Luận văn Thạc sĩ: Xây dựng bài tập thực nghiệm hóa học lớp 10 (ban cơ bản) - Pdf 59

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu  
6. Đóng góp mới của đề tài
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 
1.1.   Một   số   xu   hướng   đổi   mới   phương   pháp   dạy   học   hóa   học   ở 
trường phổ thông hiện nay
1.1.1. Đổi mới phương pháp dạy học – Một nhu cầu tất yếu của xã hội học  
tập
1.1.2. Những xu hướng dạy học hóa học hiện nay
1.2. Những xu hướng phát triển của bài tập hóa học hiện nay
1.2.1. Nội dung bài tập gắn liền với thực tiễn, đời sống, xã hội, cộng đồng
1.2.2. Nội dung hóa học gắn liền với các kĩ năng thực hành thí nghiệm
1.2.3. Nội dung bài tập phải chứa đựng các yếu tố phát triển tư duy
1.3. Phân loại bài tập hóa học thực nghiệm và tác dụng của nó trong 

Trang
5
5
6
6
6
6
7
8
8
8

1.5. Thực trạng việc thiết kế và sử dụng bài tập hóa học thực nghiệm 

16

trong dạy học 
1.5.1. Điều tra
1.5.2. Đánh giá – Nhận xét
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC NGHIỆM 

17
17
18
19

HÓA HỌC LỚP 10 
2.1. Cơ sở và nguyên tắc thiết kế bài tập hóa học thực nghiệm
1

20
20


2.1.1. Cơ sở
2.1.2. Nguyên tắc
2.2. Các áp dụng 
2.2.1. Xuất phát từ những kiến thức và kĩ năng thực hành cần kiểm tra
2.2.2. Xuất phát từ những sai lầm thường gặp thực hành thí nghiệm
2.2.3. Xuất phát từ những bài tập thực nghiệm có sẵn
2.3. Thiết kế  các dạng bài tập thực nghiệm trong chương trình hóa 

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1. Mục đích thực nghiệm
3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm 
3.3. Chuẩn bị thực nghiệm
3.3.1. Địa điểm
3.3.2. Mẫu thực nghiệm 
3.3.3. Giáo viên thực nghiệm 
3.3.4. Nội dung thực nghiệm
3.3.4.1. Giáo án thực nghiệm
3.3.4.2. Bài kiểm tra thực nghiệm    
3.3.4.3. Phiếu điều tra hứng thú học tập môn hóa học của học sinh
3.4. Tiến hành thực nghiệm 
3.4.1. Thực nghiệm chính thức
3.4.2.   Điều  tra  hứng  thú   học   tập   môn   hóa   học   của   học   sinh   sau   thực  
nghiệm
3.5. Kết quả thực nghiệm
3.5.1. Kết quả các bài kiểm tra
3.5.2. Kết quả điều tra
3.5.3. Phân tích kết quả thực nghiệm
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. 1. Kết luận
2. 2. Một số đề xuất

2

73
74
74
74


NHỮNG KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN

Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Giáo viên

Gv

Học sinh

Hs

Trung học phổ thông

THPT

Bài tập

BT

3


Hoá học

HH


Hoá học là một môn khoa học vừa mang tính trừu tượng vừa mang tính thực  
nghiệm. Đối tượng mà hóa học nghiên cứu là cấu tạo chất, là nguyên tử, là phân  
tử, là phản  ứng hóa học diễn ra  ở  kích thước vi mô nhưng lại là kiến thức cơ 
bản cần truyền đạt cho Hs, do đó trong giảng dạy hóa học ta buộc phải dùng 

