Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 5 * 2016
Nghiên cứu Y học
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẮT GIẢM THIỂU TẾ BÀO
TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ DẠ DÀY GIAI ĐOẠN TIẾN TRIỂN
Thị Mỹ Yến*, Trần Thiện Trung**
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Phẫu thuật cắt dạ dày làm sạch có thể kéo dài tiên lượng sống thêm sau mổ, giảm các triệu
chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển nhưng cho đến nay
vẫn chưa có đồng thuận rõ ràng về chiến lược điều trị phù hợp nhất. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm
đánh giá kết quả trước mắt và lâu dài của phẫu thuật cắt giảm thiểu tế bào ung thư ở bệnh nhân ung thư dạ dày
giai đoạn tiến triển.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả cắt ngang. Đối tượng nghiên cứu gồm 101 bệnh
nhân ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển được điều trị phẫu thuật cắt giảm thiểu tế bào ung thư, từ tháng
01/2010 đến tháng 6/2015 tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả: Tỷ lệ tai biến trong mổ là 2% và biến chứng sớm sau mổ là 8%. Thời gian sống trung bình sau mổ
là 14,3 ± 13,9 tháng. Tỷ lệ sống chung 5 năm là 14,9%, tỷ lệ sống 1 năm, 3 năm, 5 năm lần lượt là 39,1%; 6,9%
và 3,4%. Yếu tố di căn hạch, mức độ biệt hóa của tế bào ung thư có ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian sống sau
mổ của bệnh nhân.
Kết luận: Phẫu thuật cắt giảm thiểu tế bào ung thư dù mang ý nghĩa điều trị triệu chứng và biến chứng
nhưng vẫn phần nào cải thiện thời gian sống thêm cho bệnh nhân. Chiến lược điều trị đa mô thức với hiệu quả
điều trị tốt hơn cho người bệnh đang là mục tiêu của những nghiên cứu tương lai.
Từ khóa: Cắt dạ dày giảm thiểu tế bào ung thư, Ung thư dạ dày, Thời gian sống còn.
ABSTRACT
RESULT OF PALLIATIVE GASTRECTOMY FOR ADVANCED GASTRIC CANCER
Thi My Yen, Tran Thien Trung * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Supplement of Vol. 20 - No 5 - 2016: 57 - 63
Background: Although many investigations have reported palliative gastrostomy for patients with advanced
gastric cancer have improved the overall survival rate, reducing symptoms and enhancing the quality of life. There
tế bào ung thư và nâng cao chất lượng cuộc sống
Ung thư dạ dày (UTDD) là bệnh rất thường
của bệnh nhân. Nhưng vẫn chưa có đồng thuận
gặp, chiếm hàng thứ tư trong các bệnh ung thư
rõ ràng về chiến lược điều trị phù hợp nhất.
với hơn 70% trường hợp xảy ra ở các nước đang
Liệu nghiên cứu phẫu thuật cắt dạ dày giảm
phát triển. Đây là bệnh thường gặp nhất ở châu
thiểu tế bào ung thư có cần thiết ở bệnh nhân
Á sau ung thư vú và phổi và là nguyên nhân
ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển hay không?
phổ biến thứ hai tử vong ở cả hai giới trên toàn
và kết quả lâu dài của người bệnh, thời gian
thế giới chỉ sau ung thư phổi. Mặc dù tỷ lệ mắc
sống thêm sau mổ là bao lâu? Đó là lý do để
và tử vong đang giảm dần tại nhiều nước châu Á
chúng tôi thực hiện nghiên cứu này.
nhưng vẫn còn là một vấn đề sức khỏe cộng
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU
đồng phải quan tâm. Năm 2012, theo quỹ nghiên
cứu ung thư quốc tế (World Cancer Research
Thiết kế nghiên cứu
Fund International)(5) có 952.000 trường hợp
Hồi cứu cắt ngang mô tả.
UTDD được phát hiện, trong số này Đông Nam
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Á chiếm 24,2%.
