ĐÁNH GIÁ kết QUẢ điều TRỊ UNG THƯ dạ dày GIAI đoạn IV tại KHOA UNG bướu BỆNH VIỆN đại học y hà nội - Pdf 37

B GIO DC V O TO

B Y T

TRNG I HC Y H NI

Lấ ANH TUN

ĐáNH GIá KếT QUả ĐIềU TRị UNG THƯ Dạ DàY
GIAI ĐOạN IV TạI KHOA UNG BƯớU BệNH VIệN
ĐạI HọC Y Hà NộI

CNG LUN VN THC S Y HC

H NI 2015


B GIO DC V O TO

B Y T

TRNG I HC Y H NI

Lấ ANH TUN

ĐáNH GIá KếT QUả ĐIềU TRị UNG THƯ Dạ DàY
GIAI ĐOạN IV TạI KHOA UNG BƯớU BệNH VIệN
ĐạI HọC Y Hà NộI
Chuyờn ngnh : Ung th
Mó s



ECOG

: Eastern Cooperative Oncology Group
(Tổ chức liên hiệp Ung thư Phương Đông)

GPB

: Giải phẫu bệnh

HFS

: Hand- foot syndrome ( Hội chứng bàn tay- bàn chân)

IARC

: International Agency for Research on Cancer

NCCN

: National Comprehensive Cancer Networt
(Mạng lưới Ung thư quốc tế)

PS

: Physical status (thể trạng chung)

RECIST

: Responnse Evaluation Criteria for Solid Tumors

Ung thư dạ dày (UTDD) là một trong số các bệnh ung thư phổ biến nhất
thế giới cũng như ở Việt Nam, đứng thứ 4 trong số các bệnh ung thư thường
gặp trên toàn thế giới. Tại Mỹ năm 2008 phát hiện gần 22.000 bệnh nhân mới
mắc và 10.800 bệnh nhân chết vì ung thư dạ dày. Mặc dù có nhiều tiến bộ
trong dự phòng , chẩn đoán và điều trị , UTDD vẫn là nguyên nhân tử vong
thứ 2 do ung thư (UT). Vì vậy chẩn đoán và điều trị UTDD vẫn còn là một
cách thức lớn với các nhà thực hành lâm sàng[1-3].
Tỷ lệ mắc UTDD không đồng đều giữa các vùng miền địa lý và giới tính.
Việt Nam nằm trong vùng dịch tễ có tỷ lệ mắc UTDD cao. Theo
GLOBOCAN năm 2008 ở Việt Nam có tỷ lệ mắc UTDD cao ở cả hai giới.
Trong đó nam giới là 36/100.000 dân, đứng hàng thứ 2 sau Ung thư phổi, ở
nữ giới là 26/100.000 dân, đứng hàng thứ ba sau Ung thư vú và Ung thư cổ tử
cung. Sự phân bố theo vị trí giải phẫu và thể mô bệnh học cũng có những thay
đổi đáng lưu ý, tỷ lệ UT phần trên và UT thể lan tỏa, kém biệt hóa gặp ngày
càng nhiều trong khoảng 30 năm trở lại đây[4,5].
Do các triệu chứng lâm sàng thường không đặc hiệu, mờ nhạt ,dễ nhầm
với các bệnh mạn tính của dạ dày nên việc chẩn đoán có nhiều khó khăn, do
đó phần lớn bệnh nhân đến viện ở giai đoạn muộn, khi U xâm lấn rộng vượt
quá phạm vi dạ dày hoặc di căn xa nên không còn khả năng phẫu thuật triệt
căn [ 1,6]
Điều trị ung thư dạ dày cũng giống hầu hết các ung thư tiêu hóa khác chủ
yếu là phẫu thuật. Khi khối U còn khu trú tại dạ dày và ít xâm lấn, phẫu thuật
có thể khỏi 90% các trường hợp. Tùy theo giai đoạn mức độ xâm lấn của U
mà có thể cắt thêm các tạng lân cận kết hợp với nạo vét hạch vùng có nguy cơ
di căn. Các biện pháp điều trị hóa chất và xạ trị đóng vai trò bổ trợ hoặc điều


