Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 21 * Số 2 * 2017
Nghiên cứu Y học
NGHIÊN CỨU CÁC GIÁ TRỊ CỦA MUNE TRÊN CƠ DUỖI NGẮN
CÁC NGÓN CHÂN Ở NGƯỜI VIỆT NAM TRƯỞNG THÀNH KHỎE MẠNH
Nguyễn Lê Trung Hiếu*, Nguyễn Hữu Công**
TÓM TẮT
Cơ sở nghiên cứu: Đơn vị vận động là thành phần cơ bản của hệ thống thần kinh cơ. Số lượng đơn vị vận
động có thể ước lượng được bằng điện cơ qua kỹ thuật MUNE (motor unit number estimation).
Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát giá trị trung bình và ngưỡng chẩn đoán bất thường của MUNE trên cơ
duỗi ngắn các ngón chân ở người Việt Nam trưởng thành khỏe mạnh.
Phương pháp nghiên cứu: Thống kê mô tả hàng loạt trường hợp người trưởng thành khỏe mạnh. Khảo sát
MUNE bằng hai kỹ thuật kích thích tăng dần và kích thích nhiều điểm trên thần kinh mác sâu ghi trên cơ duỗi
ngắn các ngón chân hai bên.
Kết quả: Có 82 người tham gia nghiên cứu. Giá trị trung bình và ngưỡng chẩn đoán của MUNE trên cơ
duỗi ngắn các ngón chân từng bên theo kỹ thuật kích thích tăng dần lần lượt là: bên phải 146,5 ± 39,5 và 96, bên
trái 145,0 ± 38,5 và 94; và kỹ thuật kích thích nhiều điểm lần lượt là: bên phải 146,1 ± 37,8 và 97,3, bên trái 144,0
± 36,5 và 91,6.
Kết luận: Ngưỡng chẩn đoán bất thường của MUNE trên cơ duỗi ngắn các ngón chân có giá trị tham chiếu
lần lượt là 94 đối với kỹ thuật kích thích tăng dần và 91 đối với kỹ thuật kích thích nhiều điểm.
Từ khóa: cơ duỗi ngắn các ngón chân, thần kinh mác sâu, phương pháp ước lượng số lượng đơn vị vận
động, kỹ thuật kích thích tăng dần, kỹ thuật kích thích nhiều điểm
ABSTRACT
STUDYING MUNE VALUES IN THE EXTENSOR DIGITORUM BREVIS MUSCLE OF HEALTHY
ALDULT VIETNAMESE SUBJECTS
Nguyen Le Trung Hieu, Nguyen Huu Cong
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Supplement of Vol. 21 - No 2 - 2017: 139 - 145
Background: Motor unit is basic component of neuromuscular system. Motor unit number estimation
ước lượng số lượng đơn vị vận động kiểm soát
một cơ hoặc một nhóm cơ và có thể ứng dụng
trong thực hành lâm sàng(9).
Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên
cứu về MUNE trên người bình thường. Tuy
nhiên, các báo cáo về giá trị trung bình trên
người bình thường và ngưỡng chẩn đoán bệnh
của MUNE vẫn còn khá khác nhau tùy theo
nhóm tác giả và cơ sở nghiên cứu. Chưa có một
ngưỡng chẩn đoán chính thức được đồng thuận.
Tại Việt Nam, MUNE chưa có nghiên cứu
nào công bố về MUNE. Mục tiêu của nghiên cứu
này là xác định giá trị trung bình và ngưỡng
chẩn đoán bệnh của MUNE trên cơ duỗi ngắn
các ngón chân thuộc thần kinh mác sâu hai bên
bằng hai kỹ thuật MUNE kích thích tăng dần và
MUNE kích thích nhiều điểm ở người Việt Nam
trưởng thành khỏe mạnh.
ĐỐITƯỢNG–PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Người Việt Nam trưởng thành.
Không có tiền sử hoặc đang mắc bất kỳ bệnh
nào trong các bệnh sau đây: bệnh neuron vận
động, bệnh thần kinh ngoại biên, bệnh tiếp hợp
thần kinh cơ và bệnh cơ.
Không có tiền sử gia đình về bệnh thần kinh
di truyền.
Đồng ý tham gia nghiên cứu.
