Tóm tắt Luận văn Tiến sĩ Sinh học: Nghiên cứu địa mạo sinh thái làm cơ sở định hướng, sử dụng hợp lý lãnh thổ tỉnh Nghệ An - Pdf 59

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận án
Ngày nay, ở nước ta và nhiều nơi trên thế giới con người đang
phải đối mặt với một vấn đề ngày càng trầm trọng của xung đột môi
trường tạo nên bởi chính sự can thiệp của con người vào tự nhiên
trong quá trình phát triển của mình. Hệ quả của nó là làm càn kiệt
nguồn tài nguyên hiện tại, biến đổi tự nhiên theo hướng tiêu cực, dẫn
tới bối cảnh khó khăn đối với phát triển của các thế hệ tương lai. Một
phần của nguyên nhân là con người còn có nhiều hạn chế trong nhận
thức về tự nhiên để có thể tổ chức các hoạt động của mình cho phù
hợp với tự nhiên, hướng tới phát triển bền vững.
Phát triển bền vững, hài hoà giữa lợi ích kinh tế - môi trường
và xã hội là nhu cầu tất yếu của mọi quốc gia, vùng lãnh thổ. Nghệ
An đã xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH và Quy hoạch
cho từng ngành đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, trong đó
những vấn đề về sinh thái – môi trường và xã hội đã được đề cập
nhưng các giải pháp phát triển chưa thực sự dựa trên những luận cứ
khoa học.
Từ thực tế trên cho thấy, cần thiết phải nghiên cứu thiết lập cơ
sở khoa học cho việc tổ chức sử dụng lãnh thổ hướng tới phát triển
bền vững tỉnh Nghệ An. Vì vậy, NCS chọn đề tài: “Nghiên cúu địa
mạo sinh thái làm cơ sở định hướng, sử dụng hợp lý lãnh thổ tỉnh
Nghệ An”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ các điều kiện địa mạo sinh thái (ĐMST) tỉnh Nghệ An.
Trên cơ sở đó đề xuất định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ, hướng
tới mục tiêu phát triển bền vững tỉnh Nghệ An.
3. Nội dung nghiên cứu
- Tổng quan về địa mạo sinh thái;

- Thể hiện kết quả nghiên cứu sự phân hóa ĐMST Nghệ An bằng
bản đồ ĐMST và phân vùng ĐMST ở tỉ lệ 1/200.000 làm cơ sở
khoa học và thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp mang định
hướng PTBV cho từng đơn vị phân vùng ĐMST.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án
Ý nghĩa khoa học: Góp phần phát triển hướng nghiên cứu
ĐMST tại Việt Nam; Trên quan điểm chủ đạo là địa lý hệ thống,
làm sáng tỏ bản chất và quá trình biến động của các thành phần tự
nhiên, thực trạng của hoạt động KT-XH và những vấn đề môi
trường có liên quan. Từ đó đề xuất hướng phát triển KT-XH theo
định hướng bền vững. Vì vậy, luận án đã góp phần hoàn thiện thêm
phương pháp luận trong nghiên cứu lãnh thổ phục vụ mục tiêu sử
dụng hợp lý TNTN và BVMT.
Ý nghĩa thực tiễn: Những kiến nghị định hướng bố trí các hoạt
động phát triển theo các đơn vị ĐMST, phân vùng ĐMST là một cơ
sở khoa học đối với các nhà hoạch định chính sách của địa phương
trong quá trình thực hiện và điều chỉnh quy hoạch phát triển KT-XH
của tỉnh Nghệ An đến năm 2030.
8. Cơ sở tài liệu
8.1. Các công trình khoa học tác giả tham gia thực hiện có liên
quan đến luận án


3

Một số nghiên cứu chính:
+ Mai Trọng Thông và nnk. Sử dụng hệ thông tin địa lý và phần
mềm cẩm nang môi trường để xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ lập
quy hoạch môi trường. Đề tài cấp Bộ KHCN&MT (2001-2003).
+ Mai Trọng Thông và nnk. Quy hoạch bảo vệ môi trường thành