6

trị triệu chứng . Bao gồm điều trị hóa chất đơn thuần hoặc hóa – xạ phối hợp,

7

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.DỊCH TỄ HỌC UTDD
1.1.1. Tỷ lệ mắc bệnh
Tỷ lệ mắc UTDD ở đa số các nước phương Tây đã giảm một cách rõ
rệt trong vài thập kỉ qua. Tuy nhiên, tính trên toàn thế giới UTDD hiện vẫn là
một trong những bệnh UT phổ biến , đứng thứ tư trong số các bệnh UT . Ước
tính có khoảng 990.000 ca mới mắc và 738.000 trường hợp tử vong vào năm
2008. Theo GLOBOCAN năm 2008 ở Việt Nam có tỷ lệ mắc UTDD cao ở cả
hai giới, đứng hàng thứ 2 sau Ung thư phổi ở nam giới và đứng hàng thứ ba
sau Ung thư vú và Ung thư cổ tử cung ở nữ giới.
Tỷ lệ UTDD rất khác biệt giữa các vùng địa lý. Khoảng 60% UTDD
xuất hiện ở các nước đang phát triển, tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở Đông Á ,Nam
Mỹ và Đông Âu trong khi tỷ lệ mắc thấp nhất ở Bắc Mỹ, Bắc Âu và hầu hết
các nước ở Châu Phi và Đông Nam Á. Một sự khác biệt mắc bệnh và tử vong
từ Bắc tới Nam đã được quan sát thấy ở nhiều quốc gia, là Miền Bắc có nguy
cơ tử vong cao hơn Miền Nam. Sự biến thiên này đặc biệt được lưu tâm ở bán
cầu Nam, trong khi ở bán cầu Bắc nguy cơ tử vong có xu hướng cao hơn ở
bán cầu Nam[7]. Tại khu vực Đông Nam Á , Việt Nam có tỷ lệ mới mắc
UTDD cao nhất , theo GLOBOCAN 2008 [3,8].
1.1.2 Tuổi và giới
UTDD rất ít gặp ở lứa tuổi dưới 40, tỷ lệ mắc bệnh tăng dần ở sau tuổi 40
và tiếp tục tăng nhanh từ sau tuổi 70 . Nam giới gặp nhiều hơn nữ giới với tỷ
lệ nam/ nữ là 2/1. Một nghiên cứu đánh giá tình hình UTDD giai đoạn muộn
tại Bệnh Viện K cho thấy, tuổi mắc bệnh ung thư trung bình ở nam giới là
56,4 và ở nữ giới là 52,5 và tỷ lệ nam/nữ là 3.7/1. Tuy nhiên trong vài thập kỉ




9

1.1.3.4. Các yếu tố di truyền
UTDD có tính chất gia đình, chiếm tỷ lệ 1-15% trong tổng số bệnh nhân
mắc bệnh. UTDD có thể là bệnh có tính chất gia đình nhưng hiện chưa chứng
minh được vai trò của yếu tố di truyền.
Nhóm máu A, tỷ lệ nhóm máu này trong số bệnh nhân UTDD là cao hơn
các nhóm máu khác là 20%[9].
1.1.3.5. Các tổn thương bệnh lý của dạ dày
Có nhiều dạng tổn thương, u và viêm, được xem là các yếu tố nguy cơ


của UTDD .
Viêm teo dạ dày mãn tính: là tình trạng teo biểu mô tuyến tiến triển kèm mất
các tế bào rìa và tế bào chính. Đây được coi là một tổn thương tiền UT của
UTDD. Nguy cơ tăng gấp 4 lần khi viêm dạ dày mãn tính có liên quan tới



bệnh thiếu máu ác tính Bierner.
Loét dạ dày mãn tính: nguy cơ hình thành UT trên một ổ loét mạn tính là rất
khác nhau theo các nghiên cứu trước đây cũng như khái niệm “ loét UT hóa “.



