Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 1 * 2019
Nghiên cứu Y học
ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH X QUANG CẮT LỚP VI TÍNH
CỦA BÓC TÁCH ĐỘNG MẠCH CHỦ
Lê Thị Nga My*, Trần Minh Hoàng*, Lê Quang Khang*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Bóc tách động mạch chủ (BTĐMC) được định nghĩa là do rách lớp nội mạc làm máu chảy vào
lớp trung mạc tạo thành lòng thật và lòng giả. Khi có nghi ngờ bóc tách động mạch chủ việc chẩn đoán, điều trị
sớm quyết định khả năng sống còn và cải thiện tiên lượng của bệnh nhân. Các phương tiện chẩn đoán bệnh này
gồm XQCLVT, cộng hưởng từ và siêu âm tim qua ngả thực quản. Trong đó, X quang cắt lớp vi tính (XQCLVT)
có độ nhạy và độ đặc hiệu cao từ 98 – 100%. XQCLVT giúp xác định chẩn đoán bóc tách, các kỹ thuật tái tạo
hình ảnh giúp đánh giá được biến chứng và tổn thương các nhánh mạch máu của động mạch chủ.
Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm hình ảnh XQCLVT của bóc tách động mạch chủ.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả: Những bệnh nhân được
chẩn đoán bóc tách động mạch chủ dựa vào hình ảnh X quang cắt lớp vi tính có tiêm thuốc cản quang trước điều
trị tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh và bệnh viện Chợ Rẫy trong thời gian từ 1/1/2016 đến
31/3/2018.
Kết quả: Từ tháng 1/2016 đến tháng 3/2018 trong mẫu nghiên cứu có 76 trường hợp thu thập tại bệnh viện
Chợ Rẫy và bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh trong đó có 33% BTĐMC loại A và 67% BTĐMC loại
B. Tuổi trung bình là 57,7, tỉ lệ nam: nữ khoảng 4:1. Yếu tố nguy cơ THA và xơ vữa động mạch chiếm tỉ lệ 85,5
% các trường hợp. Xác định được 214 lỗ rách lá nội mạc (trung bình 2,8 ± 1,3, trung vị 3, GTLN-GTNN 1-7),
đường kính trung bình của lỗ rách 1,5 ± 0,5 cm, vị trí thường gặp nhất là động mạch chủ bụng. Đường kính
động mạch chủ lên trung bình trong BTĐMC loại A là 5,0 cm, và 76% trường hợp đường kính
Materials and Methods: CT scans from 76 patients with an unoperated aortic dissection and a patent
false lumen were evaluated on a workstation of Chợ Rẫy hospital, University Medical Center HCMC.
Results: From January 2016 to March 2018, 76 patients (25 patients with type A, 51 patients with type
B) were enrolled in study. The mean age of all patients was 57.7 ± 14.4 years; 84% were male. A history of
hypertension and atherosclerosis was present in 85.5% of patients. 214 tears were identified (mean 2.8 ± 1.3
per patient, median 3, range 1–7), the mean width of intimal tear was 1.5 ± 0.5 cm, the most common
locations for tears were the abdominal aortic artery. In type A aortic dissection, maximal ascending aortic
diameters averaged 5 cm, 76% patients had aortic diameters
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 1 * 2019
Thiết kế nghiên cứu
Cắt ngang mô tả.
Phương pháp thu thập số liệu
Quy trình thu thập số liệu được thực hiện
trong thời gian từ tháng 11/2017 đến tháng
3/2018. Tiến hành hồi cứu hồ sơ các trường hợp
được chẩn đoán bóc tách động mạch chủ từ
phòng hồ sơ thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu và tiêu
chuẩn loại trừ, thu thập các số liệu về tuổi, giới,
triệu chứng lâm sàng, tiền căn. Hồi cứu hình ảnh
cắt lớp vi tính thỏa điều kiện chọn mẫu, sau đó
tiến hình phân tích đặc điểm hình ảnh.
Xử lý số liệu
Thống kê mô tả
Các biến định lượng: dữ liệu được mô tả
bằng trung bình ± độ lệch chuẩn khi ước lượng
trung bình tổng thể, giá trị tối thiểu, giá trị tối đa.
