Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019
Nghiên cứu Y học
KHẢO SÁT MỐI LIÊN QUAN GIỮA TUÂN THỦ DÙNG THUỐC
VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2
TẠI PHÒNG KHÁM NỘI TIẾT - BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Dương Chí Hồng*, Quách Diệu Ái*, Nguyễn Thị Mai Hoàng*
TÓMTẮT
Mở đầu: Tuân thủ điều trị giữ vai trò quan trọng trong điều trị các bệnh mạn tính cũng như đái tháo
đường (ĐTĐ).
Mục tiêu: Khảo sát tình hình tuân thủ dùng thuốc điều trị ĐTĐ type 2 tại phòng khám Nội tiết - Bệnh
viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh (BV ĐHYD), mối liên quan giữa tuân thủ dùng thuốc với hiệu quả
điều trị và xác định các yếu tố liên quan đến tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân (BN).
Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, phỏng vấn trực tiếp 250 BN
ĐTĐ type 2 từ 18 tuổi trở lên, sử dụng thuốc ĐTĐ đường uống ≥ 6 tháng và có giá trị HbA1c trong vòng 6
tháng gần nhất. Tuân thủ dùng thuốc được đánh giá dựa trên bộ câu hỏi MMAS-8.
Kết quả: Có 67,6% BN tuân thủ dùng thuốc (19,6% tuân thủ tốt và 48,0% tuân thủ trung bình). Các
yếu tố ảnh hưởng tuân thủ gồm tuổi (p = 0,002), số lần dùng thuốc trong ngày (p < 0,001) và chế độ điều
trị phức tạp (p = 0,002). Nghiên cứu ghi nhận mối tương quan yếu (rho = -0,285; p < 0,001) giữa tuân thủ
dùng thuốc và giá trị HbA1c của BN.
Kết luận: Mức độ tuân thủ dùng thuốc của BN ĐTĐ type 2 tại phòng khám Nội tiết – BV ĐHYD ở
mức trung bình. Kết quả nghiên cứu gợi ý cần đơn giản hóa chế độ dùng thuốc (ít thuốc, ít lần sử dụng
trong ngày) hơn nữa nhằm cải thiện tuân thủ của bệnh nhân.
Từ khóa: Tuân thủ dùng thuốc, đái tháo đường type 2, hiệu quả điều trị, yếu tố liên quan
ABSTRACT
INVESTIGATION ON RELATIONSHIP BETWEEN MEDICATION ADHERENCE AND
TREATMENT OUTCOMES IN TYPE 2 DIABETIC PATIENTS
Results: Among 67.6% of patients who were considered medication adherence, the rate of good and moderate
adherence were 19.6% and 48.0%, respectively. Medication adherence were associated with patients’ age (p =
0.002), number of doses per day (p < 0.001) and complexity of medication regimen (p = 0.002). There was a weak
correlation (rho = -0.285, p < 0.001) between medication adherence and patients’ HbA1c.
Conclusions: Medication adherence rate at the Endocrinology Clinic of University Medical Center at
Ho Chi Minh City is moderate. The results suggest that efforts should be made to simplify the therapeutic
regimen (fewer drugs, fewer daily frequency of drug use) to improve patients’ adherence.
Key words: Medication adherence, type 2 diabetes, treatment outcomes, associated factors.
đặc điểm BN (tên, tuổi, giới tính, trình độ học vấn,
ĐẶTVẤNĐỀ
nghề nghiệp, thời gian mắc bệnh, bệnh kèm), đặc
Đái tháo đường (ĐTĐ) type 2 là một trong
điểm điều trị (thuốc, liều, cách dùng, các kết quả
các bệnh mạn tính phổ biến nhất trên thế giới.
xét nghiệm đường huyết và HbA1c) và tuân thủ
Việc điều trị kéo dài và tốn kém gây ra thách
dùng thuốc. Bộ câu hỏi Morisky 8 câu (MMAS-8)
thức lớn đối với vấn đề tuân thủ dùng thuốc ở
được sử dụng để đánh giá tuân thủ dùng thuốc.