Nguy cơ UTDD tăng gấp 2 lần trong các trường hợp loét dạ dày mãn tính.
Dị sản ruột: dị sản là sự thay đổi từ một tuýp tế bào biệt hóa đầy đủ sang một
tuýp khác, là một quá trình thích nghi với các kích thích môi trường. Dạng dị
sản hay gặp nhất ở dạ dày là type ruột, do nhiễm H.pylori, trào ngược dịch

Trước đây phần lớn các khối u nằm ở phần dưới của dạ dày (hang-môn
vị). Có một sự thay đổi lớn về vị trí khối u trong vòng 30 năm trở lại đây, theo
đó các UT phần thấp giảm dần trong khi các khối u phần trên dạ dày vốn có
tiên lượng xấu hơn, lại gia tăng đáng kể [26].
1.2.2. Hình ảnh đại thể
Các UTDD thường xâm lấn, hiếm khi khu trú trên bề mặt, trừ những
vùng dịch tễ có chiến lược sàng lọc phát hiện sớm bằng nội soi ống mềm như
tại Nhật Bản. Phân loại của Bormann hiện vẫn được sử dụng nhiều nhất gồm
4 hình ảnh đại thể: Type I (thể sùi ), Type II ( thể sùi và loét ), Type III ( thể
loét và thâm nhiễm ), Type IV ( thể thâm nhiễm ) [12].
1.2.3. Hình ảnh vi thể của UTBM dạ dày
Trên 90% UTDD là các ung thư biểu mô tuyến (UTBMT)[13]. Hệ thống
phân độ mô học 3 bậc chỉ được áp dụng cho các UTBM tuyến ống và dựa
theo mức độ gợi nhắc lại hình ảnh biểu mô dạ dày bình thường của khối u.
Các UTBM biệt hóa cao được tạo bởi các tuyến được lót bằng tế bào cột
trưởng thành của dạ dày. Các khối u biệt hóa vừa có biểu hiện trung gian giữa
tế bào biệt hóa cao và kém biệt hóa. Các UTBM kém biệt hóa được tạo bởi
các tuyến rất bất thường, tế bào nhẫn, hoặc các cụm tế bào bất thường. Các
dưới type khác và biến thể của UTDD không được phân độ mô học[14] .


11

Phân loại được sử dụng phổ biến nhất là phân loại của Lauren (1965),
chia UTDD thành type ruột và type lan tỏa , dựa trên đặc điểm mô học , cấu
trúc và sự lan tràn của khối u[3,15,16].
1.3. TIẾN TRIỂN CỦA UTDD
1.3.1. Tiến triển tự nhiên của UTDD
Từ tổn thương ban đầu tại dạ dày, các tế bào UT có thể lan tới các cơ quan
khác theo các đường sau.

dịch ổ bụng dương tính).
Thể thâm nhiễm cứng lan tỏa
Các tổn thương tái phát không còn khả năng phẫu thuật triệt căn.
Theo phân loại giai đoạn UT năm 2010 của AJCC/UICC, đó là những khối
u được xếp giai đoạn III và IV [1, 3] .