4

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận về nghiên cứu địa mạo sinh thái
1.1.1. Khái niệm Địa mạo sinh thái
a). Định nghĩa
Darwin (1881), đề cập đến khía cạnh địa mạo sinh thái khi
nghiên cứu vai trò của giun đất trong thành tạo tầng đất và phát triển
thảm thực vật [63], Cowles H.C (1899) xem xét mối liên hệ sinh
thái của thực vật vùng đụn cát hồ Michigan [68]. Đây là những tác
giả được xem đặt nền móng cho hướng nghiên cứu khoa học này.
Thuật ngữ ĐMST được các nhà khoa học sử dụng như:
Timofeev D.A (1991), Hupp và nnk (1995), Butler và nnk (1995),
Julie Simard J (2010), Joseph M và nnk (2011), Butler David R
(2013)... và được xác định trong các từ điển Địa lý Nga (năm 2015)
là “... nghiên cứu ảnh hưởng của địa hình và các quá trình thành
tạo địa hình lên sinh vật, trong đó có con người”[91]. Tuy còn có
khác biệt nhất định, nhưng cơ bản ĐMST được xem là một chuyên
ngành của địa mạo học, sử dụng cách tiếp cận sinh thái trên nguyên
tắc đa ngành và liên ngành, nhằm hướng tới mục tiêu PTBV.
b). Đối tượng và nhiệm vụ của địa mạo sinh thái
Đối tượng nghiên cứu của ĐMST là mối tương tác giữa các hệ
địa mạo với các điều kiện sống và hoạt động của xã hội loài người
(nói rộng ra là hoạt động của thế giới sinh vật, trong đó có con
người).
ĐMST có 2 nhiệm vụ:
1). Phân tích trạng thái của các hệ địa mạo và những thay đổi

Địa học

Địa mạo
sinh thái

Địa mạo
thủy văn

Địa mạo
sinh học
Địa mạo sinh
động lực

Sinh thái học

Thủy văn sinh học
Sinh thái
Thủy văn
Thủy văn
sinh thái

Thủy văn
học

Hình 1.2. vị trí của khoa học ĐMST trong các ngành khoa học cơ bản

b. Tại Việt Nam
- Lại Huy Anh, Tống Phúc Tuấn, 2005 “Nghiên cứu địa mạo
sinh thái trong quy hoạch tổ chức lãnh thổ (lấy khu bảo tồn thiên
nhiên Kẻ Gỗ làm thí dụ)”.

giữa các đơn vị ĐMST. Cách tiếp cận này dựa trên các quan điểm
địa lý tổng hợp và phát triển bền vững cho các đơn vị lãnh thổ.
Cách tiếp cận trên theo quan điểm tổng hợp, quan điểm lãnh
thổ và quan điểm phát triển bền vững.
1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng tiến hành nghiên cứu gồm:
thu thập, phân tích xử lý số liệu và khảo sát thực địa; phân tích ảnh
viễn thám; phân tích hình thái và trắc lượng hình thái; động lực hình
thái; nguồn gốc - hình thái; Phương pháp đánh giá tổng hợp; Bản đồ
và hệ thông tin địa lý; xác định chỉ số mức độ ổn định địa mạo sinh
thái.
● Kỹ thuật xác định chỉ số mức độ ổn định địa mạo sinh thái
Mỗi lớp thông tin đối tượng với điểm đánh giá mức độ ổn định
ĐMST được chuẩn hóa điểm số theo thang từ 0 đến 1. Trong đó
mức ổn định ĐMST nhỏ nhất nhận giá trị 0 và lớn nhất nhận giá trị


7

1. Chỉ số độ ổn định ĐMST được xác định bằng trung bình cộng giá
trị của các lớp thông tin đã được chuẩn hóa theo thang giá trị 0-1.
1.3. Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu của luận án được thể hiện trong hình 1.6,
gồm 3 bước: thu thập tài liệu, khảo sát, cập nhật tài liệu, khảo sát bổ
sung; phân tích đánh giá đặc điểm ĐMST, xác định chỉ số ổn định
ĐMST, phân vùng ĐMST; Đề xuất sử dụng hợp lý lãnh thổ.
Phƣơng pháp luận
nghiên cứu ĐMST: xác
định đối tượng, mục tiêu,
nhiệm vụ

thể hiện kết quả trên bản
đồ tỉ lệ 1/200.000.
Đề xuất tổ chức lãnh thổ :
trên cơ sở phân vùng
ĐMST để đề xuất định
hướng PTBV.