4


những mô hình ở kích thước vĩ mô, các thí nghiệm để bằng quan sát những biểu 
hiện bên ngoài mà tư duy ra tính chất và cấu tạo. Vì thế, có thể khẳng định rằng, 
thí nghiệm hóa học là rất cần thiết cho dạy học hóa học.
Một trong những mục tiêu dạy học hoá học ở trường phổ thông là ngoài việc  
cung cấp kiến thức lí thuyết còn phải tạo điều kiện cho Hs phát triển tư duy hoá 
học và kĩ năng thực hành hoá học, để từ đó có khả năng vận dụng kiến thức vào 
cuộc sống, đáp  ứng yêu cầu giáo dục kĩ thuật tổng hợp, hướng nghiệp cho Hs  
phổ thông khi ra trường. 
Thực tế dạy học ở trường PT hiện nay, tuy các kiến thức thực hành đã được 
quan tâm nhưng còn rất hạn chế. Nguyên nhân của thực tế này thì có nhiều, trong  
đó quan trọng là do cơ  sở  vật chất nhà trường chưa đáp  ứng, Gv thường phải  
dạy  nhiều  tiết   trong   một   buổi   nên  không  có   thời   gian   chuẩn  bị   các   TN,   Gv 
thường có tâm lí “ngại ” thí nghiệm và có xu hướng chủ  yếu là “dạy chay”. Vì 
vậy, hầu như rất ít Gv thực hiện đủ các TN cần thiết trong toàn bộ chương trình,  
hậu quả  dẫn đến hạn chế  phát triển tư  duy và kĩ năng thực hành của Hs. Để 
khắc phục tình trạng này, bên cạnh việc tăng cường sử  dụng TN trong các giờ 
học, còn đòi hỏi Gv phải thường xuyên sử dụng và thiết kế các BTTN trong dạy  
học để Hs có điều kiện phát triển tư duy và trau dồi kĩ năng thực hành hoá học, 
đặc biệt trong điều kiện không tiến hành được nhiều TN.
Trong thực tiễn dạy học, BTHH đóng vai trò rất quan trọng, nó vừa là mục 
đích, vừa là nội dung vừa là phương pháp dạy học hiệu quả, nó không chỉ  cung 
cấp cho Hs kiến thức, con đường dành lấy kiến thức mà còn mang lại niềm vui  

­ Điều tra thực trạng việc sử dụng bài tập thự tiễn.
­ Hứng thú đối với môn hóa học của học sinh trung học phổ thông.
­ Xây dựng một số bài tập hóa học thực nghiệm lớp 10 cơ bản.
­ Tiến hành thực nghiệm. 
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
­ Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn hóa ở trường THPT.
­ Đối tượng nghiên cứu: Bài tập thực nghiệm trong chương trình hóa học 10 
cơ bản.
5. Phương pháp nghiên cứu:   
+ Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
­Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết.
­Phương pháp phân loại và hệ thống.
­Phương pháp lịch sử.
+ Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
­ Phương pháp quan sát.
­ Phương pháp điều tra giáo dục.
­ Phương pháp thực nghiệm khoa học.
­ Phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm.

6


­ Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
+ Các phương pháp xử lý số liệu.
6. Đóng góp mới của đề tài
Xây dựng bài tập thực nghiệm hóa học 10 ứng dụng trong dạy học hóa học.  
Góp phần hoàn thiện các dạng bài tập ở bậc THPT.

7


 Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học 
hóa học nói riêng là một nhu cầu khách quan và tất yếu của xã hội.

8


1.1.2. Những xu hướng dạy học hóa học hiện nay
1.1.2.1. Sử  dụng các phương tiện kĩ thuật hiên đại và áp dụng các thành  
tựu của công nghệ thông tin trong dạy học
Trước sự  phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ  đã làm xuất hiện 
những phương tiện dạy học hiện đại với nhiều chức năng  hỗ  trợ  cho việc dạy 
học đạt kết quả tốt hơn như: Phòng đa chức năng, giáo án điện tử, thư viện điện 
tử, bài giảng điện tử, bài giảng trực tuyến, phần mềm nghiên cứu dạy học, phần  
mềm thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, phần mềm kiểm tra trắc nghiệm…
Khai thác và sử  dụng có hiệu quả  các phương tiện kĩ thuật hiện đại sẽ  tạo 
nên phương pháp dạy học mới giúp việc dạy học trở  nên dễ  dàng hơn và đạt 
hiệu quả tốt hơn.
1.1.2.2. Khai thác đặc thù môn hoá học tạo ra các hình thức hoạt động đa  
dạng, phong phú giúp HS chủ động chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng.
Với đặc trưng là môn khoa học thực nghiệm, do đó trong dạy học hoá học  
cần tăng cường các phương tiện trực quan, đặc biệt là thí nghiệm hoá học. Sử 
dụng phối hợp nhiều hình thức hoạt động của Hs, nhiều phương pháp dạy học  
của Gv trong đó chú trong phương pháp trực quan, sử dụng thường xuyên tổ hợp  
các phương pháp dạy học phức hợp nhằm giúp Hs học tập chủ  động, tích cực, 
sáng tạo.
1.1.2.3. Khai thác triệt để  các nội dung bài dạy theo hướng liên hệ  với  
thực tế.
Việc khai thác nội dung học tập theo hướng liên hệ với thực tế cuộc sống sẽ 
làm cho bài học có tính ứng dụng cao, kích thích hứng thú ở Hs, đặc biệt với môn 
hoá học là một môn học mà đối với nhiều Hs là quá khô khan và kém hấp dẫn. 

luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại  
niềm vui, hứng thú học tập cho Hs”. Việc vận dụng kiến thức lí thuyết vào thực 
tế cuộc sống, việc giải các bài tập thực tiễn sẽ làm phát triển ở Hs tính tích cực,  
chủ  động, tự  lập, kích thích hứng thú, niềm say mê học tập  ở  Hs, đó là điểm  
xuất phát của sự vượt khó, của khả năng sáng tạo.
Việc sử dụng BTHH có nội dung gắn với thực tiễn cũng góp phần thực hiện 
nguyên lí giáo dục của Đảng: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao  
động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn”.
1.2.2. Nội dung hóa học gắn liền với các kĩ năng thực hành thí nghiệm
Do yêu cầu đổi mới đất nước theo hướng hiện đại, hoà nhập với cộng đồng 
quốc tế nên mục tiêu giáo giục cũng phải thay đổi. Nghị quyết đại hội Đảng lần 
thứ  IX đã nêu : “Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và  
năng lực  tự   đào tạo của người học,  coi trọng thực  hành,  TN,  làm chủ  kiến  
thức…”
Trong trường PT, TN hoá học là một phần không thể thiếu, giúp Hs làm quen 
với tác phong làm việc khoa học, rèn luyện đức tính cẩn thận, kiên nhẫn, làm 
việc nguyên tắc, TN hoá học còn củng cố  niềm tin vào khoa học. Với hoá học, 
10


TN giữ  vai trò như  một bộ  phận không thể  tách rời. Việc xây dựng BTHH gắn 
liền với TN sẽ cung cấp, củng cố kĩ năng, kĩ xảo, các thao tác thực hành là điều 
rất cần thiết.
1.2.3. Nội dung bài tập phải chứa đựng các yếu tố phát triển tư duy
Trong sự  nghiệp đổi mới đất nước, yêu cầu cấp thiết với giáo dục là phải 
đào tạo ra những con người có kiến thức, trí tuệ  phát triển, thông minh, năng 
động, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu xã hội. BTHH không thể tách rời mục tiêu trên. 
BTHH theo định hướng giáo dục hiện nay cần ngắn gọn, súc tích, không nặng nề 
thuật toán mà tập trung rèn luyện, phát triển nhận thức, tư duy cho người học.
Như vậy, xu hướng phát triển của BTHH hiện nay là tăng cường khả năng tư 

thích và mô tả  các hiện tượng, phân biệt và nhận biết các chất, tách và tinh chế 
các chất,... Một số  nội dung trong các bài tập trên gắn liền với các vấn đề  sản  
xuất, kinh tế và môi trường.
1.3.2. Phân loại bài tập hóa học thực nghiệm
1.3.2.1. Bài tập hóa học thực nghiệm được thực hiện bằng thí nghiệm
Là dạng BTTN mà khi giải người giải phải tiến hành thí nghiệm.
Ví dụ : 
Rót vào  ống nghiệm khoảng 1ml dung dịch NaBr, nhỏ tiếp vào  ống vài giọt  
nước clo mới điều chế được, lắc nhẹ, quan sát, nêu hiện tượng, giải thích và kết 
luận về tính oxi hoá của brom so với clo.
Phân tích:
Hiện tượng: Dd chuyển dần sang màu vàng.
Giải thích: Do brom tạo thành làm vàng Dd:
Cl2 + 2NaBr → 2NaCl + Br2
Kết luận: tính oxi hoá của brom yếu hơn clo.
Khi   giải   BT   này,   học   sinh   cần   phải   trực   tiếp   tiến   hành   các   thao   tác   thí  
nghiệm, sử dụng các kiến thức đã học để trả lời các câu hỏi.
1.3.2.2.  Bài tập hóa học thực nghiệm  được thực hiện bằng thí nghiệm mô 
phỏng, qua các băng hình, máy vi tính với những thí nghiệm phức tạp, khó thực 
hiện, thời gian tiến hành lâu, thí nghiệm độc hại.
Là những BTHH mà khi giải phải sử  dụng băng hình, phần mềm để  giải. 
Thường dùng với những quá trình xảy ra chậm, cần nhiều thời gian hoặc những  
thí nghiệm mà độ an toàn thấp.
Ví dụ : 
Hãy xem đoạn video về  quy trình sản xuất axit sunfuric trong công nghiệp 
theo phương pháp tiếp xúc kép sau (hình 1.1.)