1.4. TRIỆU CHỨNG CỦA UTDD TIẾN TRIỂN


12

1.4.1. Biểu hiện lâm sàng
Ở giai đoạn bệnh tiến triển, triệu chứng của UTDD trở nên rõ ràng hơn,
xuất hiện thường xuyên và liên tục. Trong một nghiên cứu lớn đánh giá trên
18.363 bệnh nhân tại Hoa kỳ, các biểu hiện này gồm: sụt cân không rõ
nguyên nhân (62%), đau bụng thượng vị (52%), đầy bụng (18%), chán ăn
(32%), có thể gặp khó nuốt (26%) khi khối u ở tâm vị, buồn nôn hoặc nôn
(34%) hay biểu hiện của hẹp môn vị khi khối u nằm ở hang môn vị dạ dày, có
thể biểu hiện chảy máu tiêu hóa cao như nôn ra máu hay đi ngoài phân đen
(20%) [18].
Thăm khám lâm sàng có thể thấy các triệu chứng thiếu máu, sờ thấy khối
u trên bụng thường khi bệnh nhân đã tiến triển tại vùng. Các dấu hiệu bệnh
lan tràn đôi khi lại là biểu hiện đầu tiên như hạch Troisier, lan tràn phúc mạc
được thể hiện bằng dịch ổ bụng hay tắc ruột, di căn gan hay di căn buồng
trứng. Các biểu hiện toàn thân do hội chứng cận u thường hiếm gặp [19].
1.4.2. Thăm khám cận lâm sàng
1.4.2.1. Nội soi đường tiêu hóa trên
Nội soi ống mềm thực quản – dạ dày – tá tràng, nó cho phép biết được vị
trí và mức độ tổn thương, các hình ảnh đại thể qua nội soi UTDD tiến triển
như thể sùi, thể loét, thể thâm nhiễm và ung thư thể xơ đét. Sinh thiết tổn


khoảng 40%[22].
CA 72-4 là một chất chỉ điểm u mới được nghiên cứu, với độ nhạy và độ
đặc hiệu cao trong UTDD . Mức độ tăng CA 72-4 còn liên quan đến sự



tiến triển của bệnh.
Gần đây nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy nồng độ CA72-4 là chỉ số
có giá trị cao hơn, đáng tin cậy trong chẩn đoán UTDD . Các báo cáo cho
thấy độ nhạy của CA72-4 đạt 34%- 76%.
Phối hợp cả 3 chất chỉ điểm trên làm tăng độ nhạy lên 87%[2].

1.4.3. Đánh giá sự lan tràn của bệnh
1.4.3.1.Thăm khám lâm sàng
Đánh giá hạch thượng đòn trái (hạch Troiser), di căn gan, cổ chướng hay
khối cứng ở Douglas khi thăm trực tràng, là dấu hiệu của bệnh lan tràn phúc
mạc.
1.4.3.2.Thăm khám cận lâm sàng
* Chụp phổi: cho phép phát hiện các di căn phổi.


14

* Siêu âm bụng: giúp phát hiện cổ chướng, bằng chứng của một lan tràn phúc
mạc, sự xâm lấn tới các cơ quan kế cận, các hạch lớn trong ổ bụng và phát
hiện di căn gan hoặc di căn buồng trứng.
* CT- scan ổ bụng: có thể phát hiện các khối ung thư dạ dày , đánh giá mức
độ xâm lấn trước mổ và phát hiện di căn. Tuy vậy, dù xét nghiệm này giúp
đánh giá một cách hiệu quả các di căn tạng và xâm lấn tổ chức xung quanh ,

mô bệnh học của hạch vùng được vét phải đạt ít nhất 15 hạch để đảm bảo
đánh giá giai đoạn bệnh chính xác[2].
Phân loại UTDD của Nhật Bản cho phép tính đến vị trí của hạch so với
khối u từ định nghĩa các nhóm hạch từ N1 đến N4. N1 là các hạch quanh bờ
cong dạ dày, N2 là chặng hạch quanh các thân động mạch cấp máu cho dạ
dày, N3 là vị trí giữa động mạch – tĩnh mạch chủ, N4 là các hạch ở vị trí di
căn xa[1].
1.5.2. Các yếu tố tiên lượng
UTBMT dạ dày nói chung có tiên lượng xấu. Xác định các yếu tố tiên
lượng cho phép lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp. Các yếu tố tiên
lượng được xếp thành 3 nhóm , các yếu tố liên quan đến giai đoạn bệnh , các
yếu tố liên quan đến người bệnh, các yếu tố liên quan đến điều trị.
1.5.2.1. Tuổi
BN lớn tuổi , trên 70 tuổi có tiên lượng sống thêm kém hơn.
1.5.2.2. Phân loại TNM