bệnh nhân (BN)(8). Việc nhận diện các BN gặp
BN được xem là tuân thủ điều trị khi đạt từ 6
khó khăn trong việc tuân thủ dùng thuốc điều trị
điểm trở lên. Trong đó, BN tuân thủ tốt khi đạt 8
cũng như các yếu tố góp phần cản trở tuân thủ
điểm và tuân thủ trung bình khi đạt 6 – 7 điểm(11).
sẽ giúp bác sĩ có chiến lược thích hợp nhằm gia
Hiệu quả điều trị được đánh giá dựa vào khuyến
tăng tuân thủ cũng như cải thiện hiệu quả điều
cáo của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA)
trị. Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm
đường uống trong ít nhất 6 tháng với ít nhất 1 giá
biến được xác định dựa vào hệ số tương quan
trị HbA1c được ghi nhận trong vòng 6 tháng trước
Spearman (rho) và hồi quy logistic đa biến
nghiên cứu. Các BN được chọn để phỏng vấn trực
được dùng để xác định các yếu tố liên quan
tiếp bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện với
đến tuân thủ dùng thuốc. Các phép kiểm
bảng câu hỏi được thiết kế sẵn gồm các câu hỏi về
222
Chuyên Đề Dược
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019
Nghiên cứu Y học
thống kê được thực hiện bằng phần mềm SPSS
22.0 với độ tin cậy 95%.
huyết đường uống và 225 BN (90,0%) được chỉ
KẾTQUẢ
104 BN (46,2%) được chỉ định dạng viên phối hợp.
Đặc điểm BN và đặc điểm điều trị
là 64,4% và 74,4%. Ngoài ra, có 42 bệnh nhân
(16,8%) được ghi nhận có các biến chứng của
ĐTĐ như biến chứng thận, biến chứng thần kinh.
Về thuốc điều trị, nghiên cứu ghi nhận được
có 171 BN (68,4%) chỉ sử dụng các thuốc hạ đường
Bảng 1: Kết quả trả lời bộ câu hỏi MMAS-8
Câu hỏi
Số BN trả lời Tỷ lệ (%)
“CÓ”
Cô/bác/anh/chị có đôi lúc quên uống thuốc điều trị đái tháo đường không ?
117
46,8
Trong 2 tuần qua, có ngày nào cô/bác/anh/chị không dùng thuốc điều trị đái tháo đường ?
59
23,6
Cô/bác/anh/chị có từng bỏ hay ngưng uống thuốc mà không báo bác sĩ vì cô/bác/anh/chị cảm
9
3,6
thấy mệt khi dùng thuốc ?
Khi cô/bác/anh/chị đi du lịch, đi chơi, có đôi lúc cô/bác/anh/chị quên mang theo thuốc không ?
38
15,2
Cô/bác/anh/chị có uống đủ thuốc ngày hôm qua không ?
238
95,2
Thỉnh thoảng, cô/bác/anh/chị có ngưng dùng thuốc khi cảm thấy đường huyết đã được kiểm
16
6,4
soát không ?
Chuyên Đề Dược
(45,6% so với 26,3%, p = 0,004 và 29,9% so với
9,9%, p = 0,001). Ngoài ra, có mối tương quan
yếu giữa tuân thủ dùng thuốc và giá trị HbA1c
(rho = -0,285; p < 0,001).
Các yếu tố liên quan với tuân thủ dùng thuốc
Bảng 2 trình bày kết quả so sánh đặc điểm
BN và đặc điểm điều trị giữa 2 nhóm tuân thủ
và không tuân thủ dùng thuốc điều trị ĐTĐ.
