một số rối nhiễu tâm lý của sinh viên đại học y dược tp hồ chí minh - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

LÊ MINH THUẬN

MỘT SỐ RỐI NHIỄU TÂM LÝ CỦA SINH VIÊN ĐẠI
HỌC Y DƯỢC TP.HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

LÊ MINH THUẬN

MỘT SỐ RỐI NHIỄU TÂM LÝ CỦA SINH VIÊN ĐẠI
HỌC Y DƯỢC TP.HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐINH PHƯƠNG DUY

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011


1.1.2. Những nghiên cứu trong nước về rối nhiễu tâm lý. ............................... 12
1.2. KHÁI NIỆM RỐI NHIỄU TÂM LÝ........................................................... 15
1.3. STRESS ..................................................................................................... 20
1.3.1. Khái niệm rối nhiễu stress ...................................................................... 20
1.3.2. Đặc điểm rối nhiễu Stress....................................................................... 22
1.3.3. Phân loại rối nhiễu stress ........................................................................ 23
1.3.4. Nguyên nhân rối nhiễu stress ................................................................. 24
1.4. TRẦM CẢM..................................................................................................... 27
1.4.1. Khái niệm rối nhiễu trầm cảm ................................................................ 27
1.4.2. Đặc điểm rối nhiễu trầm cảm ................................................................. 28
1.4.3. Phân loại rối nhiễu trầm cảm.................................................................. 31
1.4.4.Nguyên nhân rối nhiễu trầm cảm ............................................................ 33
1.4.5. Phương pháp trị liệu rối nhiễu trầm cảm................................................ 35
1.5. LO ÂU ............................................................................................................... 36
1.5.1.Khái niệm rối nhiễu lo âu ........................................................................ 36
1.5.2. Đặc điểm rối nhiễu lo âu ........................................................................ 37
1.5.3. Phân loại rối nhiễu lo âu ......................................................................... 38
1.5.4. Nguyên nhân rối nhiễu lo âu .................................................................. 38
1.5.5. Liệu pháp trị liệu rối nhiễu lo âu ............................................................ 40
1.6. RỐI NHIỄU TÂM LÝ Ở SINH VIÊN.......................................................... 41
1.6.1.Tình cảm và công việc ............................................................................ 42
1.6.2. Hoạt động tình dục và sự mang thai ....................................................... 43
DÀN Ý NGHIÊN CỨU .......................................................................................... 45


Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................... 46
2.1. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU ............................................................................ 46
2.2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU............................................................................. 46
2.2.2. Dân số mục tiêu ...................................................................................... 46
2.2.3. Khách thể nghiên cứu (Dân số chọn mẫu) ............................................. 46