Chẩn đoán giai đoạn theo phân loại TNM theo AJCC 7 năm 2010.
Phân loại TNM trong UTDD theo AJCC/UICC 2010[26].
Phân loại T : khối u nguyên phát
o T1 khối u xâm lấn màng đáy , lớp cơ niêm , hoặc lớp dưới niêm
o
o
o
o

mạc.
T1a khối u xâm lấn màng đáy và lớp cơ niêm.






giảm xuống chỉ còn 13% với N(+) (có di căn hạch). Tỷ suất hạch di căn/ tổng


số hạch >20% là một yếu tố tiên lượng xấu.
Di căn xa : thời gian sống trung bình dưới 10 tháng khi có di căn xa, thậm chí
còn thấp hơn nếu có di căn gan, phổi hoặc cổ chướng.
1.5.2.3. Độ biệt hóa: khối u kém biệt hóa , các tế bào lệch bội lẻ có tiên lượng
xấu.
1.5.2.4. Cách thức phẫu thuật: phẫu thuật tạm thời có tiên lượng xấu hơn.
1.5.2.5. Rìa diện cắt: rìa diện cắt còn UT có tiên lượng xấu hơn so với một
diện cắt không còn tế bào UT, với thời gian sống trung bình là 8 tháng so với
18 tháng.
1.5.2.6.Tổn thương còn lại sau điều trị ( R0,R1 hoặc R2): phẫu thuật R0
(không còn UT trên vi thể) có tiên lượng tốt hơn[2,3].
1.6 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ
1.6.1. Phẫu thuật
Phẫu thuật là phương pháp điều trị cơ bản trong UTDD , tuy nhiên tỷ lệ
BN được phẫu thuật triệt căn cũng chỉ đạt khoảng 40-50%. Dẫu vậy, với
những bệnh nhân không cắt bỏ được, phẫu thuật cần thiết là phục hồi lưu
thông của hệ thống tiêu hóa tạo điều kiện thuận lợi cho các biện pháp điều trị
tiếp theo, đảm bảo sức khỏe và kéo dài thời gian sống của BN.


17


18



Di căn gan: cắt bỏ tổn thương di căn gan đã được thực hiện cho số ít
BN có di căn gan đơn độc (chỉ khoảng 0,5%), nhưng kết quả sống thêm



vẫn không thay đổi nhiều[28].
Di căn phổi: cắt bỏ tổn thương di căn phổi có thể đem lại lợi ích sống
thêm cho số ít BN.

1.6.2. Xạ trị
Vai trò của xạ trị trong UT tiêu hóa cũng như trong UTDD chưa được
đánh giá đầy đủ, trừ một số vị trí như UT trực tràng , UT thực quản và UT
ống hậu môn. Xạ trị đôi khi được áp dụng trong điều trị bổ trợ trước phẫu
thuật hoặc với vai trò giảm nhẹ triệu chứng cho các tổn thương không thể cắt
bỏ, ở những BN thể trạng chung không cho phép tiến hành phẫu thuật.
Hóa xạ trị kết hợp
Các kết quả từ thử nghiệm INT-0116 trong điều trị bổ trợ UTDD đã làm
thay đổi chiến lược điều trị UTDD ở Hoa Kỳ, với việc áp dụng các hóa chất
và tia xạ trong điều trị sau mổ ở những BN có khối u lan qua hết thành dạ dày
và/ hoặc có hạch dương tính. Tia xạ sau mổ phối hợp đồng thời với hóa chất
có 5-FU (fluorouacil) được khuyến cáo cho những BN giai đoạn từ IB trở
đi[29].
Hóa xạ đồng thời còn được chỉ định cho các UTDD tại chỗ không cắt bỏ
được hoặc thể trạng BN không cho phép phẫu thuật. Khi đó mục đích điều trị
có thể là triệt căn hay tạm thời tùy theo từng tình huống lâm sàng. Những BN
cắt dạ dày không triệt để hay có diện cắt dương tính cũng có thể được điều trị

