B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
PHNG MAI
NHậN XéT ĐặC ĐIểM HìNH ảNH X QUANG
TRÊN BệNH NHÂN U MEN XƯƠNG HàM DƯớI TạI BệNH VIệN
RĂNG HàM MặT TRUNG ƯƠNG Hà NộI TRONG NĂM 2011
CHUYấN NGNH : RNG HM MT
KHểA LUN TT NGHIP BC S Y KHOA
NGI HNG DN KHOA HC
ThS. NGHIấM CHI PHNG
H NI 2013
1
B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
PHNG MAI
NHậN XéT ĐặC ĐIểM HìNH ảNH X QUANG
TRÊN BệNH NHÂN U MEN XƯƠNG HàM DƯớI TạI BệNH VIệN
RĂNG HàM MặT TRUNG ƯƠNG Hà NộI TRONG NĂM 2011
KHểA LUN TT NGHIP BC S Y KHOA
Khúa 2007 - 2013
H NI 2013
2
Lêi c¶m ¬n
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu Trường Đại
học Y Hà Nội, Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt và các thầy cô giáo đã trang bị
kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập tại
trường và thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Thạc sỹ Nghiêm
Chi Phương, người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi thực hiện khóa luận này.
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy trong Bộ môn
U men xương hàm hay còn gọi là u nguyên bào tạo men là tổn thương
xương hàm lành tính hay gặp, xâm lấn tại chỗ, xuất phát từ cơ quan tạo răng.
U men gặp ở xương hàm dưới cao gấp 4 lần ở hàm trên. Nghiên cứu 1036
trường hợp, Small và Waldron (1995) xác định các vị trí khu trú khác nhau
đối với xương hàm dưới vùng góc hàm khoảng 70%, vùng răng hàm nhỏ
khoảng 10%, vùng cằm 20%. U men xuất hiện ở mọi lứa tuổi, đặc biệt ở
khoảng trên dưới 30 tuổi [24].
Các triệu chứng lâm sàng của u men thường nghèo nàn ở giai đoạn đầu,
bệnh phát triển âm thầm nhưng lại phá hủy xương rộng. Do vậy khi phát hiện
ở giai đoạn sau, qua các dấu hiệu phồng xương, biến dạng mặt, răng lung lay,
hay phát hiện một cách tình cờ thì u đã phá hủy xương hàm khá rộng, vỏ
xương và bờ xương còn rất mỏng có khi xâm lấn ra mô mềm lân cận.
Ngày nay, nhờ vào sự tiến bộ của khoa học có thể phát hiện các dấu
hiệu sớm qua phim Panorama hoặc CT – Scanner đã mang lại lợi ích to lớn
trong ngành răng hàm mặt, cho phép phân biệt các tổ chức có tỷ trọng khác
biệt nhau rất nhỏ.Tuy nhiên, việc chẩn đoán xác định trước mổ qua lâm sàng,
X quang và hình ảnh mô bệnh học đôi khi còn nhầm lẫn với các tổn thương
khác của xương hàm.
Xuất phát từ nhận định trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “ Nhận xét đặc
điểm hình ảnh X quang trên bệnh nhân u men xương hàm dưới tại Bệnh
viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Hà Nội trong năm 2011” nhằm mục tiêu:
Nhận xét một số đặc điểm hình ảnh X quang của bệnh u men xương hàm
dưới.
Chương 1
6
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ U MEN XƯƠNG HÀM QUA Y VĂN
TRONG NƯỚC VÀ THẾ GIỚI
U men xương hàm lần đầu tiên được Broca mô tả và công bố trong y
văn vào năm 1868, mặc dù trước đó Guzack vào năm 1826 có thể là người
bào ở phần giữa nụ biểu bì, chỗ tiếp giáp với trung mô hay gai liên kết của
mầm răng phát triển mạnh thành nhân men. Tế bào gai liên kết cũng phát triển
mạnh. Kết quả là các thành phần của mầm răng dần dần biến hóa khác nhau
và tiến tới giai đoạn hình chuông.