Bảng 1.1. Các rối nhiễu tâm lý ............................................................................ 18
Bảng 1.2. Các tiêu chuẩn chẩn đoán cho một giai đoạn trầm cảm chủ yếu theo
DSM-IV-TR .......................................................................................... 32
Bảng 1.3. Phân biệt trầm cảm .............................................................................. 33
Bảng 1.4. Điều trị rối nhiễu lo âu ........................................................................ 40
Bảng 1.5. Các mức độ rối nhiễu tâm lý DASS-42 .............................................. 48
Bảng 3.6. Kế hoạch học tập của sinh viên (n=400) ............................................. 62
Bảng 3.7. Lý do không có lập kế hoạch (n=120)................................................ 63
Bảng 3.8. Hy vọng của sinh viên ......................................................................... 64
Bảng 3.9. Thái độ của sinh viên đối với việc quan hệ tình dục trước hôn nhân . 65
Bảng 3.10. Thái độ của sinh viên đối với việc sống chung trước hôn nhân ........ 65
Bảng 3.11. Thái độ của sinh viên đối với hiện tượng ly hôn/ li dị ...................... 66
Bảng 3.12. Trị số trung bình, trung vị của thang điểm DASS-42 ....................... 67
Bảng 3.13. Tỉ lệ có khả năng các mức độ rối nhiễu trầm cảm của sinh viên ...... 68
Bảng 3.15. Tỉ lệ có khả năng các mức độ rối nhiễu stress của sinh viên ............ 70
Bảng 3.16. Mối liên hệ giữa năm học của sinh viên với stress, lo âu và trầm cảm72
Bảng 3.17. Mối liên hệ giữa trầm cảm, lo âu, stress của sinh viên theo khoa. .... 73
Bảng 3.18. Mối liên hệ giữa chỗ ở của sinh viên với trầm cảm, lo âu, stress của sinh
viên ........................................................................................................ 75
Bảng 3.19. Mối liên hệ giữa trầm cảm, lo âu, stress với phương tiện thường xuyên
sử dụng đi học của sinh viên ................................................................. 77
Bảng 3.20. Mối quan hệ giữa thái độ với việc quan hệ tình dục trước hôn nhân với
trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên ........................................................ 78
Bảng 3.21. Mối liên hệ giữa việc sử dụng internet với trầm cảm, lo âu, stress của
sinh viên ............................................................................................ 80
Bảng 3.22. Mối liên hệ giữa sinh viên có hút thuốc lá với lo âu, trầm cảm, stress82
Bảng 3.23. Mối quan hệ giữa thái độ chung sống trước hôn nhân với trầm cảm, lo
âu, stress ở sinh viên. ........................................................................ 83
Bảng 3.24. Mối quan hệ giữa uống rượu bia với trầm cảm, lo âu, stress .................. 82


-

AABB: Rối loạn ám ảnh bó buộc

-

BLTD: Bạo lực tình dục

-

LATT: Rối loạn lo âu toàn thể

-

RLCXTM: Rối loạn cảm xúc theo mùa

-

RLTCCY: Rối loạn trầm cảm chủ yếu

-

SC: Rối loạn stress cấp

-

SKSS và SKTD: Sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục

-


-

GAD: Generalized Anxiety Disorder: Rối loạn lo âu tổng quát

-

GAS: General adaptation syndrome: Hội chứng thích nghi tổng quát

-

GHQ-9: General health questionnaire GHQ-9: thang đo trầm cảm

-

LST: Life Skills training : đào tạo kỹ năng sống

-

MDD: Major Depressive Disorder: Loạn trầm cảm chủ yếu

-

Negative change: biến đổi âm tính

-

PMSS: Perceived Medical School Stress:

-



YLL= Years of Lost Life (death): năm của cuộc sống bị mất


MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài.
Rối nhiễu tâm lý, đặc biệt trầm cảm, những hành động tự tử, tự làm hại bản thân và
lạm dụng rượu/ thuốc, được xếp loại trong số 10 vấn đề hang đầu gây ra gánh nặng tổng thể
do bệnh tật hiện nay trên thế giới. Đến năm 2030, trầm cảm là dự kiến để trở thành yếu tố
đóng góp hàng đầu của gánh nặng bệnh tật, tàn phế ở các nước có thu nhập cao [99]. Trong
số các bệnh không truyền nhiễm, Tổ chức Y tế thế giới ước lượng rằng nhóm bệnh do rối
nhiễu tâm lý gây ra gánh nặng bệnh tật nhiều hơn nhóm khác, kể cả ung thư hoặc bệnh tim
mạch. Gánh nặng này ở tất cả các lứa tuổi, bao gồm trẻ em và vị thành niên và là một
nguyên nhân quan trọng của bệnh tật và tử vong [35]. Ở một số nơi tại miền Nam Ấn Độ,
nông thôn Trung Quốc, một số công trình nghiên cứu cho thấy giao thoa giữa sức khỏe thể
chất và rối nhiễu tâm lý rất quan trọng - là nguy cơ thêm vào cho bệnh lý tim mạch, tiểu
đường, sức khỏe sinh sản, chấn thương, tự tử,…được coi là do rối nhiễu tâm lý gây ra.
Tâm lý là một vấn đề quan trọng trong hệ thống sức khỏe cũng như sức khỏe thể chất
đối với các cá nhân, cộng đồng và thế giới. Rất khó có thể dự đoán một ai đó có thể phát
triển các rối nhiễu tâm lý, khó áp dụng các biện pháp nâng cao sức khỏe một cách có hiệu
quả trên dân số [79].
Từ các tạp chí xuất bản ở Việt Nam, tạp chí tiếng Anh, người nghiên cứu nhận thấy
rằng các kết quả tập trung nhiều vào “kiến thức, thái độ và hành vi sức khỏe”, liên quan đến
HIV/AIDS, sử dụng thuốc lá, rượu [13], [59],[77] mặc dù những nghiên cứu này quan trọng,
nhưng nó không nhấn mạnh vào đặc điểm tâm lý của những người tham gia nghiên cứu, hay
các yếu tố xác định tình trạng tâm lý kém. Khả năng hạn chế trong lĩnh vực Tâm lý học Sức
khỏe ở các nước đang phát triển đã là điểm nhấn của nhiều bài báo đặc biệt trong tạp chí
TheLancet (2008) và tạp chí Tâm lý học và tâm thần trẻ em [79],[84],[102]. Không có sức
khỏe nếu không có sức khỏe tâm lý [79],[80]. Theo tác giả Belfer (2008) đã phân tích những
khó khăn trong việc cải thiện chăm sóc sức khỏe tâm lý ở các nước có thu nhập thấp và