Hình 1.6. Sơ đồ quy trình nghiên cứu
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1
ĐMST là hướng nghiên cứu chuyên ngành của Địa mạo học,
chính thức được định danh hơn 100 năm qua. Tuy nhiên, nghiên cứu
ĐMST còn khá mới mẻ ở Việt Nam.
Thông qua các văn liệu cho thấy định nghĩa về ĐMST còn tồn
tại nhiều tranh luận, song về cơ bản đều thống nhất là hướng nghiên
cứu địa mạo và sinh thái trong mối tương tác qua lại trong tổng thể
hệ thống thống nhất. Đây là cơ sở để xác định đối tượng, mục tiêu
và phương pháp nghiên cứu, đồng thời kết quả nghiên cứu địa mạo
có cơ sở khoa học cho phép đề xuất các giải pháp tổ chức lãnh thổ
theo định hướng PTBV.


8

CHƢƠNG 2. CÁC NHÂN TỐ THÀNH TẠO ĐỊA MẠO SINH
THÁI TỈNH NGHỆ AN
2.1. Đặc điểm các nhân tố tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lý
Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm của vùng Bắc Trung Bộ, Phía
Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía Nam giáp với tỉnh Hà Tĩnh, phía Tây
giáp với Lào, phía Đông giáp với biển Đông.



9

bình với diện tích 15.346 km2 chiếm tới 93,1% diện tích tỉnh với
chiều dài là 361 km.
Hàng năm, lượng nước trên bề mặt tỉnh Nghệ An đổ vào các
sông suối trung bình là 13,5 tỷ m3 nước ứng với lớp dòng chảy 820
mm với hệ số dòng chảy đạt 0,47.
Tài nguyên nước mặt tỉnh Nghệ An được phân chia thành 5
vùng với những khả năng khai thác khác nhau: (1) Khu vực sông
Hoàng Mai; (2) Khu vực Thượng nguồn sông Cả; (3) Khu vực trung
lưu sông Cả; (4) Khu vực sông Hiếu; (5) Khu vực hạ du sông Cả.
2.1.6. Đặc điểm địa chất thuỷ văn
Nghệ An có 3 nhóm thành tạo chứa nước: Nhóm tầng chứa nước
lỗ hổng; Nhóm tầng chứa nước khe nứt; Nhóm thành tạo nghèo nước.
Mức độ chứa nước dưới đất của lãnh thổ ở mức trung bình đến nghèo.
Khả năng huy động nguồn nước dưới đất cho phát triển KTXH trong
điều kiện kinh tế kỹ thuật hiện nay là hạn chế.
2.1.7. Đặc điểm thổ nhưỡng
Theo phân loại nguồn gốc gồm 2 nhóm nguồn gốc chính (đất
thuỷ thành và đất địa thành). Đất thủy thành có diện tích 247.774 ha
chiếm gần 16% DTTN. Tuy chiếm tỉ lệ nhỏ, đất thủy thành rất nhạy
cảm với biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng, đồng thời đây
cũng là khu vực chịu tác động cao của hoạt động phát triển của con
người. Đất địa thành, phần lớn phát triển lâm nghiệp, cây công
nghiệp lâu năm, xong đã ghi nhận những biến động tiêu cực.
2.1.8. Đặc điểm thực, động vật
Các HST tự nhiên dần thay thế bằng các HST nhân tác. Thậm
chí các HST tự nhiên dạng VQG, KBT cũng bị xâm hại đáng kể.