Các biến định tính: dữ liệu được mô tả bằng
tần số, tỷ lệ phần trăm.
Thống kê phân tích
Sử dụng phép kiểm chi bình phương (χ2) để
xét mối liên quan giữa phân loại BTĐMC theo
Standford với đặc điểm dân số, đặc điểm lâm
sàng và vị trí rách lá nội mạc, mối liên quan giữa
đường kính động mạch chủ ngực đoạn lên với
đặc điểm dân số, mối liên quan giữa đường kính
nhân nam chiếm tỉ lệ 84,2% và 12 bệnh nhân nữ
chiếm tỉ lệ 15,8%. Như vậy bệnh xảy ra ưu thế
hơn ở giới nam. Tuổi nhỏ nhất trong mẫu nghiên
cứu là 25 tuổi và lớn nhất là 89 tuổi. Tuổi trung
bình là 57,7 ± 14,4 tuổi. Trong đó bóc tách động
mạch chủ tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi 40-69
tuổi với tỉ lệ 72 %, nhóm tuổi ≥ 70 tuổi chiếm tỉ lệ
17% với 13/76 ca. Nhóm ≤ 39 tuổi chiếm tỉ lệ thấp
nhất với 10,5%.
Trong nghiên cứu mẫu 76 bệnh nhân bóc
tách ghi nhận 214 lỗ rách lá nội mạc, ca có số vị
trí rách lá nội mạc ít nhất là 1 vị trí, và nhiều
nhất là 7 vị trí. Trung bình mỗi bệnh nhân có
2,8 ± 1,3 lỗ rách. Kích thước trung bình của lỗ
rách lá nội mạc là 1,5 cm. Không có sự khác
biệt về số lượng lỗ rách giữa nhóm cấp tính và
mạn tính trong mỗi phân loại BTĐMC
(p>0,05). Động mạch chủ bụng là vị trí thường
gặp nhất (94 lỗ rách lá nội mạc, 44%). Vị trí
thường gặp tiếp theo là động mạch ngực
xuống (89 vị trí, 42%). Đoạn gốc động mạch và
cung động mạch chủ ít gặp nhất với 7 lỗ rách ở
gốc động mạch chủ và 4 lỗ rách ở cung động
mạch chủ). Trong BTĐMC loại A có 84% có vị
trí rách lá nội mạc quan sát được ở động mạch
chủ lên và đoạn gốc động mạch chủ nhiều hơn
nhóm không quan sát thấy lỗ rách lá nội mạc
16%, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p
Trong nghiên cứu của chúng tôi, ở BTĐMC
loại A đường kính động mạch chủ lên có giá
trị trung bình 5,0 ± 1,04 cm với trung vị 4,6 cm,
với 76% trường hợp có đường kính < 5,5 cm.
Đường kính động mạch chủ ngực đoạn xuống
trong BTĐMC loại B có giá trị trung bình là 4,2
± 1,1 cm, trung vị 4,0 cm, với 82% trường hợp
có đường kính < 5,5 cm. Các dấu hiệu gợi ý
biến chứng vỡ-dọa vỡ động chủ trong bóc tách
động mạch chủ là tràn máu màng tim chiếm tỉ
lệ 14,5%, tràn máu màng phổi chiếm tỉ lệ 13,2%
và dấu hiệu tụ máu quanh động mạch chủ
chiếm tỉ lệ 15,8%. Đây là những dấu hiệu ít
gặp, làm tăng nguy cơ tử vong ở bệnh nhân
bóc tách động mạch chủ. Trong mẫu nghiên
cứu của chúng tôi có 100% trường hợp
BTĐMC gồm cả cấp tính và mạn tính có dấu
hiệu mỏ chim, lòng giả chiếm tỉ lệ 100% và
không gặp ở lòng thật. Dấu mạng nhện chỉ có
lòng giả, không có ở lòng thật, trong khoảng
33,9% BTĐMC cấp tính và 17,7% BTĐMC mạn
tính. Những trường hợp BTĐMC có huyết
khối lòng thật luôn kèm có huyết khối ở lòng
giả. Trong bóc tách mạn tính, dấu hiệu này
gặp nhiều hơn so với bóc tách cấp tính. Bóc
tách cấp tính có dấu đóng vôi lệch tâm của nội
mạc với 32,2% ở mặt lòng thật và 1,7% mặt
lòng giả. Bóc tách mạn tính có 28,6% đóng vôi
mặt lòng thật và 0% đóng vôi mặt lòng giả.