2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng rối nhiễu tâm lý của sinh viên Đại học Y Dược thành phố Hồ
Chí Minh.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
− Phân tích, tổng hợp các vấn đề lý luận liên quan đến rối nhiễu tâm lý ở sinh viên.
− Xác định tỉ lệ và các mức độ rối nhiễu trầm cảm ở sinh viên.
− Xác định tỉ lệ và các mức độ rối nhiễu lo âu ở sinh viên.
− Xác định tỉ lệ và các mức độ rối nhiễu stress ở sinh viên.
− Xác định mối liên hệ giữa trầm cảm, lo âu, stress với các yếu khác.
4. Giả thuyết nghiên cứu.
− Có biểu hiện rối nhiễu tâm lý của sinh viên ở mức độ cao.
− Có sự khác biệt mức độ rối nhiễu tâm lý của sinh viên theo nhóm các yếu tố giới
tính, năm học, ngành học, thời gian học, chỗ ở, phương tiện di chuyển thường xuyên,
sử dụng internet, giải trí, kế hoạch học tập, hành vi hút thuốc lá, uống rượu/bia.
5. Phạm vi nghiên cứu.
5.1.Nội dung.
Trong các rối nhiễu tâm lý ở sinh viên, người nghiên cứu chỉ nghiên cứu rối nhiễu lo
âu, trầm cảm, stress ở sinh viên Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh.
5.2.Phạm vi.
− Sinh viên năm 1 và 3 các Khoa thuộc Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh.
6. Ý nghĩa.
Điểm mới của đề tài.
Đây là nghiên cứu đầu tiên ở Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh và đầu tiên trong cả
nước về sức khỏe tâm lý sinh viên.
Các tham số của rối nhiễu tâm lý như tỉ lệ, mức độ,… đã được xác định liên quan đến
nhiều yếu tố như năm học, hay ngành học, hút thuốc lá, uống rượu bia, giới,….có khả năng
ảnh hưởng rối nhiễu tâm lý ở sinh viên.
Những phát hiện này sẽ được sử dụng để thay đổi phương pháp giáo dục và bắt đầu

Có thể có những sinh viên trả lời lấy có, theo hướng an toàn, chung chung, tùy tiện, vô
tình làm ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu. Tuy nhiên đã được loại ra theo phiếu kiểm định
tính trung thực của câu trả lời.


Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ.
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài.
Vào những năm 1955, một số tác giả đã quan tâm đến việc nghiên cứu yếu tố tâm lý
ảnh hưởng đến sức khỏe [86], [89]. Năm 2007, nhóm tác giả Naiemeh Seyedfatemi,
Maryam Tafreshi1 và Hamid Hagani, kết quả nghiên cứu cho thấy, rối nhiễu tâm lý sinh
viên năm nhất là 65,8% tăng khối lượng công việc lớp học tỉ lệ 66,9% và thường xuyên nhất
là sự stress trong môi trường tình huống không quen thuộc là 64,2% và chờ đợi lâu dài tỉ lệ
là 60,4%. Sự stress nhiều hơn đáng kể trong năm đầu tiên so với các sinh viên năm thứ tư.
Trong số các chiến lược đối phó trong 12 lĩnh vực, vấn đề gia đình cố gắng giải thích với
cha mẹ và thỏa hiệp tỉ lệ 73%, đi cùng với các quy tắc trong gia đình tỉ lệ 68% đã được sử
dụng thường xuyên bởi hầu hết sinh viên. Để đối phó với yêu cầu tham gia vào hoạt động,
sinh viên thường xuyên cố gắng tìm ra cách đối phó với vấn đề có tỉ lệ 66,4% và cố gắng để
cải thiện bản thân có tỉ lệ 64,5%. Các chiến lược tự chủ, cố gắng để làm theo quyết định của
mình tỉ lệ 62%, các chiến lược hỗ trợ xã hội tỉ lệ 59,6%, cố gắng để giúp bạn khác giải
quyết vấn đề của họ tỉ lệ 56,3%, và cố gắng để theo kịp bạn bè hoặc những người bạn mới tỉ
lệ 54,4%, các chiến lược tinh thần như cầu nguyện/suy niệm tỉ lệ 65,8%, các chiến lược
chuyển hướng tìm kiếm nghe nhạc tỉ lệ 57,7%, chiến lược thư giãn tỉ lệ 52,5%, và nỗ lực để
được gần gũi với quan tâm đến một người nào đó về bạn tỉ lệ 50,5% đã từng sử dụng thường
xuyên theo đa số sinh viên. Hầu hết sinh viên cho rằng các chiến lược tránh hút thuốc lá tỉ lệ
93,7% và uống bia hoặc rượu vang tỉ lệ 92,9%, chửi thề tỉ lệ 85,8%, chiến lược nhận được
tư vấn chuyên nghiệp tỉ lệ 74,6% và nói chuyện với một giáo viên hoặc nhân viên tư vấn tỉ
lệ 67,2% và chiến lược hài hước đùa và giữ một cảm giác hài hước tỉ lệ 51,9% [73].
Một nghiên cứu tại Tehran, hầu hết các sinh viên là nữ tỉ lệ 87,2% độ từ 18 đến 24
tuổi, khoảng 57% sinh viên sống trong ký túc xá trường đại học (đến từ các thành phố