Một phần đáng kể diện tích đang và đã được quy hoạch cho các
mực đích xây dựng cơ sở hạ tầng, các KCN, CCN tiềm ẩn những rủi
ro môi trường lớn.
Ở vùng đồi núi, đất xen nương rãy khá phổ biến, hiệu quả xản
xuất kém và gây nhiều vấn đề về môi trường. Đất lâm nghiệp chưa
được khai thác hiệu quả, các tập đoàn cây rừng trồng chưa có khả
năng duy trì và cải thiện sức sản xuất của đất, các khu vực VQG,
KBTTN luôn trong tình trạng đe dọa của các hoạt động xâm hại.
Hiệu quả hoạt động kinh tế thấp là thách thức đòi hỏi phải có giải
pháp pháp triển đối với cộng đồng các dân tộc ít người.
2.3. Hiện trạng môi trƣờng, nguy cơ tai biến tỉnh Nghệ An
2.3.1. Hiện trạng môi trường
Theo báo cáo Hiện trạng môi trường tỉnh Nghệ An giai đoạn
2010-2014 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ cóthể nhận
xét rằng: Trong thời gian qua do tăng cường khai thác, sử dụng tài
nguyên để phục vụ mục đích tăng trưởng kinh tế cũng làm nảy sinh
các nguy cơ tiềm ẩn cũng như gây sức ép tới môi trường như các
ngành công nghiệp khai thác khoáng sản, chế biến lâm sản, công
nghiệp thủy điện, xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt động này đã tác


11

động trực tiếp đến môi trường nước và hệ sinh thái. Ngoài ra, việc
phát triển không đồng bộ, ồ ạt các dự án đầu tư vào lĩnh vực du lịch
nhất là du lịch sinh thái nhưng chưa có bài toán cụ thể về vấn đề
BVMT sinh thái…
2.3.2. Tai biến chi phối đặc điểm địa mạo sinh thái tỉnh Nghệ An
Tai biến chi phối đặc điểm ĐMST được xem là các dạng tai
biến xuất hiện gây tổn hại tới các hệ sinh thái và cuối cùng là gây



12

sự tương tác giữa chế độ nhiệt - ẩm, quy định loại hình và cường độ
các quá trình biến đổi địa hình. Đối chiếu với biểu đồ tổng quát của
Ông, Nghệ An thống trị phong hóa hóa học, trượt lở, xói mòn do
dòng chảy. Phong hóa cơ học chỉ có tính thống trị ở một số nơi với
điều kiện mưa thấp và nhiệt thấp. Sự phân hóa này có liên quan mật
thiết với chế độ mưa của các khu vực khác nhau. Tuy nhiên những
giá trị trung bình này có thể bị xóa nhòa do những đột biến thời tiết
mà ngày nay càng được ghi nhận nhiều hơn.
Nhân tố thuỷ văn
Cần nhấn mạnh thêm ở đây là hệ thống hồ thủy lợi, thủy điện,
đê điều đã và đang xây dựng như là một sự can thiệp lớn của con
người vào các quá trình tự nhiên.
Nhân tố nước dưới đất
Nước dưới đất đóng vai trò trong sự thành tạo địa hình thông
qua việc gia tăng tải trọng thân trượt, kích hoạt mặt trượt và là một
yếu tố chi phối quá trình phong hoá. Trong giai đoạn quy hoạch tới
năm 2020, vai trò nước dưới đất không thể hiện sự biến động gây
ảnh hưởng đến mức độ ổn định ĐMST của tỉnh so với hiện nay.
Nhân tố lớp phủ đất
Lớp phủ đất Nghệ An khá dễ dàng bị phá huỷ bởi các quá
trình bóc mòn, xâm thực… nhất là trong điều kiện sườn dốc như
vùng núi tỉnh Nghệ An. Với mỗi loại đất có khả năng chi phối khác
nhau tới độ ổn định ĐMST của khu vực, nhất là trong điều kiện
nhiều diện tích, tầng bề mặt đất đã phát sinh tàn dư sỏi sạn và chỉ
được che chắn bởi thảm thực vật đơn tán, hoặc bị cày xới không
hợp lý.