Trong bóc tách cấp tính và mạn tính, dấu hiệu
lượng lỗ rách ở mỗi bệnh nhân giữa hai nhóm
bóc tách cấp tính và mạn tính trong mỗi phân
loại (p>0,05), với 43% lỗ rách ở động mạch chủ
ngực xuống. Tỉ lệ phân bố lỗ rách lá nội mạc
theo vị trí trong nghiên cứu của chúng tôi phù
hợp với nghiên cứu của tác giả Quint và cộng sự.
Trong 394 bệnh nhân BTĐMC trong nghiên cứu
của Hirst, 62% lỗ vào ở ĐMC lên và hầu hết nằm
trong khoảng 4 cm phía trên xoang Valsava, là vị
trí dòng máu có áp lực lớn nhất và xoáy nhất,
16% lỗ vào nằm ở ngay sau chỗ xuất phát động
mạch dưới đòn trái, sau đó quá trình bóc tách có
thể tiến triển xuôi dòng về phía ĐMC xuống
hoặc ngược dòng về phía ĐMC lên, 9% trường
hợp BTĐMC còn lại có lỗ vào xuất phát từ quai
ĐMC và hiếm khi xuất hiện ở ĐMC bụng, chỉ
3%(6). Đường kính lỗ rách lá nội mạc trung bình
trong nghiên cứu của chúng tôi là 1,5cm, tương
đương với kích thước lỗ rách lá nội mạc của tác
giả Lu Dong năm 2016 trên cả XQCLVT và DSA
là 1,4 ± 0,5 cm và 1,5 ± 0,5 cm(13). Kích thước lỗ
rách lá nội mạc giúp dự đoán sự chênh lệch áp
lực giữa lòng thật và lòng giả, kích thước càng
làm tăng sự cân bằng áp lực giữa hai lòng, lòng
thật sẽ dễ bị chèn ép gây thiếu máu tạng từ các
nhánh mạch máu xuất phát từ lòng thật(8).
Đường kính động mạch chủ lên trong bóc
tách loại A có đường kính trung bình 5,3 cm và
trung vị là 5 cm trong nghiên cứu từ dữ liệu
IRAD của Pape L năm 2007, 60% bệnh nhân có
chọn để phẫu thuật thay động mạch chủ hoặc
đặt stent nội mạch được khuyến cáo khi đường
kính gốc và động mạch chủ lên ≥ 5,5 cm, cung
động mạch chủ ≥ 5,5 - 6 cm, động mạch chủ
ngực xuống và động mạch chủ bụng ≥ 5,5 - 6
cm(2,3,4,9). Từ nghiên cứu của IRAD của tác giả
Pape L về đường kính động mạch chủ lên và tác
giả Trimarchi cho thấy phần lớn bệnh nhân bóc
tách có đường kính < 5,5 cm, như vậy đường
kính động mạch trước biến cố bóc tách đa phần
sẽ < 5,5 cm và không nằm trong nhóm điều trị
chọn lọc.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy dấu mỏ
chim (độ nhạy 100%, độ đặc hiệu 100%) dễ
dàng nhận hiện trên hình ảnh XQCLVT cắt
ngang là dấu hiệu đáng tin cậy giúp phân biệt
hai lòng và dấu hiệu luôn luôn có trong mọi
trường hợp bóc tách. Dấu mạng nhện là đường
Chuyên Đề Ngoại Khoa
Nghiên cứu Y học
đậm độ thấp trên hình XQCLVT có tiêm thuốc
tương phản do những sợi đàn hồi trong cấu
trúc lá trung mạc rách không hoàn toàn khi
bóc tách. Dấu hiệu này cũng chỉ gặp trong
lòng giả với độ nhạy 30%, độ đặc hiệu 100%,
được cho là khá đặc hiệu nhưng không nhạy
để nhận diện lòng giả. Điều này phù hợp với
có ở lòng giả có độ nhạy 29% và độ đặc hiệu
100%. Có sự khác biệt đặc điểm này so với
nghiên cứu của chúng tôi và Quint LE có thể
được giải thích bằng sự khác nhau trong hai
phương pháp khảo sát của nghiên cứu là siêu
75
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 1 * 2019
âm và XQCLVT. Huyết khối giai đoạn cấp sẽ
đậm độ cao trên XQCLVT và đậm độ thấp
trong lòng mạch ở các giai đoạn sau.