• Giai đoạn hình chuông
- Ở giai đoạn này, nụ biểu bì răng có hình chén và các liên bào trong nụ
biến hóa để biến nụ thành cơ quan tạo men phần trung mô trở thành răng hay
gai liên kết của mầm răng.
- Cơ quan tạo men về mặt cấu trúc gồm có:
+ Liên bào men lớp trong: tác dụng cảm ứng đối với lớp tế bào ngoại
vi của hành răng biệt hóa thành tạo ngà bào. Về sau, lớp này trở thành tạo
men bào (Ameloblast) tham gia trực tiếp vào sự hình thành men răng khi có
sự hình thành của ngà răng và tác động cảm ứng của nó.
+ Liên bào men lớp ngoài: liên quan mật thiết với mạch máu của trung
bì lân cận. Đôi khi cũng có những mạch máu xâm nhập vào lớp này.
Vùng này rất quan trọng, có tác dụng cảm ứng, đồng thời cũng là vùng
xảy ra sự phân chia để hình thành tiền tạo men bào mới. Vùng này sẽ hình
thành bao Hertwig có vai trò cảm ứng hình thành chân răng.
Lớp lưới tế bào hình sao giữ vai trò đệm cơ học và dinh dưỡng đối với
mầm răng.
Lớp lưới tế bào hình sao cách lớp liên bào tạo men lớp trong bởi vài
hàng tế bào dẹt có nguồn gốc từ nhân men, đó là các tế bào trung gian.
Gai liên kết: biệt hóa thành tạo ngà bào và tủy răng.
8
• Giai đoạn hình thành mầm răng hay nang răng
Sau khi cơ quan tạo men và hành răng hình thành thì có sự xuất hiện
những bó sợi dây keo dần dần bao quanh cơ quan tạo men và hành răng, giai
đoạn này mầm răng luôn ngăn cách với xương ổ răng bởi một lớp tổ chức liên
kết sợi, tổ chức này sẽ hình thành một túi răng. Lúc này cơ quan tạo men,
hành răng và túi răng sẽ hình thành nên mầm răng.
mảnh vụn biểu mô trong xương hàm thường được phát hiện ở túi răng, dây
chằng tổ chức quanh răng, khoảng trống tủy của xương hàm. Trong nghiên
cứu thực nghiệm, Herold đã phát hiện ra khối u dị bào của biểu mô tạo răng ở
vị trí tổ chức quanh răng của răng của hàm dưới. Những giả thuyết này thể
hiện những điểm đáng chú ý tương tự quan sát thấy ở u men và nó có thể là
giai đoạn phát triển sớm của loại u này.
10
* Giả thuyết u men xuất phát từ thành phần biểu mô nang quanh răng ở
u men:
Có nhiều trường hợp được mô tả trong y văn về nguồn gốc biểu mô
nang răng của u men. Cash (1933) đã mô tả trường hợp u men phát triển từ
nang răng. Lee (1970) ghi nhận u men có liên quan đến nang máu xương hàm
và nang chấn thương cũng được một số tác giả nghiên cứu.
* Giả thuyết u men xuất phát từ sự thoái hóa của một mầm răng:
Một số tác giả u men có ở bệnh nhân thiếu răng và vì cấu tạo tổ chức
mô học u men giống cấu tạo một nụ răng với đủ thành phần tạo men bào, tế
bào men và biểu mô lát nên cho rằng dưới tác động nào đó, nụ răng đã phát
triển rối loạn hình thành một loạt các nụ phụ và sẽ thoái hóa gây ra u men.
Song, ở nhiều bệnh nhân xuất hiện u men vẫn còn đầy đủ răng cho nên
nhiều tác giả cho rằng u men có thể xuất phát từ cơ quan tạo men sau khi
hoàn thành việc tạo men, liên bào của nó vẫn phát triển và rối loạn mà
hình thành nên.