chảy vịnh Bắc bộ và Biển Đông. Xu hướng chung sụt giảm vật liệu
từ hệ thống sông đưa ra (chủ yếu do hệ thống hồ, đập), hoặc biến
đổi mạnh sự phân bố vật liệu (do các phương thức sử dụng lãnh thổ
ở phần thượng lưu các con sông) sẽ chi phối tới hoạt động của các
dòng hải văn mà phần lớn nghiêng về chế độ xói lở.
Nhân tố dao động mực biển (dao động chu kỳ dài)
Vai trò của chúng đã được nhiều học giả thừa nhận, tuy nhiên
trong nội dung luận án không đề cập đến dạng động lực này.
2.4.3. Nhóm nhân tố con người
Vai trò của hoạt động nhân sinh đến thành tạo và phát triển địa
hình và các HST là rất to lớn, tuy nhiên để đánh giá nó cần phải có
các phương pháp và phương tiện đo đạc, nhưng cho đến nay vẫn
chưa có tài liệu nghiên cứu toàn diện về vấn đề này ở Nghệ An.
2.4.4. Nhóm nhân tố tai biến
Được xem như là hệ quả của sự tương tác giữa tự nhiên con
người và cuối cùng chi phối đến độ an toàn của các giá trị lợi ích
của con người cũng như sức khỏe HST. Dạng tai biến chính thường
xảy ra ở Nghệ An là ngập lụt, lũ. Trượt lở, đổ lở, xói lở, thoái hóa
đất, khô hạn, động đất và sóng thần là các dạng tai biến có tần xuất
xảy ra thấp hơn hoặc diễn biến chậm nhưng cũng rất cần được xem
xét trong tổng thể định hướng phát triển bền vững của Tỉnh.


14

TIỀU KẾT CHƢƠNG 2
Nghệ An là một tỉnh có điều kiện tự nhiên phong phú, đa
dạng. Sự phân hóa không gian của các thể tổng hợp tự nhiên lãnh
thổ và các mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau.
Viện phân tích phân tích đặc điểm các yếu tố phát sinh và phát

kiểu chu trình trao đổi vật chất – năng lượng, do đó có khả năng phù


15

hợp với một hoặc một tổ hợp các HST khác nhau, là cơ sở đề xuất
định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ.
Trong đó kiểu địa hình núi trung bình trên cấu trúc nâng dạng
vòm khối tảng và địa lũy chiếm diện tích đồi núi cao nhất của tỉnh.
Kiểu địa hình núi thấp trên các cấu trúc khác nhau chiếm vị trí giao
thoa giữa cấu trúc nâng địa lũy và khối tảng. Kiểu địa hình núi đá
vôi trên cấu trúc nâng cục bộ chiếm diện tích nhỏ khu vực Tân Kỳ Con Cuông. Kiểu địa hình đồi, dòng phủ bazan chiếm diện tích
chuyển tiếp giữa các huyện đồng bằng lên miền núi. Khu vực đồng
bằng có sự đan xen phức tạp của các kiểu địa hình khác nhau, thể
hiện kết quả tương tác giữa hai nhóm loại hình động lực chính là lục
địa – đại dương, đồng thời cũng là nơi con người có những tác động
sâu sắc nhất đến tự nhiên.
3.2. Đặc điểm các hệ sinh thái tỉnh Nghệ An
3.2.1. Đánh giá các nhân tố thành tạo và biến đổi các hệ sinh thái
Nghệ An
Động lực biến đổi các HST tại Nghệ An ở tầm vĩ mô là biến
đổi khí hậu và mực nước dâng toàn cầu, ở các địa bàn cụ thể là quá
trình khai thác tài nguyên và xả thải được ghi nhận ngày càng có
quy mô và cường độ.
3.2.2. Hiện trạng các hệ sinh thái tự nhiên tỉnh Nghệ An
Theo nguồn gốc phát sinh thảm thực vật, dựa trên các tài liệu
đã có, cho phép xác định các kiểu thảm thực vật tực nhiên của tỉnh
gồm 17 HST khác nhau (hình 3.3). Ở phần lãnh thổ phía tây Nghệ
An, phân bố chủ yếu các HST mang tính chất tự nhiên, trong khi
phần phía đông các hệ sinh thái nhân sinh và biến cải do hoạt động