Thực hiện tại khoa Ngoại Tiêu hóa - Gan mật
Ở Việt Nam theo Nguyễn Mạnh Hùng(12),
Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí
Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn bệnh
Tất cả bệnh nhân có kết quả giải phẫu bệnh
là ung thư dạ dày được điều trị bằng phương
pháp phẫu thuật cắt dạ dày giảm thiểu tế bào
ung thư.
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân có một trong những bệnh nội
khoa đi kèm làm ảnh hưởng đến tiên lượng như:
suy tim, đái tháo đường, xơ gan, suy thận…
Bệnh nhân đã phẫu thuật cắt dạ dày do ung
thư trước đây.
- Chỉ mổ thám sát hoặc làm phẫu thuật
tạm thời như nối vị tràng, mở thông hỗng
tràng nuôi ăn…
KẾT QUẢ
Chúng tôi ghi nhận tại Bệnh viện Đại học Y
dược thành phố Hồ Chí Minh từ 01/2010 đến
6/2015 có 101 bệnh nhân ung thư dạ dày được
điều trị phẫu thuật cắt giảm thiểu tế bào ung thư
phù hợp tiêu chuẩn chọn bệnh.
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 5 * 2016
Nghiên cứu Y học
2
1
101
Tỷ lệ (%)
5
20,8
26,7
22,8
21,8
2
1
100
Bảng 4- Thời gian sống thêm
Thời điểm theo
Số BNBN sốngBN chếtTỷ lệ sống (%)
dõi
1 năm
87
34
53
39,1
3 năm
34
6
28
6,9
5 năm
6
Có
Số BN (n=101)
2
15
84
2
40
44
13
2
5
66
30
24
77
58
43
Biểu đồ 1- Thời gian sống còn sau 5 năm
*Di căn xa gồm: gan, phúc mạc, buồng trứng, mạc treo đại
tràng ngang.
Liên quan giữa các yếu tố ảnh hưởng đến
thời gian sống thêm sau mổ
Tai biến, biến chứng
Bảng 5- Liên quan giữa các yếu tố ảnh hưởng đến
trí khâu lại ngay và theo dõi hậu phẫu ổn định.
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học
Các yếu tố
Bệnh cảnh lâm sàng
Vị trí khối u
Mô bệnh học
Di căn hạch
Mức độ xâm lấn pT
Hóa trị sau mổ
Giá trị p
0,8
0,7
0,04
0,03
0,8
0,2
Liên quan giữa các yếu tố gồm mô bệnh học và di căn hạch
ảnh hưởng đến thời gian sống thêm sau mổ có ý nghĩa với p
< 0,05.
59
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 5 * 2016
giảm thiểu tế bào ung thư. Một số nghiên cứu
cho thấy kết quả ích lợi của phẫu thuật này. Bên
cạnh đó, một số nghiên cứu khác chưa cho thấy
bằng chứng chắc chắn trong chiến lược điều trị
ung thư dạ dày khi mà hiệu quả khá tốt của điều
trị hóa trị hiện nay. Trong nghiên cứu của
Hartgrink(6), phẫu thuật giảm thiểu tạm thời
không kéo dài tiên lượng sống thêm khi bệnh
nhân có nhiều các yếu tố mà không thể cắt dạ
dày điều trị triệt căn so với bệnh nhân chỉ có một
yếu tố. Hiện nay Nhật Bản và Hàn Quốc đang
tiếp tục nghiên cứu so sánh phẫu thuật giảm
thiểu ở bệnh nhân ung thư dạ dày kết hợp với
điều trị hóa trị, hoặc chỉ điều trị hóa trị đơn
60
thuần ở bệnh nhân và, hoặc có các yếu tố như: di
căn gan, di căn phúc mạc hoặc di căn quanh
động mạch.