223
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019
Bảng 2: So sánh đặc điểm BN và đặc điểm dùng thuốc giữa 2 nhóm BN
Đặc điểm
Tuổi
Có việc làm
Trình độ học vấn
- Cấp 1
- Cấp 2 + cấp 3
- Đại học
Thời gian điều trị ĐTĐ (năm)
Số thuốc điều trị
Số lần dùng thuốc trong ngày
Có chế độ dùng thuốc phức tạp
Dựa trên kết quả phân tích đơn biến, các biến
độc lập gồm “tuổi”, “số thuốc điều trị”, “số lần
dùng thuốc trong ngày” và “chế độ dùng thuốc
phức tạp” có khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2
nhóm có và không tuân thủ dùng thuốc. Do đó,
các biến này được sử dụng để xây dựng mô hình
hồi quy logistic. Tuy nhiên, “số thuốc điều trị” có
tương quan mạnh với “số lần dùng thuốc trong
p
0,008
0,056
0,191
0,310
< 0,001
0,001
< 0,001
0,365
ngày” (rho = 0,556; p < 0,001) và “chế độ dùng
thuốc phức tạp” (rho = 0,503; p < 0,001). Vì vậy,
biến “số thuốc điều trị” được loại khỏi mô hình
hồi quy. Mô hình hồi quy logistic đa biến được
xây dựng với biến phụ thuộc là “tuân thủ (có/
không)” và các biến độc lập gồm “tuổi”, “số lần
dùng thuốc trong ngày” và “chế độ dùng thuốc
phức tạp”. Kết quả được trình bày trong bảng 3.
Bảng 3: Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ dùng thuốc
Yếu tố
Khoảng tin cậy (KTC) 95% của OR
1,017 – 1,079
0,303 – 0,705
0,216 – 0,696
P
0,002
< 0,001
0,002
ĐTĐ gây ra chưa?”, có 85 BN (34,0%) nghĩ rằng
họ đã từng mắc tác dụng phụ của thuốc ĐTĐ.
Trong số những BN nghĩ mình từng bị tác dụng
phụ của thuốc ĐTĐ, chỉ có 5 BN (5,9%) biết
chính xác mình đã từng bị hạ đường huyết quá
mức. Có 27 BN (31,8%) mô tả lại các triệu chứng
như đổ mồ hôi, đói cồn cào, run tay chân … mà
không biết đó là những dấu hiệu của hạ đường
huyết quá mức. Đáng lưu ý là có 9 BN (3,6%) tự
ý ngưng thuốc điều trị mà không có ý kiến của
bác sĩ. Điều này cho thấy hiểu biết của BN về tác
dụng phụ của thuốc cùng với cách xử trí chưa
nhiều. Do đó, cần tăng cường công tác tư vấn,
giải thích các tác dụng phụ mà BN có thể gặp
phải trong quá trình dùng thuốc và cách xử trí
để đảm bảo sử dụng thuốc an toàn. Việc này
cũng có thể giúp cải thiện tuân thủ điều trị ở BN.
Thật vậy, theo một vài nghiên cứu trước đây, tác
dụng phụ, đặc biệt là hạ đường huyết quá mức
vào bác sĩ điều trị và họ biết rằng cần duy trì việc
điều trị lâu dài theo chỉ định. Tuy nhiên, trong số
các bệnh nhân trả lời «không», vẫn có một số BN
tự giảm liều thuốc khi đã kiểm soát được đường
huyết mà không thông báo với bác sĩ. Điều này
có thể ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả điều
trị. Do đó, cần chú ý giải thích cho BN hiểu được
tầm quan trọng của việc duy trì chế độ dùng
thuốc trong việc kiểm soát bệnh ĐTĐ trong quá
trình tư vấn điều trị.