+ Hiện trạng sử dụng đất: kết quả đánh giá thể hiện trong bảng 3.8
của luận án.
+ Hiện trạng rừng: kết quả thể hiện trong bảng 3.9, luận án.
+ Chỉ số NDVI:
Với quan niệm chỉ số NDVI càng cao, lớp phủ thực vật càng
dày, và giảm cường độ bóc mòn bề mặt. Dữ liệu được lấy trung bình
cộng của thời kỳ phát triển cực thịch (tháng 9-10 năm 2016) và cực
tiểu (tháng 2-3 năm 2017).
Nguồn dữ liệu này vì cho phép đánh giá nhanh, nhưng chỉ
mang tính khái quát trạng thái lớp phủ thực vật từ nguồn tư liệu
miễn phí Landsate 8. Giá trị NDVI được chuẩn hóa theo thang mức
độ ổn định ĐMST từ 0 đến 1 với giá trị cao nhất của trị số NDVI
được gán giá trị 1 và thấp nhất gán giá trị 0.
+ Mật độ dân số
Số liệu mật độ dân số của TP. Vinh, 3 thị xã và 17 huyện từ
bảng 2.1 được số hóa và chuẩn hóa theo thang giá trị 0-1, theo tỉ lệ
ngược, trong đó TP. Vinh có mật độ cao nhất (3.025 ng/km²) nhận
giá trị 0 và huyện Tương Dương có mật độ thấp nhất (26 ng/km²)
nhận giá trị 1.
3.3.3. Xác định chỉ số mức độ ổn định địa mạo sinh thái
Mỗi lớp thông tin đối tượng với điểm đánh giá mức độ ổn định
ĐMST được chuẩn hóa điểm số theo thang từ 0 đến 1. Trong đó


17

mức ổn định ĐMST lớn nhất nhận giá trị 1 và nhỏ nhất là 0. Quy
trình tính chỉ số ổn định ĐMST tỉnh Nghệ An với việc sử dụng công
cụ Arcgis đã được trình bày trong mục 1.2, phần Phương pháp
nghiên cứu. Kết quả tính toán chỉ số mức độ ổn định được trình bày



18

3.5.2. Nhận định về tổ chức lãnh thổ trong quy hoạch phát triển
kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020
Trên cơ sở phân tích không gian và loại hình phát triển của
bản quy hoạch, cho thấy những ưu tiên trọng tâm theo không gian
như sau:
1. Vùng miền núi: PTBV cần tập trung bảo vệ tốt rừng phòng
hộ, rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng Pù Huống, kết hợp khoanh nuôi
tái sinh; phát triển trồng rừng nguyên liệu.
2. Vùng đồi, đồng bằng ven biển: Nhiệm vụ đặt ra tại vùng đô
thị là hoàn thiện hệ thống quản lý chất thải, đảm bảo vệ sinh môi
trường và phát triển không gian xanh trong đô thị. Tại vùng ven đô
thị là sản xuất nông sản an toàn, bảo tồn và phát triển cảnh quan ven
biển để trở thành tài nguyên du lịch có giá trị cao. Tập trung nguồn
thải của sản xuất công nghiệp vào các KCN, CCN nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý môi trường.
3.5.3. Định hướng sử dụng các đơn vị địa mạo sinh thái nhằm mục
đích phát triển bền vững kinh tế - xã hội
Căn cứ vào các thuộc tính của các đơn vị phân vùng ĐMST
được mô tả trong bảng 3.11 là cơ sở để đề xuất các hoạt động phát
triển theo xu hướng đảm bảo cân bằng sinh thái, hướng tới mục tiêu
phát triển bền vững. Cụ thể gồm:
A. Vùng ĐMST núi TB-thấp, tây bắc Nghệ An (H. Quế Phong,
Tương Dương, Kỳ Sơn).
A1. Tiểu vùng Núi trung bình, thảm phủ khá Quế Phong – Kỳ Sơn:
Bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đầu nguồn, khoanh nuôi rừng
tái sinh; Phát triển du lịch sinh thái; Nghiên cứu và quảng bá các giá

