Nhận xét đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng trước và sau phẫu thuật nội soi qua lỗ liên hợp tại bệnh viện việt đức - Pdf 19


1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng là một bệnh thuộc nhóm bệnh lý
CSTL nói chung và thường gặp ở Việt Nam cũng như trên thế giới, chiếm tỷ lệ
khoảng 66% [35] tổng số đau cột sống thắt lưng. Bệnh chủ yếu xảy ra ở lứa tuổi
từ 20-50, nam mắc nhiều hơn nữ[17].
Cột sống được chia làm ba đoạn : đoạn cổ, đoạn lưng và đoạn thắt lưng
– cùng. Do đặc điểm giải phẫu, chức năng sinh lý của từng đoạn là khác nhau
nên biểu hiện lâm sàng của tổn thương cột sống ở mỗi đoạn đều có những đặc
điểm riêng biệt. Ở đoạn thắt lưng, với vai trò là trụ duy nhất chịu sức nặng
của toàn cơ thể và là đoạn có tầm vận động lớn nhất nên bệnh lý liên quan tới
chấn thương và thoỏi hoỏ ở đoạn này cũng thường gặp nhất. Phần lớn thoát vị
đĩa đệm CSTL không gây nguy hiểm trực tiếp tới tính mạng người bệnh,
nhưng nếu xử trí chậm có thể gây tàn phế cũng như nhiều biến chứng khác.
Như vậy, tiên lượng của bệnh lý này không những phụ thuộc vào căn nguyên
gây bệnh mà còn phụ thuộc cả vào việc chẩn đoán và điều trị sớm hay muộn.
Phần lớn bệnh lý này cần được giải quyết bằng phẫu thuật khi điều trị nội
khoa sau hai tuần không có kết quả.
Tại Việt Nam trước đây việc chẩn đoán căn nguyên và mức độ tổn thương
do thoát vị đĩa đệm còn rất khó khăn và hạn chế do chỉ dựa vào thăm khám
lâm sàng, chụp X quang thường quy và chụp bao rễ thần kinh với thuốc cản
quang, chụp CLVT,…. Từ khi cú mỏy chụp cộng hưởng từ , việc xác định các
tổn thương trở nên dễ dàng, an toàn và chính xác hơn; nhờ đó có thể phát hiện
các bệnh lý và giải quyết sớm tránh những tổn thương không hồi phục gây tàn
phế cho người bệnh. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay máy chụp cộng hưởng
từ chỉ có ở các thành phố lớn nên việc phát hiện sớm các tổn thương đốt sống
và đĩa đệm gây hậu quả chèn ép tuỷ vựng chúp cựng hay chùm đuôi ngựa tại
các tuyến địa phương cũng không phải dễ dàng. Do đó cần có những nghiên
cứu toàn diện hơn không những về lâm sàng, X quang thường quy mà còn

sống có hình dạng tương tự nhau, mỗi đốt sống gồm hai phần chớnh: Thõn
đốt sống và cung đốt sống. Đường cong ở thắt lưng là đường cong lồi ra trước
vì xuất hiện sau khi sinh nên còn gọi là đường cong thứ cấp.
1.1.1. Đặc điểm giải phẫu các đốt sống thắt lưng
Hai phần chính của đốt sống : khối xương ở phía trước gọi là thân đốt
sống và vành xương ở phía sau gọi là cung đốt sống.
Thân đốt sống là một khối xương hình trụ dẹt, có hai mặt trên và dưới,
gọi là mặt gian đốt sống. Mặt gian đốt sống hơi lõm hình lòng chảo, được
viền bởi một gờ xương đặc hình nhẫn, gọi là mỏm nhẫn. Các mặt gian đốt
sống tiếp khớp với các đốt sống kề liền trên và dưới qua đĩa gian đốt sống hay
đĩa đệm. Mặt trước thân đốt sống lồt ra trước, có một vài lỗ nhỏ để các tiểu tĩnh
mạch đi qua. Mặt sau thân đốt sống hơi lõm, tạo nên thành trước của ống sống;
Ở mặt này cú cỏc lỗ để các tĩnh mạch và động mạch nuôi xương đi qua. Thân
đốt sống có chiều ngang lớn hơn chiều trước sau. Thân đốt sống thắt lưng L5
to nhất, phía trước dày hơn phía sau.
Cung đốt sống ở phía sau thân đốt, gồm một đôi cuống, hai mảnh và
bảy mỏm.
- Cuống đốt sống là hai mỏm xương dày từ hai rìa bên trên mặt sau
thân chạy ra sau, giới hạn nên thành bên ống sống. Bờ trên cuống cung đốt
sống có một khuyết lõm hướng lên trên gọi là khuyết sống trờn, cũn bờ dưới
có một khuyết lõm xuống dưới. Khi hai đốt sống khớp với nhau, khuyết sống