với những người trong nhóm điểm thấp (p
sóc đúng khi từ bệnh viện về nhà, trở ngại để chăm sóc cho người phụ thuộc, có một ý nghĩa
của tự sự tin cậy công; Những stressors có thể dẫn tới trầm cảm, giảm tự tin, vv... Sức khỏe
tâm lý cũng quan tâm riêng của mình với bệnh tật. Khi có ít hy vọng về phục hồi, sức khỏe
tâm lý học trị liệu có thể cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bằng cách giúp bệnh
nhân khôi phục lại ít nhất là một số trong mình tâm lý tốt được. Sức khỏe tâm lý học khám
phá quan trọng như thế nào chính sách y tế có thể ảnh hưởng trí tuệ, sự bất bình đẳng trong
xã hội và cộng đồng. Các nghiên cứu mở rộng phạm vi của sức khỏe tâm lý vượt ra ngoài
mức độ cá nhân, một kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng sức khỏe như kinh tế và xã hội nó đóng
vai trò quyết định sức khỏe con người dể nhận diện nhất là những vùng địa lý giáp ranh và
nội thị ở khu vực và các quốc gia [2].
Một nghiên cứu theo thời gian 4 năm (đoàn hệ tiến cứu), sinh viên 4 trường đại học y
tại Na Uy vào năm 1993. Dữ liệu được thu thập bằng phiếu tự điền lần đầu năm thứ 1, năm
thứ ba, năm thứ năm (hoặc thứ sáu). Trong 421 sinh viên, 375 trả lời bộ câu hỏi tự điền đáp ứng tỉ lệ 89%, phụ nữ tỉ lệ 54%, độ tuổi trung bình là 22,1±3,1 tuổi, 302 sinh viên tham
gia vào việc đánh giá lần thứ hai - đáp ứng tỉ lệ 72%, 59% phụ nữ, độ tuổi trung bình là 24,8
± 2,6 tuổi, 287 người đã tham gia đánh giá năm cuối cùng - đáp ứng tỉ lệ 68%, phụ nữ 55%,
độ tuổi trung bình là 27,7 ± 2,5 tuổi. Tổng cộng có 236 học sinh trả lời trên cả ba lần là
56%, nữ sinh viên là 60%, tuổi trung bình là 21,6±2,5 năm.
Nghiên cứu theo chiều thời gian, phân tích quá trình sự hài lòng trong suốt thời gian
sống và học tập tại trường Y khoa. So sánh mức độ thỏa mãn cuộc sống của sinh viên y
khoa với sinh viên đại học khác. Hai mẫu được sử dụng để so sánh được thu được từ một
nghiên cứu cắt ngang trên toàn quốc về chất lượng cuộc sống [28]. Các tiêu chí bao gồm nội
dung bao trùm tất cả các sinh viên đại học ở các nhóm tuổi tương ứng. Trong số 3.500
người tham gia đã có 643 sinh viên đại học, (63% phụ nữ, tuổi trung bình là 23,2±1,6 năm)
độ tuổi của sinh viên y khoa năm nhất, 136 sinh viên (51% phụ nữ, tuổi 27,7 ±1,9 năm) y
khoa năm cuối [60]. Công cụ PMSS được phát triển bởi Vitaliano [96]. Các mục PMSS sử
dụng một điểm Likert (quy mô 5 bậc). Một phân tích phương sai cho thấy yếu tố đầu tiên, lo
âu học tập (0,8), nơi ở, làm chủ kiến thức, khả năng chịu đựng và trách nhiệm. Yếu tố thứ
hai, cá nhân từ bỏ xã hội (0,7), giáo dục các bác sĩ, chi phí, lợi ích. Theo kết quả biến theo
chiều thời gian và để xác định cảm nhận sự stress trong một thời gian dài, mỗi yếu tố được
đo 2 lần (tiền kiểm và hậu kiểm) bằng tổng của các điểm của các mục tương ứng của nó

of Medicine. Phương pháp phân tích thống kê bao gồm tương quan và hồi quy thứ bậc, mức
độ trầm cảm là 16 người (tỉ lệ 23%), và 39 (57%) ở mức cao, Stress chiếm một tỉ lệ lớn các
phương sai (29% đến 50%). Cuộc sống hài lòng và khả năng phục hồi trong 6 năm học tại
Trường Y, và so sánh với sinh viên toàn quốc. Nhóm tác giả đã xem xét mối quan hệ giữa
sự thỏa mãn cuộc sống giữa các sinh viên y khoa và một mô hình cơ bản của nhân cách,
stress và đối phó [76], so với mức độ hài lòng của sinh viên y khoa với sinh viên đại học
khác, và xác định các yếu tố khả năng phục hồi, kiểm định t.ttest cho các biến số có phương
sai đồng nhất so sánh sự hài lòng của cuộc sống giữa và trong các nhóm dân cư, phân tích
cluster đã được áp dụng để xác định các nhóm “con” giữa các sinh viên y tế. Phân tích biến