cao su, chè, mía), cây ăn quả (cam, chanh); Phát triển các khu công
nghiệp chế biến ở Phủ Quỳ; Phát triển đất trồng cỏ chăn nuôi bò
sữa, trâu bò thịt; Khai thác, chế biến đá trắng ở Quỳ Hợp, Nghĩa
Đàn; Xây dựng hồ chứa thủy lợi – thủy điện ở Nghĩa Đàn; Lựa chọn
vị trí phù hợp xây dựng khu chứa và xử lý chất thải tập trung (Tân
Kỳ, Nghĩa Đàn).
D2: Tiểu vùng núi thấp-đồi đá vôi Tân Kỳ: Định hướng phát triển:
Khoanh nuôi, bảo tồn hệ sinh thái núi đá vôi; Phát triển dược liệu,
cây đặc sản của HST núi đá vôi; Khai thác có lựa chọn và theo định
mức nhất định khoáng sản đá vôi;
D3: Tiểu vùng đồi Yên Thành – Tân Kỳ: Phát triển rừng SX, phát
triển các vùng cây ăn quả, cây CN ngắn ngày; Xây dựng cảnh quan
và tạo hạ tầng phát triển du lịch gắn liền với khu vực đồng bằng;
Xây dựng các hồ chứa thuỷ lợi quy mô nhỏ; Lựa chọn các vị trí phù
hợp có thể xây dựng bãi rác, khu xử lý rác cho cả khu đồng bằng;
D4. Tiểu vùng đồi Anh Sơn – Thanh Chương: Phát triển nông – lâm
nghiệp; Xây dựng hạ tầng phục vụ du lịch sinh thái; Xây dựng hồ
chứa thuỷ điện – thủy lợi quy mô vừa; Khai thác có định mức đá
vôi, cát xây dựng; Có khả năng xây dựng khu chứa và xử lý chất
thải cho cả khu đồng bằng;
E. Vùng đồi – đồng bằng ven biển
E1: Tiều vùng TP. Vinh: Phát triển TP. Vinh thành đô thị loại 1 và
các khu, cụm CN; Phát triển hệ thống cây xanh, công viên, hồ sinh
học nhằm đảm bảo cảnh quan và điều hoà môi trường; Xây dựng hệ


20

thống hạ tầng cơ sở môi trường trong thành phố để giải quyết vấn đề
ô nhiễm môi trường đô thị; Xây dựng hệ thống đê bao dọc bờ biển

các khu đô thị tập trung lân cận; Giảm thiểu phát triển khu dân cư
trong khu vực – địa hình kém ổn định, chịu tác động mạnh của tai
biến.
Với những nhận định trên, có thể rút ra kết luận quan trọng là:
Để đảm bảo QHPT đạt tính khả thi và có hiệu quả cao, cần thực


21

hiện những nghiên cứu về các thực thể tự nhiên và mối quan hệ giữa
chúng như là một chỉnh thể cân bằng động. Từ đó, hoạt động của
con người đề ra cần giảm thiểu tác động mang tính chất phá vỡ cân
bằng sinh thái, hạn chế rủi ro, sự cố môi trường. Việc phân vùng
ĐMST dựa trên cơ sở đánh giá yếu tố địa mạo, sinh thái và mối
quan hệ giữa chúng cũng như các yếu tố chi phối phản ánh thực
trạng và mối quan hệ tương hỗ giữa các hệ thống tự nhiên – kinh tế
xã hội – môi trường, là một căn cứ khoa học và thực tiễn quan trọng
phục vụ công tác tổ chức lãnh thổ theo định hướng phát triển bền
vững ở Nghệ An.
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3
Các HST ở Nghệ An khá đa dạng, nhưng mang tính chất nhân
tác là chủ yếu. Đặc điểm sinh thái chi phối đến địa hình và các quá
trình địa mạo mang tính chất góp phần phát sinh hoặc phá hủy hoặc
gần như không tác động. Phục vụ mục đích tổ chức lãnh thổ, các tác
động mang tính phá hủy thực thể địa mạo được đánh giá thông qua
chỉ tiêu mức độ che phủ thảm thực vật. Các dạng tai biến ĐMST
được xác định, vừa thể hiện hiện trạng và nguy cơ rủi ro của các
HST, là cơ sở cần thiết trong cân nhắc tổ chức lãnh thổ.
Xây dựng bản đồ địa mạo và xác định động lực biến đổi tự
nhiên của nó dựa trên hình thái địa hình và các yếu tố chi phối quá