4
dưới của đốt sống trên hợp với khuyết sống trên của đốt sống dưới tạo nên lỗ
ghép để các thần kinh sống và mạch máu đi qua
- Mảnh đốt sống: Có hai mảnh đi từ đầu cuối của hai cuống hướng ra
sau, vào trong, hợp với nhau trên đường giữa nơi bắt đầu của mỏm gai sau.
Mảnh đốt sống là một tấm xương dẹt, là giới hạn sau của ống sống
Các mỏm: Bao gồm 7 mỏm; hai mỏm ngang đi sang hai bên từ chỗ tiếp
nối giữa cuống và mảnh đốt sống, là nơi bám của các cơ và dây chằng giúp

lưới của mạng lưới trong nhân nhày chứa chất lỏng [82],[89]. Thành phần
chủ yếu của nhân nhầy là gelatin chứa nhiều phân tử nước nằm ở trung tâm và
có tính đàn hồi cao. Vị trí nhân nhày không nằm ở chính giữa đĩa đệm, ở đoạn
thắt lưng, nhân nhày nằm ở khoảng nối giữa 1/3 giữa và 1/3 sau của đĩa
đệm. Bình thường nhân nhày nằm cỏch mộp ngoài của vòng xơ khoảng 3
đến 4 mm, cách hai mặt trên và dưới hai thân đốt sống liền kề khoảng 1,5
đến 2 mm. Khi cột sống vận động thỡ nhõn nhày đĩa đệm sẽ di chuyển về
phía đối diện.
Bao quanh phía ngoài nhân nhày là vòng sợi có xu hướng lồi ra phía
trước hơn là phía sau. Vòng sợi gồm những sợi sụn rất chắc và đàn hồi, đan
lấy nhau kiểu xoắn ốc tạo thành hàng loạt vòng sợi chạy từ thân đốt sống này
tới thân đốt sống khác. Phần lớn cỏc vũng sợi chạy chếch theo chiều từ trái
qua phải và từ phải qua trái, độ chếch cỏc vũng sợi giảm dần từ ngoài vào
trung tâm, đến sát trung tâm thì hướng chạy gần như nằm ngang. Vòng sợi có
cấu trúc gồm hai lớp, lớp ngoài được cấu tạo bằng các thành phần collagen
typ 1, dính chắc vào phần gồ ghề của bề mặt trên và dưới của đốt sống liền
kề, có giới hạn rõ, dai và chịu sức kéo tốt giống như gân. Số lượng cỏc vũng
sợi ở lớp ngoài tập trung nhiều ở phía trước và hai bên, ở phía sau cỏc vũng
sợi mảnh và thưa hơn. Lớp trong vòng sợi có thành phần là collagen typ 2

6
giống như sụn trong các khớp, có khả năng chống lại các lực nén [2]. Ranh
giới trong cùng giữa vòng sợi và nhân nhày thường không rõ nét. [Hình 1.1] Hình 1.1. Cấu trúc của đĩa đệm [54]

Khe đĩa đệm giữa cỏc thõn đốt sống thắt lưng gồm mặt trên và mặt
dưới của hai đốt sống liền kề, các mặt này đều lõm và được phủ bởi một lớp
sụn kính mỏng( mõm sụn). Lớp sụn này có liên quan chức năng trực tiếp với
Hình 1.2. Hình ảnh gỉai phẫu của lỗ ghép và hẹp lỗ ghép do TVĐĐ [76]