* Giả thuyết u men xuất phát từ biểu mô niêm mạc miệng:
Nhiều tác giả mô tả trong y văn về sự liên quan giữa biểu mô niêm mạc
miệng với u men. Tuy nhiên, điều này thường không dễ chứng minh và còn
gây ra nhiều tranh cãi.
* Nguyên nhân gây ra sự phát triển rối loạn đó nhiều tác giả còn nói
đến vai trò của viêm nhiễm kéo dài:
Ngoài ra, còn có một số nguyên nhân, yếu tố liên quan đến sự phân bố
u men xương hàm: lứa tuổi, địa lý, các yếu tố về gen và nhiễm sắc thể, các
hợp u men xảy ra vào 30 – 50 tuổi và 80% nhỏ hơn 40 tuổi [20].
Theo nghiên cứu của tác giả Trần Văn Trường thì tuổi trung bình là 30
[21]. Theo tác giả Huỳnh Đại Hải (2000), tuổi nhỏ nhất được ghi nhận là 1
12
tuổi, lớn nhất là 76 tuổi, lứa tuổi trung bình đa số từ 21 – 40 tuổi chiếm 52%
[3]. Tuổi trung bình trong nghiên cứu của Nguyễn Đình Phúc (1997) là 29,4
[7]. Nghiên cứu của Ngô Công Uẩn (2007), tổng hợp trên 35 bệnh nhân cho
thấy lứa tuổi thường gặp là 15 – 30 chiếm 42,86% [12].
1.4.3. Giới
Về phân bố giới tính, tỷ lệ gặp ở nam vượt trội nhẹ. Theo kết quả
nghiên cứu của Sirichitra và Dhiravarangkura (1984), tỷ lệ nam/nữ là 1,1 : 1,
Ajagbe và Daramola (1987) là 4 : 3, Adekeye (1980) là 1,7 : 1 [20].
Ở Việt Nam, theo tác giả Bùi Hữu Lâm (1994) [5], Huỳnh Đại Hải [3],
tỷ lệ nam: nữ là 1 : 1. Trong nghiên cứu của Ngô Công Uẩn, Nguyễn Đình
Phúc [7], có tỷ lệ bệnh xảy ra ở nữ giới cao hơn.
1.4.4. Phân bố vị trí u men xương hàm
Trong y văn, có sự khác biệt rõ rệt tỷ lệ vị trí hay gặp ở u men xương
hàm dưới so với u men xương hàm trên. Khoảng 85% u xuất hiện ở xương
hàm dưới [6], [20]. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thụ [8],
trong 88 trường hợp mắc u men thấy có 8 trường hợp ở xương hàm trên còn
theo tác giả Huỳnh Đại Hải tỷ lệ u men gặp ở xương hàm dưới là 89%[3].
Nguyễn Đình Phúc [7], nghiên cứu trong 30 trường hợp mắc u men
thấy có 26 trường hợp ở xương hàm dưới. Trong đó, vùng góc hàm chiếm
40%, tiếp đến là vùng cành ngang 23,3%, không có trường hợp nào xuất
hiện ở cành cao.
Ở xương hàm dưới cũng có sự phân bố rõ rệt ở một số vị trí đặc thù,
nhất là vùng góc hàm.
Theo Small va Waldron (1955), qua thống kê 1036 trường hợp [24]:
+ Vùng góc hàm – cành cao: 70%
+ Vùng cành ngang: 10%
sai khớp cắn.