12



­

Mẫu có xuất hiện kết tủa màu trắng thì lọ Dd chứa mẫu là lọ Dd NaCl.

­

Mẫu có kết tủa màu vàng thì lọ Dd chứa mẫu là lọ Dd NaI hoặc NaBr.

­

Mẫu không có hiện tượng gì thì lọ Dd chứa mẫu là lọ Dd NaF.

Tiếp tục trích mẫu thử   ở  2 lọ mà thí nghiệm trên cho kết tủa vàng  rồi nhỏ 
vào mẫu thử vài giọt brom và một giọt hồ tinh bột, lắc nhẹ.
­

Mẫu chuyển sang màu xanh thì lọ Dd chứa mẫu là lọ Dd NaI.

­

Còn lại là Dd NaBr.

Khi giải bài tập dạng này, người giải không phải tiến hành thí nghiệm nhưng 
cần sử dụng kiến thức đã học các kiến thức kĩ năng thực hành đã có để trả lời.
1.3.2.4. Bài tập hóa học thực nghiệm được tiến hành qua hình vẽ
Ví dụ  1 : Cho các hoá chất: Cu, H2SO4  đặc nóng. Các dụng cụ  thí nghiệm: 
bình cầu,  ống dẫn, phễu, giá thí nghiệm, bình tam giác, bông tẩm dung dịch 
NaOH đặc. Hãy vẽ sơ đồ  thí nghiệm điều chế khí SO2.
Phân tích:
Khi giải BT này Hs cần phải tư  duy về  kiến thức hoá hoc, kiến thức thực 

trong dạy học hóa học có các tác dụng to lớn sau:
­ Phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện tư  duy từ  lí thuyết đến thực hành 
và ngược lại từ đó xác nhận những thao tác kĩ năng thực hành hợp lí.
­ Rèn luyện kĩ năng sử  dụng dụng cụ  hoá chất, các dụng cụ  thí nghiệm và  
phương pháp thiết kế thí nghiệm.
15


­ Rèn luyện các thao tác, kĩ năng thực hành cần thiết trong PTN (cân, đong, 
nung, đun nóng, sấy, hoà tan, lọc, chiết,…) góp phần vào việc giáo dục kĩ thuật 
tổng hợp cho Hs.
­ Rèn luyện khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, tạo sự say 
mê học tập hoá học cho Hs.
­ Giáo dục tư  tưởng, đạo đức, tác phong lao động: rèn luyện tính kiên nhẫn, 
trung thực, sáng tạo, chính xác, khoa học; rèn luyện tác phong lao động có tổ 
chức, có kế hoạch, có kỉ luật, có văn hoá…
1.4. Mối quan hệ giữa phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng thực hành  
trong bài tập hóa học thực nghiệm
1.4.1. Tư duy và tư duy hóa học
Theo tài liệu tâm lí học và giáo dục học: Tư duy là quá trình tâm lí phản ánh  
các thuộc tính bản chất, những mối quan hệ và liên hệ mang tính quy luật của sự  
vật và hiện tượng trong thế giới khách quan.
Theo logic học: Tư duy là quá trình phản ánh hiện thực một cách gián tiếp và  
khái quát. Sự phản ánh thế giới xung quanh bằng tư duy là giai đoạn nhận thức lí  
tính.
Cho dù xem xét ở góc độ nào thì vẫn thống nhất với nhau ở những nhận định  
về bản chất: Tư duy là hoạt động trí tuệ giúp con người tạo ra hoặc giải quyết 
một vấn đề, đưa ra một quyết định hoặc có thêm một sự  hiểu biết. Đó là tìm 
kiếm cái mới từ những kiến thức và kinh nghiệm đã có.
Tư duy hoá học là quá trình tâm lý phản ánh các thuộc tính bản chất, các mối 

BTHHTN có nghĩa là đi tìm mối quan hệ giữa tư duy lí thuyết hoá học và kĩ năng 
thực hành hoá học. Sau đây là cấu trúc chung của một bài tập hoá học thực  
nghiệm (hình 1.4):