Theo công bố về MUNE của nhóm tác giả
Gooch, Doherty, Bromberg, Stashuk, Daube và
cộng sự thuộc AANEM (hội bệnh thần kinh cơ
và chẩn đoán điện Mỹ), đăng trên tạp chí Muscle
& Nerve 50, năm 2014, trong đó: MUNE theo kỹ
thuật kích thích tăng dần khi khảo sát ở cơ duỗi
ngắn các ngón chân thuộc dây thần kinh mác sâu
là 206 ± 61 làm cơ sở tính cỡ mẫu.
Chấp nhận sai số loại I là α = 0,1 và loại II là
β = 0,2 ta có hằng số C = 6,15.
Cỡ n =6,15/(206/61)2 = 53,9.
Như vậy, cỡ mẫu ít nhất là: 54 người.
Phương pháp nghiên cứu
Các biến trong nghiên cứu
Tuổi: gồm có số tuổi và nhóm tuổi (< 30, 30 39, 40 - 49, > 50), tính theo lời khai về tuổi của
người tham gia nghiên cứu.
Giới tính: hai giá trị, 1 là nam và 0 là nữ, ghi
theo lời khai của người tham gia nghiên cứu.
Bên khảo sát: hai giá trị là bên phải và bên
trái, là bên của người tham gia nghiên cứu.
Kỹ thuật MUNE: hai kỹ thuật là IST và MPS.
Chuyên Đề Nội Khoa
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 21 * Số 2 * 2017
Biên độ CMAP (mV): biến định lượng, giá trị
biên độ CMAP thu được theo khảo sát vận động
thường qui, tính từ đường đẳng điện đến đỉnh
Kỹ thuật MUNE kích thích nhiều điểm
(MPS): Điện cực kích thích đặt cố định tại cổ
chân. Các điện cực bề mặt được đặt trên cơ
duỗi ngắn các ngón chân theo cách ghi bụng
gân. Độ nhạy khai thác tăng từ 50 - 100
µV/khoảng để quan sát những bước biên độ
thấp. Cường độ kích thích thấp 3 - 10mA để
kích hoạt sợi trục đầu tiên và ghi SMUP đầu
tiên. Điện cực kích thích được di chuyển đến
một vị trí khác dọc dây thần kinh và cũng ghi
nhận một đáp ứng khác theo nguyên lí tất cả
Thần kinh
Nghiên cứu Y học
hoặc không tương tự đáp ứng đầu tiên. 10 đáp
ứng (SMUP) được chọn, ghi vào bảng thu thập
số liệu. Kích thích trên tối đa để ghi và tính
biên độ CMAP. Giá trị mSMUP và MUNE
được tính sau khi đã hoàn tất nhập số liệu.
Các bước tiến hành nghiên cứu
Bước 1: Giải thích và đồng ý tham gia
nghiên cứu.
Bước 2: Khảo sát dẫn truyền vận động
thường qui dây thần kinh mác sâu theo kỹ
thuật ghi CMAP. Ghi nhận CMAP, nếu có
biểu hiện quá bất thường, loại khỏi nghiên
cứu. Nếu biên độ và hình thái CMAP trong
141
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 21 * Số 2 * 2017
Nghiên cứu Y học
Các số liệu được nhập liệu bằng phần
mềm Excel.
bình thường hoặc gần bình thường và tiếp tục
thực hiện các bước trên.
Xử lí thống kê
Các biến số định lượng được trình bày dưới
dạng trung bình ± độ lệch chuẩn.
Thống kê này được thực hiện trên phần
mềm Stata 12.0.
So sánh trung bình của một biến định lượng
ở các nhóm khác nhau bằng phép kiểm Student
t-test, có ý nghĩa khác biệt khi p < 0.05.
Đặc điểm của dân số
Nếu các biến này không thỏa điều kiện sử
dụng phép kiểm Student t-test, so sánh trung
bình bằng phép kiểm phi tham số
Bảng 1: Giá trị MUNE trung bình.
