Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 1 * 2019
KHẢO SÁT HÌNH THÁI BÌNH THƯỜNG CỦA RUỘT THỪA
Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH BẰNG X QUANG CẮT LỚP VI TÍNH
Lạc Tuệ Minh*, Nguyễn Thị Tố Quyên*, Phạm Ngọc Hoa**
TÓMTẮT
Đặt vấn đề: Viêm ruột thừa là bệnh lý cấp cứu ngoại khoa thường gặp, tuy nhiên do sự phức tạp về lâm
sàng, đa dạng về vị trí và kích thước khi khảo sát hình ảnh nên trong một số trường hợp khó phân biệt được ruột
thừa có bình thường hay không. Nắm vững đặc điểm giải phẫu của ruột thừa sẽ giúp ích trong việc chẩn đoán và
điều trị.
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình thái của ruột thừa trên X quang cắt lớp vi tính.
Phương pháp: Mô tả cắt ngang trên các bệnh nhân được chụp XQCLVT tại bệnh viện Đại học Y Dược TP.
Hồ Chí Minh. Vị trí và đường kính của ruột thừa được xác định. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS, phép
thử chủ yếu là Chi bình phương.
Kết quả: Có 413 bệnh nhân (200 nam và 213 nữ) được nghiên cứu với tuổi trung bình là 54,75 ± 15,44
tuổi. Chiều dài ruột thừa thay đổi từ 35 đến 173mm (trung bình 80,6 ± 21,9mm). Đường kính ngoài trung bình
của ruột thừa là 6,1±1,3mm. Ruột thừa ở vùng chậu chiếm 161 trường hợp (39%), sau manh tràng chiếm 87
trường hợp (21,1%), dưới manh tràng chiếm 75 trường hợp (18,2%), sau hồi tràng chiếm 38 trường hợp (9,2%),
dưới hồi tràng chiếm 31 trường hợp (7,5%), cạnh manh tràng chiếm 13 trường hợp (3,1%) và trước hồi tràng là
8 trường hợp (1,9%).
Kết luận: Ruột thừa bình thường ở vùng chậu phải chiếm tỷ lệ cao hơn sau manh tràng và là vị trí thường
gặp nhất khi khảo sát bằng XQCLVT.
Từ khóa: ruột thừa bình thường, vị trí ruột thừa, giải phẫu học ruột thừa
ABSTRACT
THE NORMAL APPENDIX ON COMPUTED TOMOGRAPHY IN ADULT VIETNAMESE
Lac Tue Minh, Nguyen Thi To Quyen, Pham Ngoc Hoa
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 - No 1- 2019: 226-231
tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
trong thời gian từ 10/2017 đến 03/2018.
Viêm ruột thừa cấp là bệnh lý thường gặp
trong các trường hợp phẫu thuật cấp cứu ổ
bụng, tuy nhiên chỉ có khoảng 50-60% bệnh
nhân có biểu hiện lâm sàng điển hình, khoảng
1/5 các trường hợp ruột thừa viêm bị chẩn
đoán lầm và 15-40% bệnh nhân cắt ruột thừa
trong cấp cứu mà ruột thừa bình thường(11). Vị
trí giải phẫu đa dạng làm việc chẩn đoán viêm
ruột thừa dễ nhầm lẫn và khó phân biệt với
các bệnh nội và ngoại khoa khác. Do đó, biết
được vị trí giải phẫu của ruột thừa có thể phẫu
thuật viên chủ động trong việc tìm kiếm ruột
thừa khi phẫu thuật.
Với độ nhạy và độ đặc hiệu cao (sn=88-100%,
sp=91-99%), XQCLVT được lựa chọn để đánh
giá viêm ruột thừa cấp trên những bệnh nhân có
triệu chứng không điển hình nhằm chẩn đoán
sớm, giảm tỷ lệ cắt ruột thừa âm tính và giảm tỷ
lệ biến chứng do ruột thừa vỡ. Việc nắm vững
các đặc điểm hình ảnh của ruột thừa bình
thường trên XQCLVT có vai trò quan trọng giúp
chẩn đoán sớm và giảm thiểu tỷ lệ dương tính
giả. Các nghiên cứu cho thấy hình ảnh của ruột
thừa thay đổi theo quốc gia và chủng tộc. Tại
Việt Nam, chúng ta cũng có nhiều nghiên cứu về
viêm ruột thừa trên siêu âm và XQCLVT nhưng
các nghiên cứu về hình thái ruột thừa bình
thường chưa nhiều và số liệu chưa thống nhất.