14
* Giai đoạn nặng:
Triệu chứng rất rầm rộ: kích thước khối u thường rất lớn, có thể lan trên
một vùng rộng lớn làm mặt bệnh nhân biến dạng nghiêm trọng. Bề mặt u có
thể phân thùy, có thể có dấu hiệu lạo xạo hay giả truyền sóng. Khám trong
miệng có thể phát hiện các tổn thương loét, in dấu răng do sang chấn răng đối
diện, răng liên quan thường lung lay và di lệch nhiều dẫn đến sai khớp cắn,
đôi khi có những đợt bội nhiễm gây đau, dò mủ… Khi vỏ xương bị phá hủy
mỏng, qua niêm mạc miệng có thể nhìn thấy có dịch màu hơi xanh, khi chọc
hút thử có thể cho dịch màu vàng chanh hoặc lẫn máu, có hoặc không có tinh
thề cholesterol. Tùy vị trí và kích thước của u mà có thể gây hạn chế há ngậm
miệng hay không. Trong một số trường hợp u men có kích thước quá lớn gây
xâm lấn ống răng dưới gây hiện tượng di cảm môi dưới cùng bên, thậm chí
còn gây gãy xương bệnh lý.
1.4.6. Cận lâm sàng của u men:
1.4.6.1. X quang
Tiêu chuẩn [14]:
Phim X quang đạt tiêu chuẩn phải có ba yêu cầu cơ bản:
• Tất cả các cấu trúc hiện lên trên phim phải có hình dạng và kích thước gần
giống với cấu trúc giải phẫu. Sự biến dạng và chồng bóng cần hạn chế đến
mức nhỏ nhất.
• Vùng cần thăm khám phải được hiển thị rõ và có các cấu trúc xung quanh để
có thể phân biệt rõ các vùng.
• Bản thân phim phải có chất lượng tốt như tỷ trọng, độ tương phản và độ rõ
nét.
Trên phim panorama, hình ảnh các cấu trúc giải phẫu cần có bao gồm:
Răng, xương hàm dưới, xương hàm trên bao gồm cả trần, đáy và các thành
của xoang, khẩu cái cứng, cung gò má, xương móng, vách ngăn mũi và loa
tai, bờ viền ổ mắt, nền sọ.
đi qua, viền lòng ống là một lớp xương đặc, ống này nhìn thấy rõ ở vùng dưới
chân các răng hàm nhỏ và hàm lớn.
Phân vùng và đánh giá phim toàn cảnh [25]:
Đánh giá các cấu trúc trên phim theo phân vùng để tránh bỏ sót tổn
thương: chia thành các vùng cơ bản sau:
Hình 1.4: Vùng răng và xương ổ răng
[25]
Hình 1.5: Vùng xương hàm trên
[25]
17
Hình 1.6. Vùng xương hàm dưới
[25]
Hình 1.7. Vùng khớp thái dương hàm
[25]
Trên X quang, u men thường được miêu tả như một tổn thương tiêu
xương dạng nang có một hoặc nhiều buồng. Đường viền của tổn thương có
thể trơn nhẵn hoặc có dạng vỏ sò. Tấm vỏ xương có thể trở nên mỏng, bị
nong rộng, đôi khi bị phá thủng trong giai đoạn tiến triển của khối u. Với
trạng thái này, khối u có thể bị nhầm lẫn với u máu, nang xương phình mạch,
u xơ, u nhày xơ, ung thư tổ chức liên kết xơ, nang sừng hóa do răng, u tế bào
khổng lồ. Những u men thể xơ đặc biệt rất dễ nhầm lẫn trên phim X quang
với những tổn thương dạng xơ – xương và globulomaxillary cyst.
* X quang thường quy (phim Panorama, phim hàm chếch):
- Điển hình là hình ảnh vùng mất xương, không đồng nhất.
- Hình ảnh nhiều buồng giống như “bong bóng xà phòng” thường gặp
nhất. Các buồng được ngăn cách bởi các vách mỏng và rõ nét. Hình ảnh này
thường gặp trong các tổn thương có kích thước lớn.
- Hình ảnh xương ổ răng giống như tổ ong tương ứng với các ổ tiêu
xương nhỏ có đường viền tròn trong các tổn thương có kích thước nhỏ.