lượng và phân tích hồi quy được sử dụng để so sánh các nhóm con. Hài lòng cuộc sống
giảm trong thời gian học y. Sinh viên y tế đã làm hài lòng là các học sinh khác trong năm
học đầu tiên, nhưng ít hơn sự hài lòng trong năm tốt nghiệp của họ, sinh viên y những người
duy trì ở mức cao sự hài lòng cảm nhận cuộc sống trường y như can thiệp ít hơn với đời
sống xã hội và cá nhân của họ, và đã ít có khả năng sử dụng cảm xúc tập trung đối phó,
chẳng hạn như mơ tưởng, hơn đồng nghiệp.
Theo Tunay.S, Soygüt.G và cộng sự để đánh giá mức độ lo âu khác thường trên hai
nhóm học sinh khác nhau từ các Khoa khác nhau tuổi từ 17-25 tuổi. Nghiên cứu thử gồm
210 nữ và 170 nam sinh viên để đánh giá quy mô của thử nghiệm [92]. Điểm số giữa các
nhóm trầm cảm và lo âu. Xem xét và phân tích tỉ lệ tham gia của sinh viên trong hoạt động
thể chất ở mức độ cần thiết để thu được lợi ích sức khỏe. Nghiên cứu 19 trường tiểu học
(xuất bản 1985-2001) đại diện cho tổng số 35.747 sinh viên (20.179 phụ nữ và 15.568 nam
giới) từ tổng số 27 quốc gia (Australia, Canada, Trung Quốc, Đức, Nigeria, Hoa Kỳ, và 21
nước châu Âu) được mô tả và số tiền của hoạt động được xác định trong từng nghiên cứu
được phân tích theo quy định của trường Cao đẳng Y học thể thao Mỹ (ACSM) hướng dẫn
cho các hoạt động thể chất. Đối với các nguyên tắc này, hơn một nửa số sinh viên đại học ở
Hoa Kỳ và Canada không hoạt động đủ để đạt được lợi ích sức khỏe. Quốc tế, cũng đúng,
mặc dù sinh viên Úc xuất hiện để có mức cao nhất của hoạt động đầy đủ (60%). Phụ nữ, và
đặc biệt là phụ nữ Mỹ gốc Phi, là một trong những ít nhất học sinh tích cực, và sinh viên

Để khám phá những vấn đề tâm lý hiện nay giữa y tế và sinh viên khoa Nha tại Iraq.
Nghiên cứu này được thực hiện tại Khoa Dược, Đại học Y khoa, Đại học Mustansiriya,
Baghdad, Iraq từ tháng 01- 5/2009. Tổng cộng có 440 sinh viên Y khoa và Nha khoa được
yêu cầu để hoàn thành 12 mục (GHQ-12) và 30-mục (GHQ-30). Đo lường mức độ stress
tâm lý của họ. Căn cứ vào GHQ-12, sử dụng đơn giản cho điểm thái độ (Likert), điểm>12
những sinh viên được phân loại là có khả năng bệnh tâm lý. Không có sự khác nhau có ý
nghĩa thống kê của sinh viên 2 nhóm này (50,6%; 89 trong số 176) và y khoa (51,1%; 135
trong số 264), với một tỷ lệ tỷ số số chênh là 1,138. Dựa trên GHQ-30, các trường hợp có
thể xảy ra (≥5 điểm) đã được báo cáo có ý nghĩa (p
lệ rối nhiễu tâm lý trong sinh viên, bằng cách tăng cường tính hy vọng cho sinh viên. Sức