Mối tương quan giữa tuân thủ dùng thuốc
và hiệu quả điều trị trong nghiên cứu này gợi
ý rằng cải thiện tuân thủ là một trong những
yếu tố có thể góp phần làm tăng hiệu quả
kiểm soát ĐTĐ. Tuy nhiên, đây là mối tương
quan yếu (rho < 0,4). Thật vậy, dù tỉ lệ bệnh
nhân tuân thủ dùng thuốc chiếm 67,6%, tỷ lệ
BN kiểm soát được HbA1c chỉ chiếm 23,0%. Sự
chênh lệch này có thể được giải thích bằng
nhiều lí do. Thứ nhất, BN có thể mô tả tuân
Chuyên Đề Dược
Nghiên cứu Y học
thủ của mình tốt hơn so với thực tế khi trả lời
khảo sát, đây cũng là một nhược điểm của bộ
câu hỏi MMAS-8 nói riêng và phương pháp
dùng bộ câu hỏi khảo sát nói chung. Thứ hai,
điều trị bằng thuốc chỉ là một phần trong việc
đối tượng BN trẻ để có thể hiểu đúng về bệnh và
tuân thủ điều trị tích cực hơn.
Tương tự với kết quả của nghiên cứu này, mối
tương quan nghịch giữa tuân thủ dùng thuốc và
số thuốc ĐTĐ dùng trong ngày cũng được đề cập
đến trong nghiên cứu DARTs(4). Cùng với sự tiến
triển của bệnh, theo thời gian số thuốc ĐTĐ mà
bệnh nhân sử dụng cũng tăng lên. Thông thường,
để đạt được HbA1c mục tiêu, BN phải sử dụng ít
nhất 2 loại thuốc hạ đường huyết(7). Hơn nữa, việc
sử dụng nhiều nhóm thuốc cho phép BN có thể sử
225
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019
dụng thuốc với liều thấp hơn, từ đó hạn chế được
tác dụng không mong muốn do thuốc gây ra. Do
đó, nhân viên y tế cần cân nhắc giữa lợi ích và
nguy cơ để BN có thể sử dụng số lượng thuốc hợp
lý nhất. Trong một số nghiên cứu trước đây, để
BN có thể tuân thủ dùng thuốc tốt, số lượng thuốc
dùng trong ngày của BN không nên vượt quá 4
thuốc một ngày(9,10).
Đa số BN trong nghiên cứu này được chỉ định
dùng thuốc 2 lần/ngày. Số lần dùng thuốc lớn
nhất là 4 lần/ngày, thường gặp ở những BN điều
nhiều lần trong ngày là hai yếu tố liên quan đến
226
tuân thủ dùng thuốc kém. Do đó, cần đẩy mạnh
công tác tư vấn cho bệnh nhân, đặc biệt là đối
tượng BN trẻ tuổi và đơn giản hóa chế độ điều
trị nhằm nâng cao khả năng tuân thủ của BN và
từ đó giúp cải thiện hiệu quả kiểm soát ĐTĐ.
TÀILIỆUTHAMKHẢO
1.
American Diabetes Association (2018). Diabetes Care. The
journal of clinical and applied research and education, 41 (S1).
2.
Baudrant-Boga M, Lehmann A, Allenet B (2012). Penser
autrement l’observance médicamenteuse: d’une posture
injonctive à une alliance thérapeutique entre le patient et le
soignant – Concepts et déterminants. Annales Pharmaceutiques
Françaises, 70: pp.15 - 25.
3. Cramer J. (2004). A systematic review of adherence with
medications for diabetes. Diabetes Care, 5: 1218 - 1224.
4. Donnan PT, MacDonald TM, Morris AD (2002). Adherence
to prescribed oral hypoglycaemic medication in a
population of patients with type 2 diabetes: a retrospective
cohort study. Diabetic medicine: a journal of the British
Diabetic Association, 19: pp.279-284.
5.
Jackson IL, Adibe MO, Okonta MJ, et al. (2015). Medication
contributors. Patient Preference and Adherence, 10: pp.1299–1307.
Ngày nhận bài báo:
18/10/2018
Ngày phản biện nhận xét bài báo:
01/11/2018
Ngày bài báo được đăng:
15/03/2019
Chuyên Đề Dược