Tai biến và biến chứng sớm sau mổ
Ruy (14) định nghĩa biến chứng phẫu thuật:
biến chứng trong mổ là những biến chứng cần
thực hiện thêm phẫu thuật ngoài dự kiến vì bất
kì lý do nào. Biến chứng sớm sau mổ là biến
chứng xảy ra trong vòng 30 ngày đầu sau mổ mà
cần mổ lại, cần làm thêm thủ thuật, hoặc thời
gian nằm viện kéo dài so với những trường hợp
mổ thường quy. Biến chứng muộn sau mổ xảy ra
thuật với hy vọng điều trị khỏi UTDD. Mốc thời
gian đầu tiên được đánh giá là khỏi khi bệnh
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 5 * 2016
nhân sống 5 năm sau mổ, có thể sống không
bệnh hoặc sống toàn bộ, có thể sống di căn hoặc
tái phát(13).
Thời gian sống thêm sau mổ phản ánh kết
quả của phẫu thuật, là tiêu chuẩn cơ bản để đánh
giá việc tầm soát, phát hiện và chẩn đoán sớm
ung thư dạ dày vì có liên quan chặt chẽ đến giai
đoạn tiến triển hoặc tiến xa của bệnh. Trong 87
trường hợp chúng tôi theo dõi được trong 5 năm,
hiện 13 bệnh nhân còn sống, 74 trường hợp còn
lại đã tử vong. Trong số các trường hợp tử vong
trước thời gian nghiên cứu, thời gian sống ngắn
nhất là 1 tháng, dài nhất là 62 tháng sau khi bệnh
nhân được chẩn đoán và điều trị. Nguyên nhân
tử vong do tuổi cao, ung thư di căn, tái phát. Tỷ
lệ sống thêm 5 năm chung là 14,9%. Tỷ lệ sống
thêm 1 năm, 3 năm, 5 năm lần lượt là 39,1%,
6,9%, 3,4%.
Các yếu tố về đặc điểm bệnh nhân ảnh
hưởng đến thời gian sống thêm sau phẫu
thuật
Theo Medina-Franco(10), có sự khác biệt về
cứu của chúng tôi nhỏ hơn 5%, sự khác biệt giữa
các nhóm có ý nghĩa (p = 0,04), nhưng so với các
nghiên cứu khác, tỷ lệ sống 5 năm của chúng tôi
là rất thấp.
Theo Đỗ Đình Công(3), trên 175 trường hợp
ung thư biểu mô tuyến dạ dày có biệt hóa và
nhóm không biệt hóa, tác giả ghi nhận 50% bệnh
nhân thuộc nhóm biệt hóa có thời gian sống
trung bình là 24 tháng, nhóm không biệt hóa là
21 tháng.
Theo Zamudio(21), tiên lượng sống 5 năm của
bệnh nhân phụ thuộc vào giai đoạn và phương
pháp điều trị. Giai đoạn I là 93,7%, giai đoạn II là
55% và 25% ở giai đoạn III. Khi phẫu thuật cắt
làm sạch thì tỉ lệ sống 5 năm là 37,1%. Tỉ lệ sống
5 năm 92,3% ở nhóm không di căn hạch và 41,3%
ở nhóm có di căn hạch.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có sự khác
biệt về thời gian sống thêm sau mổ của nhóm có
và không có di căn hạch, nhóm có di căn hạch có
thời gian sống trung bình sau mổ là 10 tháng,
nhóm không di căn hạch là 16 tháng. Tỷ lệ sống
thêm 5 năm sau mổ của các bệnh nhân trong
nghiên cứu là thấp, có sự khác biệt (p = 0,02), và
thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu khác
(3,4%). Có sự khác biệt trên, vì đa số nghiên cứu
của các tác giả này phẫu thuật cắt bán phần dưới
hay cắt toàn bộ dạ dày đều kèm theo nạo hạch
D2 và bờ cắt dạ dày R0 tức là không để sót lại
thương tổn ung thư trên vi thể. Còn trong
dày được phẫu thuật kèm nạo hạch D1 có tỷ lệ
sống 5 năm là 10%, nạo hạch D2 và D3 là 45%.
Theo Xiang-Fu(19), nhóm bệnh nhân ung thư dạ
dày được phẫu thuật kèm nạo hạch D1 có tỷ lệ
sống 5 năm là 34,5%, D2 là 53,5% và D3 là 50,8%.
Theo Moriguchi(11) thì khả năng sống thêm 3 năm
ở những bệnh nhân được điều trị cắt dạ dày nói
chung là khoảng 40%, riêng cắt dạ dày triệt căn
thì tỷ lệ này lên đến 75%.