Hình 1.4. Cấu trúc chung của bài tập hoá học thực nghiệm [15, tr.34]
17


Như vậy, lời giải của các BTHHTN luôn phải chứa đựng các thao tác tư duy 
và kĩ năng thực hành cho dù không nhất thiết phải tiến hành thực nghiệm. Đó lá 
kết quả của phương pháp tư  duy từ lí thuyết đến thực hành và ngược lại. M.A. 
Đanilop cũng đã nêu lên mối liên hệ mật thiết giữa kiến thức và kĩ năng: “ Kiến  
thức là cơ  sở, là nền tảng để  hình thành kĩ năng, nhưng ngược lại, việc nắm  
vững kĩ năng sẽ có tác dụng trở lại giúp kiến thức trở nên sống động, linh hoạt  
hơn” [15, tr.34] . Trong dạy học hoá học cũng đã khẳng định: Không có tri thức 
sẽ  không có kĩ năng, không có việc áp dụng tri thức sẽ không đạt được sự  phát 
triển kĩ năng. Ngược lại, nếu chỉ có tri thức mà không có kĩ năng, không biết áp  
dụng tri thức thì những kĩ năng đó cũng trở thành vô dụng.
1.5. Thực trạng việc thiết kế và sử  dụng bài tập hóa học thực nghiệm 
trong dạy học 
1.5.1. Điều tra
1.5.1.1. Mục đích điều tra
­ Tìm hiểu thực trạng dạy học hoá học ở trường THPT.
­ Tìm hiểu về thực trạng sử dụng BTTNHH ở trường THPT.
1.5.1.2. Nội dung điều tra
­ Điều tra hứng thú học tập hoá học ở trường THPT.
­ Điều tra về việc sử dụng BTHH có nội dung liên quan đến thực nghiệm ở 
trường THPT.
1.5.1.3. Đối tượng điều tra
  ­ Các Gv giảng dạy môn hoá học  ở  các trường THPT  ở  huyện Nghi Xuân 

Đa số  Gv và Hs đều nhận xét BTHH sử  dụng chủ  yếu là kiểm tra về  lí  

thuyết và BT tính toán, ít BT thực nghiệm.
1.5.2. Đánh giá – Nhận xét
Từ kết quả điều tra trên, tôi nhận thấy rằng tuy BTHH dạng thực nghiệm là 
một phần quan trọng khi dạy học bộ môn hoá học nhưng việc sử dụng dạng BT 
này còn rất nhiều hạn chế, mà lí do một phần là vì Gv phụ  thuộc nhiều vào tài  
liệu có sẵn, do đó BT kém đa dạng, làm giảm hứng thú học tập của Hs.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
 Trong chương I, tôi đã trình bày về các nội dung sau:
1. Xu hướng đổi mới PPDH ở trường PT.

Trong phần này, tôi tìm hiểu về yêu cầu đổi mới, mục tiêu đổi mới, những xu 
hướng đổi mới PPDH hiện nay.
2. Những xu hướng phát triển của BTHH hiện nay.
3. Phân loại và ý nghĩa của BTTN trong dạy học hoá học.
4. Mối quan hệ  giữa rèn luyện kĩ năng thực hành và sự  phát triển tư  duy  

trong BTTN hoá học.
19


5. Thực trạng việc thiết kế, sử dụng BTTN trong dạy học hoá học ở trường 

PT.
Các nội dung trên là cơ sở để tôi đề  ra phương pháp thực nghiệm, các bước 
nghiên cứu tiếp theo của đề tài.

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC NGHIỆM 

thường được dùng trong PTN và thường ở dạng Dd đặc. Hãy nêu cách tiến hành  
để pha loãng Dd H2SO4 đặc.
Phân tích:
Dùng một lượng nước cất và một lượng Dd H2SO4   đặc vừa đủ, rót từ từ Dd 
H2SO4 dọc theo đũa thuỷ tinh xuống cốc nước đồng thời khuấy đều. Không được  
làm ngược lại. 