thời điểm đó [19]. Tới những năm 1980 các đơn chất khác như cisplatin và
etoposide cũng cho thấy một tỷ lệ đáp ứng nhất định trong UTDD, hiệu quả
của 5-FU cũng gia tăng nhờ phối hợp với MTX hay leucovorin. Phối hợp của
các tác nhân này mà đặc biệt là 5-FU với cisplatin được xem là phương pháp
điều trị an toàn và hiệu quả. Nhiều thử nghiệm ngẫu nhiên với các tác nhân
mới và các phác đồ phối hợp đã được thực hiện từ những năm 1990 để xem


20

xét hiệu quả của hóa trị trong điều trị UTDD tiến triển không còn khả năng
phẫu thuật[32].


21

1.7.1. Vai trò của hóa trị trong UTDD giai muộn
1.7.1.1. Hóa trị liệu so với chăm sóc nâng đỡ
Wagner và cộng sự đã thực hiện một phân tích tổng hợp, đánh giá các
nghiên cứu so sánh hiệu quả hóa chất toàn thân với chăm sóc hỗ trợ đơn
thuần. Những BN được điều trị hóa chất trong quá trình trị liệu có thời gian
sống trung bình khoảng 11 tháng, kéo dài hơn so với BN chỉ nhân chăm sóc
hỗ trợ là 4,3 tháng. Phân tích này đã đưa ra các bằng chứng ủng hộ cho việc
điều trị hóa chất ở BN UTDD tiến triển không còn khả năng phẫu thuật.
Trong một thử nghiệm khác, chất lượng cuộc sống của BN cũng được đánh
giá, thời gian sống có chất lượng trung bình ở những BN hóa trị cao hơn
những BN chỉ chăm sóc giảm nhẹ (12 tháng so với 6 tháng).
Kết quả từ các nghiên cứu thử nghiệm gần đây đã chỉ ra rằng những BN
UTDD giai đoạn muộn không còn khả năng phẫu thuật triệt căn mà có thể
dung nạp các độc tính tiềm tàng của điều trị sẽ đạt lợi ích dù nhỏ nhưng rõ

Cisplatin được nghiên cứu đầu tiên từ nhưng năm 1980 với tỉ lệ đáp ứng
khoảng 15%. Độc tính chính của cisplatin là buồn nôn và nôn, bệnh lý thần
kinh ngoại vi, độc tính trên tai và độc tính thận. Sự phát triển của các thuốc
chống nôn mạnh đã giúp cho việc kiểm soát đáng kể độc tính nôn, buồn nôn.
Carboplatin ít được nghiên cứu trong UTDD và cũng ít hiệu quả hơn. Gần
đây, oxaliplatin cũng được áp dụng như một phần của điều trị đa hóa chất
trong UTDD.
Các taxane là nhóm thứ ba trong các tác nhân độc tế bào có hoạt tính
trong UTDD. Cả đơn chất paclitaxel và docetaxel đều được nghiên cứu trong
các UT thực quản dạ dày, đặc biệt là docetaxel với tỉ lệ đáp ứng toàn bộ là
khoảng 20%. Các độc tính chính là hạ bạch cầu, rụng tóc và phù thũng. Phản
ứng dị ứng được thấy ở khoảng 25% BN. Liều thường dùng là docetaxel 75100 mg/m2 mỗi 3 tuần. Paclitaxel cũng được nghiên cứu trong UTDD, dù với
nhóm nhỏ BN, và cũng cho thấy mức hoạt tính tương đương[37,38]
Irinotecan là nhóm hoạt chất thứ tư, được nghiên cứu ở cả dạng đơn
chất và phối hợp, tỷ lệ đáp ứng 15-25% khi dùng đơn chất. Wagner khi phân
tích lại các dữ liệu đã kết luận rằng irinotecan trong các phác đồ phối hợp có