Liên quan đến hoá trị, trong nghiên cứu của
chúng tôi có 27 trường hợp không hóa trị, 12
trường hợp hóa trị được 1-2 chu kỳ, 7 trường
hợp hóa trị 3-4 chu kỳ, 9 trường hợp hóa trị 5-6
chu kỳ, 32 trường hợp hóa trị hơn 8 chu kỳ. Tất
cả bệnh nhân được hóa trị bằng Capecitabine
(Xeloda), không có chỉ định đặc biệt cho những
bệnh nhân hóa trị. Nhóm bệnh nhân không
tham gia hóa trị và có tham gia hóa trị sau mổ có
thời gian sống trung bình sau mổ lần lượt là
12,39 ± 3,02 tháng và 15,21 ± 1,68 tháng. 50%
bệnh nhân có hóa trị hỗ trợ sau mổ có thời gian
sống là 12 tháng dài hơn so với 7 tháng nhóm
bệnh nhân không được hóa trị hỗ trợ sau mổ,
tuy nhiên kết quả theo dõi sống thêm 5 năm sau
mổ khác nhau giữa các nhóm không có ý nghĩa
thống kê (p > 0,05).
Một hướng đi mới hiện nay đang được quan
tâm là hóa trị tân hỗ trợ. Theo hướng dẫn điều trị
ung thư dạ dày của Hiệp hội Ung thư dạ dày
Nhật Bản và theo Avital (1), hóa trị tân hỗ trợ
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Avital I, Pisters PWT et al (2011). In Cancer: Principles and
practice of oncology, Cancer of the Stomach, 9th edition by
Lippincott Williams and Wilkins, a Wolters Kluver.
Diệp Bảo Tuấn (2005). Ung thư dạ dày: chẩn đoán và điều trị.
Luận án chuyên khoa II, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí
Minh.
Đỗ Đình Công (2003). Đối chiếu lâm sàng, giải phẫu bệnh
carcinoma tuyến dạ dày với kết quả sớm sau mổ. Luận án
Tiến sĩ y học, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.
Đỗ Minh Hùng, Dương Bá Lập (2014). Kết quả phẫu thuật cắt
dạ dày bán phần với nội soi hỗ trợ nạo vét hạch D2 điều trị
ung thư dạ dày tiến triển. Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí
Minh, tập 18(1), tr.344-350.
Ferlay J, Soerjomataram I et al (2012). Global cancer facts and
figures 2012. Cancer incidence and mortality worldwide.
Clinicopathological features of gastric carcinoma in younger
and middle-aged patients: A comparative study. J Gastrointest
Surg, 10(7), pp.1023-1032.
Medina-Franco H, Heslin MJ, Cortes-Gonzalez R (2000).
Clinicopathological characteristics of gastric carcinoma in
young and elderly patients: comparative study. Ann Surg
Oncol, 7(7), pp. 515-519.
Moriguchi S, Maehara Y et al (1993). Relationship between age
and the time of surgery and prognosis after gastrectomy for
gastric cancer. J Surg Oncol, 52(2), pp. 119-123.
Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Thành Chung (1996). Bước đầu
tìm hiểu liên quan giữa viêm loét dạ dày tá tràng mạn tính với
ung thư dạ dày về mặt mô bệnh học. Y học thực hành, (11),
tr.38-39.
Phạm Duy Hiển (2007). Ung thư dạ dày. Nhà xuất bản Y học,
tr. 131-132.
Ruy KW, Kim YW, Lee JH, Nam BH (2008). Surgical
complications and the risk factors of laparoscopy – assisted
distal gastrectomy for advanced gastric cancer. Ann Surg
Oncol, 15, pp. 1625-1631.
Sah BK, Chen MM et al (2009). Gastric cancer surgery: Billroth
I or Billroth II for distal gastrectomy?. BMC Cancer, pp.428437.
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học
16.
17.
18.
Ngày phản biện nhận xét bài báo
31/8/2016
Ngày bài báo được đăng:
05/10/2016
63