21


Giải thích: Quá trình hoà tan vào nước của H2SO4 toả nhiệt mạnh do đó cần 
tiến hành như trên để lượng nhiệt toả ra được trung hoà bớt, tránh làm ngược lại 
gây sôi đột ngột làm bắn axi ra ngoài rất nguy hiểm.
  Khi giải BT này Hs sẽ nhớ lại kiến thức đã đọc về cách pha loãng Dd H 2SO4 
trong sgk, từ đó khắc sâu, nhớ lâu kiến thức này.
Ví dụ 2: Để kiểm tra kiến thức về đảm bảo an toàn khi làm thí nghiệm phản 
ứng giữa chất rắn và chất khí trong  ống nghiệm hoặc bình, ta có thể  ra bài tập  
sau: 
Giải thích tại sao khi tiến hành các phản ứng hoá học giữa chất rắn và chất 
khí, kèm theo đun nóng thì bình đựng khí phải có một ít nước hoặc một ít cát, ví 
dụ  khi thực hiện phản  ứng giữa natri với oxi, natri với clo, s ắt v ới oxi, s ắt v ới  
clo ...
Phân tích: 
Vì khi   đốt nóng hoặc đun nóng chảy (kim loại kiềm) sau đó cho vào bình 
đựng khí, các phản ứng toả nhiệt, sản phẩm sinh ra rơi xuống bình có thể làm vỡ 
bình.
2.2.2. Xuất phát từ những sai lầm thường gặp thực hành thí nghiệm
Ví dụ 1: Từ đặc điểm thường không chú ý đến độ nghiêng của ống nghiệm, 
ta có thể ra bài tập sau: Trong các hình vẽ sau (hình 2.1, hình 2.1), hình vẽ nào mô 
tả đúng cách điều chế và thu khí oxi trong phòng thí nghiệm, hãy giải thích?

D. Dung dịch KOH đặc.
Hãy chọn đáp án đúng?
Đáp án :C
Ta có thể ra bài tập sau :
Mức độ  1: Trong phòng thí nghiệm người ta thường tiến hành điều chế  khí  
clo tinh khiết theo hình vẽ (hình 2.3). Hãy giải thích tại sao lại phải mắc sơ đồ 
thí nghiệm như thế?

Hình 2.3
Phân tích:
23


 Khí clo điều chế được có lẫn khí HCl, hơi nước nên phải dẫn qua dung dịch  
NaCl để  hấp thụ  HCl và H2SO4  đặc để  hấp thụ  hơi nước. Khí clo nặng hơn  
không khí và không tác dụng được với không khí nên có thể  thu trực tiếp, bông 
tẩm dung dịch NaOH để hạn chế khí clo thoát ra ngoài không khí.
Mức độ 2:
Khí clo được điều chế trong phòng thí nghiệm bằng phản ứng  của axit HCl  
với MnO2 thường có lẫn tạp chất . Để thu được khí clo tinh khiết, người ta dẫn  
khí clo không tinh khiết đi qua hai bình, một bình đựng chất lỏng X và một bình 
đựng chất lỏng Y. Hãy xác định các chất X, Y trong số  các chất sau: KMnO 4, 
H2O, dung dịch NaCl, Ca(OH)2, NaOH, H2SO4 đặc, dung dịch HCl. 
Phân tích:
X

Y

Dung dịch NaCl


24


Sau   khi  điều   chế   oxi   xong,   người   ta   phải   tháo   ống   dẫn  khí   ra   khỏi   ống 
nghiệm rồi mới tắt đèn cồn ( phương pháp đẩy nước).
Phân tích:
Nếu lấy đèn cồn (tắt đèn cồn) thì áp suất trong bình giảm nên nước từ ngoài  
phun vào bình làm vỡ ống nghiệm
2.3. Thiết kế các dạng bài tập thực nghiệm trong chương trình hóa học 
10
2.3.1. Bài tập hóa học thực nghiệm có tính chất trình bày
Dạng BT này chủ  yếu phát triển tư  duy và kĩ năng phân tích, trình bày, giải  
thích, suy luận và chứng minh các nội dung thực nghiệm. Khi giải BT, Hs không  
phải tiến hành TN mà chỉ  vận dụng kiến thức lí thuyết và các dữ  kiện thực  
nghiệm có sẵn để giải. Mặc dù không phải làm TN nhưng nội dung BT cũng như 
phương pháp giải BT phải đảm bảo tính, khoa học về  mặt lí thuyết, thoả  mãn 
về mặt thực nghiệm. Trong loại BT này có các dạng sau:
2.3.1.1. Giải thích tính chất lí hoá của các chất
Dựa vào các đặc điểm cấu tạo phân tử:
­

Cấu hình electron nguyên tử.

­

Độ âm điện của các nguyên tố.

­

Dạng lai hoá của các nguyên tử trung tâm.

­

Trạng thái tập hợp của chất.

­

Màu sắc, mùi vị.

­

Các phản ứng đặc trưng.

Bài tập 1: Hãy giải thích tại sao nguyên tố  oxi hoạt động hơn nguyên tố clo 
nhưng ở điều kiện thường lại tỏ ra kém hoạt động hơn?
Phân tích:

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status