khỏe Tâm lý cần được quan tâm và xem trọng trong chính sách và các vấn đề liên quan đến
sinh viên [24].
Thực trạng stress, trầm cảm, lo âu ở trên 1078 học sinh THPT của Lê Anh Tuấn và
cộng sự xác định tỉ lệ bị stress, trầm cảm, lo âu và các yếu tố liên quan (bao gồm các yếu tố
nhà trường, gia đình, bạn bè), có 66,5% học sinh bị stress, 46,3% học sinh bị trầm cảm,
73,9% học sinh bị lo âu và 34,1% học sinh bị cả ba hội chứng trên [21]. Nam giới bị rối loạn
lo âu thấp hơn nữ giới là 0,92 lần, những học sinh có chơi thể thao bị stress và trầm cảm ít
hơn những học sinh không chơi thể thao, stress sẽ giảm đi 87% và trầm cảm sẽ giảm 78%.
Nghiên cứu cũng cho thấy yếu tố gia đình cũng không kém phần quan trọng. Những học
sinh sống chung cùng cha mẹ bị trầm cảm và stress thấp hơn so với những học sinh không
sống chung đầy đủ với cha mẹ, cụ thể là stress sẽ giảm 8,2% và trầm cảm sẽ giảm 7,7%.
Một nhóm tác giả khảo sát hình tượng về sức khỏe tâm thần trong dân số chung ở
Tp.Hồ Chí Minh trong năm 2002 của Bệnh viện Tâm thần cho thấy cộng đồng hiểu biết về
sức khỏe tâm thần còn ít và phiến diện tuy nhiên có sự đồng ý cao với khái niệm cuộc sống
hạnh phúc là cuộc sống không có bệnh tật và chan hòa tình cảm của bản thân với mọi người
xung quanh.
Nghiên cứu mới đây tại Việt Nam như bạo lực tình dục [58], [62], stress trong việc nuôi
nấng con cái [20], làm giảm yếu tố nguy cơ [59], đo lường nguồn vốn xã hội [44], chương
trình liên kết châu Á [49] nghiên cứu định tính trong số các nhân viên y tế và lãnh đạo các
cấp huyện, xã, thuộc các huyện nông thôn phía Bắc Việt Nam, 20 nam và 20 nữ tham gia
vào thảo luận nhóm có trọng tâm. Những người cung cấp thông tin tin rằng bạo lực không
chỉ ảnh hưởng về thực thể mà còn cả về sức khỏe tâm lý của phụ nữ. Lạm dụng tình dục
được đề cập ít nhất. Bạo lực tình dục (BLTD) được xem là riêng tư và không được thảo luận
cởi mở trong cộng đồng. Phụ nữ sẽ tìm kiếm sự CSSK chỉ trong những trường hợp rất
nghiêm trọng. Các nhóm hòa giải ở địa phương được dùng để dàn xếp các trường hợp
BLTD. Nhân viên y tế dư thừa trong việc can thiệp. Nhân viên y tế có nhận thức về BLTD
và lên án nó, nhưng không được chuẩn bị để can thiệp. Tình trạng này thường do không biết

mặt địa lý nội tại trong tần suất các rối nhiễu tâm lý thường gặp (CMD). Loại trừ Việt Nam,
khoảng 1 phần 3 các bà mẹ hầu như không nhận được sự hỗ trợ về mặt kinh tế, thiết bị hay
tình cảm từ những người khác [84]. Việt Nam có mức hỗ trợ cao hơn các nước khác một
cách có ý nghĩa. Ở Việt Nam, dưới 4% không nhận được hỗ trợ từ bất cứ nguồn nào và 85%
nhận được từ 2 nguồn trở lên. Kết quả chính là nguồn vốn XH theo nhận thức ở cấp độ cá
nhân có liên quan hằng định ở 4 quốc gia với một sự chia đều của các tỉ số chênh về CMD.
Kết quả này hiện diện ở 4 quốc gia trong các phân tích thô và có điều chỉnh. Quan hệ nhân
quả không được suy ra vì thiết kế nghiên cứu là mô tả cắt ngang. Đối tượng nghiên cứu,
những người có cái nhìn bi quan có thể tường thuật nhiều hơn về sức khỏe tâm lý kém và
cũng tường thuật nhiều hơn về nguồn vốn XH thấp kém.
Khác biệt về sức khỏe liên quan đến tình trạng kinh tế xã hội (TTKTXH) đã được các
nhà nghiên cứu mô tả trong nhiều thập kỷ qua. Những người thuộc vị thế XH cao hơn
thường có được đời sống sức khỏe tốt hơn những người thuộc vị thế thấp. Mức chênh này
liên quan đến tỉ lệ tử vong do mọi nguyên nhân [32] và gặp ở hầu hết các điều kiện và tình
trạng bệnh [66]. Mặc dù có nhiều yếu tố giải thích mối liên quan giữa TTKTXH và sức
khỏe, những yếu tố về rối nhiễu cảm xúc-nhận thức (như trầm cảm) đóng một vai trò đặc
biệt quan trọng [85], [97]. Những nghiên cứu về mối liên quan giữa TTKTXH và trầm cảm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status