(51,6%), tuổi trung bình là 54,75 ± 15,44 tuổi (từ
18-87 tuổi). Các đặc điểm về hình thái ruột thừa
được trình bày ở các bảng và biểu đồ dưới đây.
Bảng 3: Chiều dài của ruột thừa
Giới
Nam
Nữ
Nam + Nữ
Trung bình
(mm)
86,9 ± 22,4
74,7 ± 19,8
80,6 ± 21,9
Ngắn nhất
(mm)
45
35
35
Dài nhất
(mm)
173
142
173
Có sự khác biệt về chiều dài trung bình của
ruột thừa ở hai giới nam và nữ (Kiểm định T với
Vị trí lớn nhất
Nhỏ nhất
(mm)
2,3
2
1,5
2
Lớn nhất
(mm)
10,5
10
10
9,8
Trung bình
(mm)
5,6 ± 1,3
5,9 ± 1,3
4,8 ± 1,5
5,4 ± 1,2
2,5
10,5
6,1 ± 1,3
Hơn 60% ruột thừa có đường kính trung
Kết quả thống kê của chúng tôi cho thấy có
sự khác biệt về vị trí ruột thừa giữa hai giới.
Vùng chậu vẫn là vị trí thường gặp nhất ở cả
nam và nữ. Vị trí thường gặp thứ hai ở nữ là sau
manh tràng; trong khi đó ở nam giới, vị trí sau
manh tràng (24%) và dưới hồi tràng xấp xỉ nhau
(25%) (Kiểm định 2 = 30,925; df=6, p 0,05.
Bảng 4: Thành phần trong lòng ruột thừa
Thành phần
Số trường Tỷ lệ (%) Tổng hợp
hợp
Lòng xẹp hoàn toàn
110
26,6
26,6%
Khí hoàn toàn
51
12,3
71,1% có
0
0%
Hầu hết lòng ruột thừa bình thường trong
mẫu nghiên cứu của chúng tôi không chứa
thành phần sỏi phân (97,8%, tương ứng 404
trường hợp). Chỉ có 2,2% (9 trường hợp) có chứa
sỏi phân trong lòng ruột. Trong đó vị trí thường
gặp nhất của sỏi phân là ở đầu tận. Kích thước
sỏi nhỏ nhất ghi nhận được là 1,5mm. Kích
thước sỏi lớn nhất là 7,4mm.
Bảng 5: Tương quan giữa vị trí gốc ruột thừa với
điểm McBurney
Vị trí
Điểm McBurney
Dưới điểm McBurney
Trên điểm McBurney
Tần số
115
94
204
Tỉ lệ %
27,8
22,7
49,4
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 1 * 2019
này cũng góp phần khẳng định lại đề nghị sử
dụng ngưỡng 3mm làm giới hạn trên để chẩn
đoán ruột thừa có độ dày thành bình thường của
Nguyễn Phước Thuyết (2012).
Kết quả của chúng tôi cho thấy đường kính
không phải lúc nào cũng có xu hướng giảm dần
từ gốc ruột thừa đến đầu tận. Tác giả Bakar
(2013)(1) cũng cho nhận định tương tự và cả hai
nghiên cứu đều cho thấy nhóm có đường kính
chung ≥7mm hầu như chiếm tỷ lệ rất ít.
Trước đây, giá trị đường kính trong tiêu
chuẩn chẩn đoán viêm ruột thừa cấp là lớn
hơn 6mm, nhưng nhiều nghiên cứu cho thấy
sử dụng ngưỡng đường kính 6mm để phân
biệt ruột thừa bình thường và bệnh lý là chưa
phù hợp. Có trên 42% bệnh nhân có đường
kính ruột thừa bình thường trên 6mm trong
nghiên cứu của Tamburrini (2005)(10) và trong
nghiên cứu của Nguyễn Phước Thuyết (2012)
là 50%. Kết quả nghiên cứu của tôi cho thấy,
nhóm có đường kính ruột thừa ≤6mm chiếm
50,8%, nhóm trên 6mm đến 7mm chiếm 29,5%
và trên 7mm chỉ chiếm 19,5%. Do đó, sử dụng
ngưỡng 7mm để làm giới hạn trên cho đường
kính ruột thừa có vẻ hợp lý tương tự như đề
xuất của một số tác giả gần đây. Dù vậy, các
tác giả này cũng khuyến cáo ngoài tiêu chuẩn
đường kính, cần phải phối hợp thêm các dấu
trí làm cho số liệu của các nghiên cứu có phần
khác nhau và khó so sánh. Tác giả Willekens
chia 4 nhóm: vùng chậu, sau manh tràng, cạnh
manh tràng và vị trí hướng về đường giữa.