Dấu hiệu đóng vôi thành ngoài gặp ở lòng
thật nhiều hơn ở lòng giả trong BTĐMC. Tuy
nhiên dấu hiệu này không tin cậy vì trong bóc
tách mạn tính lòng giả có thể có đóng vôi với tỉ lệ
6/76 trường hợp và không có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê với đóng vôi thành ngoài mặt
lòng thật trong nhóm này. Trong nghiên cứu của
tác giả Quint trong bóc tách cấp tính không có
dấu hiệu đóng vôi thành ngoài ở lòng giả, trong
bóc tách mạn tính có đóng vôi thành ngoài lòng
thật nhiều hơn lòng giả, sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê. Nghiên cứu của tác giả de Jon PA năm
2014 cho thấy có đóng vôi thành ngoài mặt lòng
giả ở cả bóc tách động mạch cấp và mạn tính(11).
động mạch chủ ngực và động mạch chủ bụng là
hai vị trí thường gặp nhất. Nhóm đường kính
động mạch chủ ngực lên ở loại A < 5,5 cm và
đường kính động mạch chủ xuống < 5,5 cm ở
loại B chiếm đa số trong các trường hợp. Các dấu
hiệu gợi ý biến chứng vỡ-dọa vỡ động chủ trong
bóc tách động mạch chủ là tràn máu màng tim,
tràn máu màng phổi và dấu hiệu tụ máu quanh
động mạch chủ là những dấu hiệu ít gặp. Trong
phân biệt lòng thật và lòng giả thì dấu mỏ chim
là dấu hiệu đáng tin cậy nhất để xác định lòng
giả. Dấu mạng nhện và huyết khối trong lòng có
thể giúp nhận diện lòng giả. Đóng vôi lá nội mạc
có thể dự đoán lòng thật, đóng vôi thành ngoài
được sử dụng để dự đoán lòng thật trong trường
hợp bóc tách động mạch cấp tính.
TÀILIỆUTHAMKHẢO
1.
Anagnostopoulos CE, Manakavalan JS, Frederick KC (1972).
"Aortic dissections and dissecting aneurysms". American
Journal of Cardiology, 30(3):pp.263-273.
2.
Braunwald E (2018). "Diseases of aorta". Braunwald’s Heart
Disease: A textbook of cardiovascular medicine, pp.1195-1322.
3.
Hirst AE, Johns VJ, Kime SW (1958). "Dissecting aneurysm of
the aorta: a review of 505 cases". Medicine (Baltimore),
37(3):pp.217-279.
9.
Lee DY, Williams DM, Abrams GD (1997). "The dissected
aorta: part II. Differentiation of the true from the false lumen
with intravascular US". Radiology, 203(1):pp.32-36.
10.
Lu D et al (2017). "Diagnostic value of multislice
computerized tomography angiography for aortic dissection:
Chuyên Đề Ngoại Khoa
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 1 * 2019
A comparison with DSA". Experimental and Therapeutic
Medicine, 13(2):pp.405-412
11.
Pape LA et al (2007). "Aortic diameter >or = 5.5 cm is not a
good predictor of type A aortic dissection: observations from
Trimarchi S et al (2011). "Descending aortic diameter of 5.5 cm
or greater is not an accurate predictor of acute type B aortic
dissection". J Thorac Cardiovasc Surg, 142(3):pp.101-107.