Giá trị MUNE
Bên phải
IST
Bên trái
Bên phải
MPS
Bên trái
Nam (n=40)
Nữ (n=42)
Cả 2 giới (n=82)
Nam (n=40)
Nữ (n=42)
Cả 2 giới (n=82)
Cả 2 bên (n=82)
Nam (n=40)
Nữ (n=42)
Cả 2 giới (n=82)
Nam (n=40)
Nữ (n=42)
Cả 2 giới (n=82)
Cả 2 bên (n=82)
Nhỏ nhất
96,0
87,7
87,7
94,0
146,5 ± 39,5
146,5 ± 35,0
143,5 ± 42,0
145,0 ± 38,5
145,7 ± 39,0
152,8 ± 38,1
139,6 ± 36,7
146,1 ± 37,8
145,6 ± 34,6
142,4 ± 38,6
144,0 ± 36,5
145,0 ± 37,2
Đối với IST, so sánh giá trị trung bình MUNE
để so sánh MUNE giữa các nhóm tuổi, kết quả p
theo giới tính ở từng bên bằng phép kiểm
= 0,027 bên phải và bên trái p = 0,001, có ý nghĩa
Student t-test ghi nhận p = 0,111 ở bên phải và p
thống kê.
= 0,726 ở bên trái, không có ý nghĩa thống kê.
Đối với MPS, kết quả so sánh giá trị trung
bình MUNE theo giới là p = 0,115 ở bên phải và p
Bảng 3: Giá trị MUNE bình thường theo các tác giả.
Ghi
chú
Năm
IST
1971
1973
199 ± 60
198 ± 58
McComas
Sica và
(11)
McComas
(5)
Gooch
Ballantyne và
(7)
Hanse
1995
2003
210 ± 65
143 ± 73
(n=86)
Phải
Trái
Phải
Trái
96,0
94,0
97,3
91,6
146,5
145,0
146,1
144,0
Giới hạn
trên
250,3
232,4
226,2
211,1
BÀN LUẬN
Đặc điểm dân số
Nghiên cứu đã tiến hành trên 82 người Việt
Nam tình nguyện khỏe mạnh vượt cỡ mẫu dự
kiến là 54 người.
Nhóm tuổi chiếm nhiều nhất là 30 – 49 tuổi
(40 người, chiếm 48,8%) và chỉ có 1 người trên 60
tuổi nên chúng tôi gọp chung nhóm với nhóm từ
(n=82)
trong nghiên cứu của chúng tôi là 145,7 ± 39
tương tự công bố của tác giả Sica và McComas
(2003) trong một nghiên cứu với cỡ mẫu là 86
người(11). Kết quả này cũng thấp hơn so với công
bố của tác giả McComas (1971)(10) và Campbell
(1973)(3). So với công bố của McComas (1995) và
Bảng 2: Ngưỡng chẩn đoán của MUNE.
Giá trị MUNE
Tác giả
khuyến cáo của Gooch (2014)(5) thì kết quả của
chúng tôi thấp hơn. Tuy nhiên, chính tác giả
McComas là người sáng lập ra phương pháp
MUNE kích thích tăng dần cũng có những công
bố về giá trị MUNE trên thần kinh mác sâu khác
nhau trong các nghiên cứu khác nhau(7,10,11).
Tương tự, giá trị MUNE trung bình theo
MPS trong nghiên cứu của chúng tôi là 145,0 ±
37,2,thấp hơn so với với công bố của các tác giả
Ballantyne và Hanse và khuyến cáo được đưa ra
bởi Gooch (2014)(5). Mặc dù giá trị trung bình của
chúng tôi thấp hơn công bố của Gooch (2014)
nhưng độ lệch chuẩn trong nghiên cứu của
chúng tôi là 37, thấp hơn so với công bố của
Gooch là 171. Do đó, nếu chọn cùng cách tính
Nhiềutácgiảcũng so sánhgiátrị MUNE
theogiớivàtuổi(4,12). Chúng tôi tìm thấy sự khác
biệt về giá trị biên độ CMAP của thần kinh mác
sâu theo nhóm tuổi ở cả bên phải lẫn bên trái.
Chính sự khác biệt về biên độ CMAP và
mSMUP dẫn đến sự khác biệt về MUNE theo
nhóm tuổi. Nhận định này gần giống tác giả
Campbell (1973)(3) ghi nhận giá trị MUNE của
thần kinh mác sâu giảm ở nhóm tuổi > 60.