mối tương tác qua lại với các thực thể khác của HST đã được định
danh trong các văn liệu khoa học quốc tế từ hơn 100 năm trước
đây. Những phát triển tiếp theo của hướng nghiên cứu đã khẳng
định Nghiên cứu ĐMST là một chuyên ngành ứng dụng của địa mạo
học, mang tính chất liên ngành, đa ngành nhằm giải quyết các vấn
đề sinh thái, môi trường hướng tới phát triển bền vững.
3. Nghiên cứu ĐMST trên cơ sở vận dụng, phân tích đánh giá
tổng hợp điều kiện địa hình, sinh thái và mối quan hệ giữa chúng,
cũng như các yếu tố tự nhiên, KTXH chi phối quá trình tương tác
này là cơ sở khoa học cho việc tổ chức sử dụng hợp lý lãnh thổ.
4. Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và môi
trường chi phối đến đặc điểm địa mạo sinh thái tỉnh Nghệ An cho
phép:
a). Xác định chỉ số ổn định địa mạo sinh thái ở mức độ chi tiết
về không gian là 30mx30m. Chỉ số ổn định ĐMST của tỉnh dao
động trong khoảng 0,26 đến 0,69, trong đó vùng đồng bằng thường
có chỉ số thấp và vùng đồi núi có chỉ số ổn định cao hơn;
b). Trên cơ sở phân tích đặc điểm các dạng địa hình cho phép
xác lập 14 kiểu địa hình; phân tích hiện trạng sử dụng đất, hiện
trạng rừng và các văn liệu liên quan, xác định được 16 loại HST chủ
yếu ở Nghệ An. Tổ hợp các HST đặc trưng trên các kiểu địa hình
xác lập được 16 kiểu ĐMST.
5. Từ 16 kiểu ĐMST, xác định tính đồng nhất tương đối lãnh
thổ về đặc điểm ĐMST cho phép:
a). Phân định được 5 vùng và 14 tiểu vùng ĐMST gồm: a).
vùng núi trung bình - thấp tây bắc Nghệ An với 2 tiều vùng núi


23


1. Lại Huy Anh, Tống Phúc Tuấn, 2005. Nghiên cứu địa mạo sinh thái trong
quy hoạch tổ chức lãnh thổ (lấy khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ làm thí dụ).
Tuyển tập báo cáo Hội thảo quốc gia về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần I.
2. Hoàng Lưu Thu Thủy, Tống Phúc Tuấn, 2008. Hiện trạng tai biến và tiềm
năng tai biến môi trường tự nhiên tỉnh Nghệ An. Tuyển tập các báo cáo khoa
học tại Hội nghị khoa học Địa lý toàn quốc lần thứ 3 (tr233-242), Hà Nội.
3. Hoàng Lưu Thu Thủy, Tống Phúc Tuấn, 2010. Nghiên cứu thành lập bản đồ
phân vùng chức năng môi trường tỉnh Nghệ An, Tuyển tập các báo cáo khoa
học tại Hội nghị khoa học Địa lý toàn quốc lần thứ 5, (tr931-tr940), Hà Nội.
4. Tống Phúc Tuấn, Lại Huy Anh, 2013. Bước đầu phân vùng địa mạo sinh thái
tỉnh Nghệ An. Tuyển tập báo khoa học tại Hội nghị khoa học Địa lý toàn
quốc lần thứ 7 tại Thái Nguyên.
5. Nguyễn Khanh Vân, Tống Phúc Tuấn, Vương Văn Vũ, Nguyễn Mạnh Hà,
2013. Đặc điểm phân hóa mưa lớn vùng ven biển Trung Bộ từ Thanh hóa
đến Khánh Hòa trên cơ sở phân tích hình thái địa hình. Tạp chí Các khoa
học về trái đất, Vol 35 số 4 năm 2013. Tr. 301-309.
6. Hoàng Lưu Thu Thủy, Nguyễn Thanh Cơ, Phan Thị Thanh Hằng, Tống Phúc
Tuấn. Đặc điểm hoạt động của bão vùng ven biển Bắc Trung Bộ, Việt Nam
giai đoạn 1960-2013. Tạp chí Các khoa học về trái đất, số 3 năm 2015.
DOI: 10.15625/0866-7187/37/3/7796.
7. Lưu Thế Anh, Hoàng Lưu Thu Thủy, Tống Phúc Tuấn. Tiếp cận phân vùng
chức năng sinh thái trong định hướng tổ chức lãnh thổ tỉnh Thái Bình. Tạp
chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 33, Số
2 (2017), tr 1-11.
8. Nguyễn Sơn, Tống Phúc Tuấn. Khai thác bền vững tài nguyên nước dưới đất vùng
ven biển Quảng Trị trong bối cảnh biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng. Tạp
chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường Số 3 (2017) VN.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status