Đĩa đệm bình thường
Thoát vị đĩa đệm
Ông sống
Chèn ép rễ
Mặt trên đốt sống

8
1.1.4. Các dây chằng cột sống thắt lưng:
Dây chằng dọc trước là một dải sợi dày ở trên bám vào nền xương
chẩm- củ trước đốt đội, chạy xuống dưới, bám vào mặt trước cỏc thõn đốt
sống cùng. Ở phía trước cỏc thõn đốt sống, dây chằng này hẹp và dày hơn khi
ở phía trước các đĩa gian đốt sống.
Dây chằng dọc sau là một dải sợi nhẵn, mềm, nằm trong ống sống, trên
mặt sau cỏc thõn đốt sống. Dây chằng này bám vào đĩa gian đốt sống và các
bờ của thân đốt sống, đi từ đốt C2 tới xương cùng. Dây chằng dọc sau phủ
phần thân sau của vòng sợi đĩa đệm nhưng không che phủ kín mà để hở phần
sau bên của vòng sợi đĩa đệm nên thoát vị đĩa đệm thường xảy ra ở vị trí này.
Dây chằng vàng được tạo nên bởi các sợi thuộc mô đàn hồi có màu
vàng. Các sợi này đi từ bao khớp và mảnh của đốt sống trên để tận hết ở bờ
trên mảnh đốt sống dưới. Dây chằng vàng dày nhất ở đoạn cột sống thắt lưng.
Dây chằng vàng phủ phần sau ống sống, góp phần che chở cho ống sống và
các rễ thần kinh nhưng khi dây chằng vàng bị vụi hoỏ hay phì đại cũng gây
đau rễ thần kinh thắt lưng, có thể nhầm với thoát vị đĩa đệm.
Ngoài các dây chằng trên, cột sống thắt lưng còn được tăng cường bởi
dây chằng chậu - thắt lưng, gồm cỏc bú sợi đi từ đỉnh mỏm ngang đốt sống
L5, chạy sang bên toả ra tận hết ở mào chậu và phần bên mặt trên xương

liên gai
Dây chằng trên
gai

10
Đường kính ngang tăng dần từ trên xuống dưới:
-L1: 17-19mm -L2:18-20mm -L3:18-20mm
-L4:18-20mm. -L5: 20-23mm.
1.1.6. Các khối cơ cột sống thắt lưng:
Các khối cơ sát cột sống được gọi là cơ cạnh sống. Cùng với các khối
cơ bụng, chúng hỗ trợ cột sống và là động lực giúp cho cột sống có thể
chuyển động. Trong các khối cơ cơ lưng nhất là cỏc nhúm cơ gai do cỏc
nhỏnh sau của dây thần kinh sống chi phối. Dây thần kinh bị chèn ép do thoát
vị đĩa đệm sẽ tác động trực tiếp các cơ gai như cơ liên gai, cơ dài gây nên đau,
co cứng cơ và hạn chế vận động. [Hình 1.3] Có rất nhiều các khối cơ nhỏ ở
vùng thắt lưng, mỗi nhóm cơ điều khiển một phần trong toàn bộ chuyển động
giữa các đốt sống và các phần của bộ xương. Khi một phần của cột sống như
đĩa đệm, dây chằng, cơ bị tổn thương thì tự động các khối cơ sẽ bị co thắt để
hạn chế tối đa các chuyển động xung quanh vựng đú và bóp nghẹt các
mạch máu nhỏ đi qua các khối cơ, hậu quả gây nên tình trạng tăng axớt
lactic trong tế bào cơ, gây ra cảm giác đau tại chỗ. Khi các khối cơ được
thư duỗi về trạng thái bình thường, các mạch máu sẽ được giải thoát và
lượng axit lactic sẽ giảm xuống [61],[75],[86].
1.1.7. Đặc điểm giải phẫu chức năng cột sống thắt lưng.
Cột sống ngoài chức năng nâng đỡ cơ thể, còn bảo vệ và chứa đựng tuỷ
sống – thành phần nối liền giữa não bộ và các cơ quan trong toàn bộ cơ thể.
Cột sống linh hoạt có thể cử động cúi, ngửa, nghiêng và xoay quanh trục.
Ngoài nhiệm vụ tạo nên bộ khung của cơ thể, cột sống còn bao bọc và che
chở cho tuỷ sống và chùm rễ thần kinh đuôi ngựa. Giữa hai đốt sống liên tiếp
có lỗ gian đốt sống để dây thần kinh sống thoát ra ngoài. Người trưởng thành