23

thời gian sống khiêm tốn, không khác biệt có ý nghĩa so với các phác đồ
không có irnotecan. Độc tính chính của irinotecan là ức chế tủy xương và tiêu
chảy[39]
Các anthracycline cũng có hoạt tính trong UTDD. Dữ liệu từ những
năm 1960-1970 cho thấy tỷ lệ đáp ứng của doxorubicin là 17%, của
epirubicin cũng tương tự khoảng 19%. Các anthyracycline hiện được nghiên
cứu rộng rãi trong các phối hợp hóa trị.
1.7.1.3. Điều trị đơn hóa chất so với đa hóa chất
Lợi ích của việc phối hợp hóa chất so với đơn chất đã được Wagner và
cộng sự đánh giá trên những dữ liệu phân tích tổng hợp. Tuy vậy, sự khác biệt

chẳng hạn như các thuốc chống nôn thế hệ mới như Aprepitant có thể kiểm
soát tốt buồn nôn và nôn, dùng các chất kích thích tủy xương có thể làm giảm
tỉ lệ sốt hạ bạch cầu[42].
Docetaxel, Cisplatin và Fluoropyrimidine (DCF): Van Cutsem và
cộng sự gần đây đã báo cáo kết quả của thử nghiệm ngẫu nhiên so sánh phối
hợp DCF với nhóm chứng là CF (thử nghiệm TAX325), thời gian bệnh tiến
triển trung bình 3,7 tháng ở nhóm CF và 5,6 tháng ở nhóm DCF , thời gian
sống cũng tăng nhẹ từ 8,6 tháng với CF lên 9,2 tháng với DCF.Mặc dù nghiên
cứu này đã chỉ ra hiệu quả của việc phối hợp với 3 thuốc, độc tính tương ứng
cũng tăng đáng kể . 81% BN điều trị DCF có độc tính độ 3-4 tuy nhiên ,không
có sự khác biệt về tỉ lệ tử vong do điều trị ở cả 2 nhóm.
Irinotecan với Fluoropyrimidine –leucovorin(FOLFIRI): phối hợp 3
thuốc đã được nghiên cứu rộng rãi trong UT đại trực tràng di căn. Các thử
nghiệm tương tự cũng được thực hiện với UTDD. Một thử nghiệm phase III
đã so sánh IF (irinotecan-Fluorouracil) với CF cho thấy hiệu quả không kém
hơn. Không có sự khác biệt trong tỉ lệ đáp ứng toàn bộ (31,8% với IF và
25,8% với CF) thời gian tới khi bệnh tiến triển (5 tháng với IF và 4,2 tháng
với CF) cũng thời gian sống toàn bộ (9 tháng IF và 8,7 tháng CF). Độc tính ở
nhóm IF thấp hơn, đặc biệt tỉ lệ sốt hạ bạch cầu. Kết luận được đưa ra là IF
không kém hơn CF và có vẻ ít độc tính hơn[43].
Epirubicin, Cisplatin, và Fluoropyrimidine (ECF): phác đồ 3 thuốc
epirubicin, cisplatin và fluorouracil (ECF) đã được nghiên cứu. Hai thử


25

nghiệm ngẫu nhiên phase III đã so sánh ECF với một phối hợp không có
cisplatin (FAMTX) hay không có anthracycline (MCF). Trong nghiên cứu
đầu tiên, ECF hiệu quả hơn FAMTX cả về tỉ lệ đáp ứng và thời gian sống
trung bình (8,75 tháng với 6,1 tháng). Thử nghiệm thứ 2 so sánh ECF với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status