Bakar (2013) chia 5 nhóm với tỷ lệ: sau manh
tràng chiếm 53,57%; vùng chậu chiếm 30,35%,
các vị trí còn lại là dưới manh tràng 3,57%, sau
hồi tràng 12,5%, không có vị trường hợp nào ở
trước hồi tràng. Naoko Iwahashi Kondo(4) chia
6 nhóm ruột thừa và kết quả nghiên cứu cho
thấy vị trí hố chậu chiếm đa số 45,4%, sau
manh tràng chiếm 21,5%; các vị trí còn lại là
dưới manh tràng 15,6%, sau hồi tràng 10,7%,
trước hồi tràng 4,4% và trước manh tràng
2,4%. Nghiên cứu của Su Lim Lee(5) chia thành
nhiều nhóm nhất (8 nhóm) (thêm nhóm trước
hồi tràng). Tuy số liệu về vị trí ruột thừa theo
vị trí giải phẫu của các tác giả dao động khác
nhau nhưng nhìn chung có hai vị trí thường
gặp nhất của ruột thừa là vị trí sau manh tràng
và vị trí vùng chậu phải. Bên cạnh đó, đối
tượng nghiên cứu khác nhau về chủng tộc, xác
hoặc người sống, trẻ em và người trưởng
thành, bệnh nhân viêm ruột thừa và bệnh
nhân không viêm ruột thừa, mổ mở và nội
soi...đã góp phần tạo nên sự khác biệt trong
kết quả về vị trí ruột thừa. Như vậy có nhiều
cách để xác định vị trí ruột thừa, tuy nhiên mỗi
phương pháp có ưu và nhược điểm nhất định,
ảnh hưởng đến độ chính xác của nghiên
hợp ruột thừa nằm trong khoảng bán kính trên
5cm tính từ điểm McBurney(6,8,9).
Tại Việt Nam, hiện chỉ có nghiên cứu của
Dương Văn Hải (2016) là có xét đến mối tương
quan giữa ruột thừa với điểm McBurney(3). Tác
giả ghi nhận chỉ có 45,2% gốc ruột thừa nằm ở vị
trí điểm McBurney, 28% nằm dưới và 26,8%
nằm trên điểm này. Nếu xét cả vị trí của gốc,
thân và đầu tận thì tỷ lệ ruột thừa có vị trí tương
ứng với điểm McBurney chiếm tỷ lệ cao hơn
(45,2%), số trường hợp ruột thừa nằm dưới điểm
McBurney nhiều hơn số nằm trên điểm này với
tỷ lệ lần lượt là 28% và 26,8%.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
chỉ có 27,8% gốc ruột thừa nằm ở vị trí điểm
McBurney, các trường hợp còn lại gốc ruột thừa
không đi qua điểm này (72,2%). Chúng tôi cũng
khảo sát vị trí của thân và đầu tận ruột thừa với
điểm McBurney và ghi nhận phần lớn các
trường hợp (66,1%) thân và/hoặc đầu tận cũng
không đi qua điểm này.
Như vậy hầu hết các nghiên cứu đều cho
thấy tỷ lệ gốc ruột thừa tương ứng với điểm
McBurney chiếm tỷ lệ không cao. Các số liệu về
điểm gốc nằm trên hay dưới điểm McBurney có
230
phần khác nhau do nghiên cứu trên các chủng
tộc khác nhau cỡ mẫu nhìn chung còn chưa đủ
là 27,8%.
TÀILIỆUTHAMKHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
Bakar SMA et al (2013). Negative correlation between age of
subjects and length of the appendix in Bangladeshi males.
Archives of Medical Science: AMS, 9(1):pp. 55-67
Dương Văn Hải (2001). Các dạng ruột thừa ở người Việt
Nam. Hình thái học, Tập san của hội hình thái học Việt Nam,
11(2):pp. 47-52.
Dương Văn Hải và cs (2016). Nghiên cứu vị trí ruột thừa
trong nội soi ổ bụng. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(2):pp.
310-313.
Kondo NI et al (2015). Dynamic Position Change of the
Vermiform Appendix in Patients with Acute Appendicitis.
Group, 35(16.7):pp. 0.01.
Lee SL et al (2014). In Vivo Location of the Vermiform
Chuyên Đề Ngoại Khoa
Willekens I et al (2014). The Normal Appendix on CT: Does Size
Matter?. PLoS One, 9(5):pp.e96476.
Ngày nhận bài báo:
08/11/2018
Ngày phản biện nhận xét bài báo:
10/12/2018
Ngày bài báo được đăng:
10/03/2019
Chuyên Đề Ngoại Khoa