- Khuyết xương có thể ở dưới dạng nhiều hốc tròn, có viền rõ và độ lớn
+ Trong xương thứ phát
+ Ngoài xương thứ phát
Đại thể
U men có hính dáng rất thay đổi, thường chỉ to bằng quả quýt, quả cam,
đôi khi là một khối gồ ghề như chùm nho. Màu trắng nhạt, có vỏ xơ dày bao
quanh. Tiết diện cắt ngang thấy có những ổ đặc hoặc hang thông với nhau
bằng những lỗ nhỏ hoặc vách xương tổ chức xơ. Trong lòng chứa dịch nhày
màu vàng óng ánh cholesterol hoặc màu vàng nhạt, cũng có thể là mủ do hiện
tượng viêm nhiễm thứ phát.
Vỏ xương dày chắc ở giai đoạn đầu của u. Tuy nhiên, ở giai đoạn muộn
vách xương còn rất mỏng dính sát với màng xương (đặc biệt là bản ngoài).
Trong lòng u đôi khi còn có một răng ngầm hoặc mầm răng.
21
1.5. PHÁT HIỆN SỚM VÀ CHẨN ĐOÁN U MEN
1.5.1. Phát hiện sớm
Đây là một công việc hết sức khó khăn, vì ở giai đoạn đầu biểu hiện
lâm sàng của u men rất nghèo nàn. Chủ yếu phát hiện tình cờ qua chụp X
quang kiểm tra hay bệnh nhân thấy thiếu răng trên cung răng.
1.5.2. Chẩn đoán
- Lâm sàng: gặp nhiều khó khăn do tổn thương ở trung tâm xương hàm
nên ít có dấu chứng đặc hiệu. Đặc biệt khi khối u còn nhỏ, bệnh nhân không
để ý, lúc đầu không có dấu hiệu đặc biệt nào.
- Cận lâm sàng: nhờ vào phim X quang và giải phẫu bệnh học.
1.5.3. Chẩn đoán phân biệt
Khi phát hiện khối u xương hàm, cần quan tâm tới việc chẩn đoán phân
biệt với:
- Các khối u có nguồn gốc biểu mô như carcinoma tuyến, tế bào đáy,
cylyndroma của tuyến nước bọt, có đặc điểm lâm sàng, hình thái giống với u
men. Đôi khi, các tổn thương này có thể xuất hiện trước hoặc đồng thời với
tổn thương u men. Đặc điểm để chẩn đoán phân biệt thường từ vùng, điểm
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ:
• Bệnh nhân u men tái phát sau phẫu thuật.
• Hồ sơ thất lạc phim X quang
2.1.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
• Địa điểm: Khoa Phẫu thuật hàm mặt của viện Răng Hàm Mặt Trung Ương.
• Thời gian: từ 12/2012 đến 05/2013.
• Dự kiến kế hoạch nghiên cứu: 12/2012 đến 1/2013.
• Thời gian thực hiện nghiên cứu: 01/2013 đến 2/2013.
• Thời gian tổng kết số liệu và viết báo cáo: 2/2013 đến 5/2013.
• Thời gian báo cáo: 4/6/2013.
24
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu:
• Phương pháp nghiên cứu hồi cứu.
• Sử dụng phương pháp phân tích phim panorama.
2.2.2. Mẫu nghiên cứu: chọn mẫu toàn bộ
2.2.3. Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Nhóm biến số Tên biến số Chỉ số/ Định nghĩa/ Phân loại
Đặc điểm đối tượng
nghiên cứu
Tuổi Tuổi tính theo năm
Giới Phân thành 2 nhóm nam/ nữ
Đặc điểm tổn thương
trên X quang
Phân loại Tính tỷ lệ %
Vị trí Tính tỷ lệ %
Số lượng Tính tỷ lệ %
Hình ảnh tổn thương Tính tỷ lệ %
Ranh giới tổn thương Tính tỷ lệ %
Bờ viền tổn thương Tính tỷ lệ %