Tuy nhiên, cỡ mẫu của từng nhóm tuổi trong
nghiên cứu của chúng tôi khá nhỏ (20 người < 30
tuổi, 24 người 30 – 39 tuổi, 16 người 40 – 49 tuổi
và 22 người > 50 tuổi trong đó có 1 người thuộc
nhóm từ 60 tuổi trở lên) nên chúng tôi cũng
không so sánh được sự khác biệt về MUNE giữa
hai nhóm trên và dưới 60 tuổi như các tác giả.
Đồng thời, chúng tôi vẫn tiến hành tính giá trị
trung bình và ngưỡng chẩn đoán cho MUNE
trên toàn bộ nhóm nghiên cứu vì không đủ cỡ
mẫu để tính riêng từng nhóm tuổi.
So sánh MUNE theo bên phải và bên trái
Với IST, giá trị MUNE bên phải là 146,5 ±
39,5 bên trái là 145,0 ± 38,5. Với MPS,
giátrịMUNE bên phải là 146,1 ± 37,8 bên trái là
144,0 ± 6,5. Không có sự khác biệt khi so sánh hai
bên ở cả hai kỹ thuật. Chúng tôi chưa có tài liệu
tham khảo để so sánh kết quả này.
Tác giả
MUNE nhưng số báo cáo đưa ra ngưỡng chẩn
đoán bệnh của MUNE không nhiều. Chúng tôi
chỉ tìm thấy ngưỡng chẩn đoán cho kỹ thuật
MUNE kích thích tăng dần. Trong đó, tác giả
McComas (1993) đưa ra ngưỡng chẩn đoán là 76,
thấp hơn của chúng tôi lần lượt là 96 và 94 đối
với bên phải và bên trái(8). Tuy nhiên, tác giả
Adrian lại công bố một ngưỡng chẩn đoán cao
hơn là 120(1).
Chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu về ngưỡng
chẩn đoán cho kỹ thật MUNE kích thích
nhiều điểm.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã xác định được giá trị trung
bình và ngưỡng chẩn đoán bệnh của MUNE trên
cơ duỗi các ngón chân ngắn hai bên bằng hai kỹ
thuật MUNE kích thích tăng dần và MUNE kích
thích nhiều điểm ở người Việt Nam trưởng
thành khỏe mạnh. Với kỹ thuật kích thích tăng
dần các giá trị này là lần lượt là: bên phải 146,5,9
± 39,5 và 96, bên trái 145,0 ± 38,5 và 94; và kỹ
thuật kích thích nhiều điểm lần lượt là: bên phải
146,1 ± 37,8 và 97,3, bên trái 144,0 ± 36,5 và 91,6.
Ngưỡng chẩn đoán bất thường của MUNE
trên cơ duỗi ngắn các ngón chân có giá trị
tham chiếu lần lượt là 94 đối với kỹ thuật kích
So sánh MUNE cơ hai kỹ thuật
Bromberg MB (2006). Motor unit number estimation in
peripheral neuropathies. Preriperal Nerve Diseases Handbook of
Clinical Neurophysiologic by Kimura Jun, Elsevier, 7, pp.281-294.
Doherty TJ, Stashuk DW, Brown WF (2003). MUNE
measurement of age-related changes. Motor Unit Number
Estimation (MUNE) and Quantitative EMG by Bromberg M.B,
Supplements to Clinical Neurophysiology, Elsevier, Vol. 55,
pp.158-164.
Gawel M, Kostera-Pruszczyk A (2014). Effect of age and
gender on the number ofmotor units in healthy subjects
estimated by the multipoint incremental MUNEmethod.
5.
6.
J Clin Neurophysiol, 31(3), pp.272-278.
Gooch CL, Doherty TM, Chan KM, Bromberg M.B, Lewis R.A,
Stashuk D.W, Berger MJ, Andary MT, Daube JR (2014). Motor
unit number estimation: a technology and litearture review.
Muscle & Nerve, 50(6), pp.884 – 893.
Lawson VH (2003). Establishing normal MUNE values. Motor
Unit Number Estimation (MUNE) and Quantitative EMG by
Bromberg M.B, Supplements to Clinical Neurophysiology, Vol. 55,
pp.147-154.
Thần kinh
7.
18/11/2016
Ngày phản biện nhận xét bài báo:
12/12/2016
Ngày bài báo được đăng:
01/03/2017
145