn lại
02 trường hợp mất theo dõi. Có 02 trường hợp
lành đều dùng vạt cơ nâng chèn vách trực tràng
âm đạo. Như vậy, có thể vạt cơ nâng hiệu quả
hơn vạt cơ hành hang. Theo y văn, tỷ lệ thành
công khi dùng vạt cơ hành hang (Martius),
thường chỉ định khi bệnh rò tái phát, tỷ lệ thàng
công khá cao, từ 65%-100%(1).
Chỉ có 04 trường hợp được tạo hình tầng
sinh môn sau khi phục hồi đường rò, chiếm
23,5%. Trong 04 trường hợp này, có 3 trường
hợp đường rò lành hẳn sau mổ, chiếm 75%. Vì
vậy, nên lưu ý tạo hình tầng sinh môn sau khi
tái tạo mà không cần phải dùng chuyển vạt cơ.
Do số liệu chúng tôi còn ít, nên chưa thể dùng
phép kiểm thống kê minh chứng. Qua thời gian,
với dữ liệu nhiều hơn, chúng tôi hy vọng kết quả
sẽ thuyết phục người đọc hơn.
KẾTLUẬN
Tỷ lệ thành công của phẫu thuật tái tạo
đường rò trực tràng âm đạo của chúng tôi được
khá cao. Các yếu tố chủ yếu có thể tác động tốt
đến kết quả điều trị là bệnh lần đầu, rò thuộc thể
thấp và có tạo hình tầng sinh môn trong mổ.
TÀILIỆUTHAMKHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Reichert M, Schwandner T, Hecker A, Behnk A, et al (2014).
Surgical Approach for Repair of Rectovaginal Fistula by
Modified Martius Flap. Geburtshilfe Frauenheilkd, 74(10):
923-927
Stoker J, Rociu E, Schouten WR, Laméris JS (2002).
Anovaginal and rectovaginal fistulas: endoluminal