12
đó loạn dưỡng và thoỏi hoỏ sớm xuất hiện. Ở tuổi 30 đã xuất hiện thoỏi hoỏ
về cấu trúc và hình thái của đĩa đệm. Qỳa trỡnh thoỏi hoỏ đĩa đệm tăng dần
theo tuổi, diễn ra liên tục trong suốt đời người.
Đối với thoỏi hoỏ bệnh lý thì chịu nhiều tác động của các yếu tố quan
trọng thúc đẩy quá trình thoỏi hoỏ đĩa đệm tăng nhanh ở bên trong và ngoài
đĩa đệm.
-Yếu tố cơ học được biểu hiện bởi sự tăng bất thường lực nộn trờn một
đơn vị diện tích của đĩa đệm hay còn gọi là hiện tượng quá tải. Các yếu tố cơ
học có thể là:
+ Các biến dạng thứ phát của cột sống sau chấn thương, vi chấn
thương, viêm hoặc u đĩa đệm.
+ Các dị dạng bẩm sinh làm thay đổi điểm tỳ nén bình thường của cột sống
+ Tăng trọng tải: tăng quá mức do kéo, do bệnh nghề nghiệp .
-Yếu tố di truyền theo Wilson(1988), sự sắp xếp và chất lượng của
Collagen trong vòng sợi đĩa đệm là do yếu tố di truyền, hư đĩa đệm mang tính
chất gia đình.
-Yếu tố miễn dịch:
+Tăng miễn dịch dịch thể tạo nên kháng thể tổ chức đĩa đệm . Antonov
và Latysheva(1982) đã thấy 76,8% bệnh nhân có tăng kháng thể đối với
kháng nguyên là tổ chức nhân nhày và 77% có tăng khang thể là tổ chức của
vòng sợi đĩa đệm trong giai đoạn cấp của bệnh. Khi trong máu xuất hiện
kháng nguyên từ đĩa đệm bị thương tổn đã tạo nên phức hợp kháng nguyên-
kháng thể miễn dịch thể dịch.
+ Tăng đáp ứng miễn dịch tế bào: do các tác nhân bệnh lý hay do rối
loạn chuyển hoá di truyền trong các tế bào, vai trò của Lympho T kìm hãm bị
giảm sút và mất khả năng điều hoà sự tạo kháng thể của cơ quan chuyên biệt.
Vì vậy số lượng kháng thể có thể tăng cao và xuất hiện quá trình tự miễn dịch.


của cột sống, thường xuyên phải chịu trọng tải cao nhất. Khi đĩa đệm đó thoỏi
hoỏ thỡ việc hình thành ổ thoát vị sẽ xảy ra sau một chấn thương, một động
tác sai tư thế đột ngột gây đứt rỏch vũng sợi, chuyển dịch nhân nhầy ra khỏi
ranh giới giải phẫu. Những điều kiện làm chuyển dịch tổ chức đĩa đệm gây
nên lồi hoặc TVĐĐ là:
- Ap lực trọng tải cao.
- Ap lực căng phồng của tổ chức đĩa đệm cao.
- Sự lỏng lẻo từng phần và sự tan rã của tổ chức đĩa đệm.
- Lực đẩy và lực cắt xén do các vận dộng cột sống, đĩa đệm quá mức(
xoắn vặn, dồn dập, nộn ộp).
Qỳa trỡnh thúat vị hoàn toàn nằm trong quá trình thúai húa chung của
cột sống. Thoỏi hoỏ cột sống trong đú cú thoỏi hoỏ đĩa đệm và thoỏi hoỏ dây
chằng . Theo Naylor, ở các mẫu đĩa đệm thoát vị có sự giảm đáng kể collagel
của vòng sợi và tăng các protein không tạo keo, trong khi đú có sự tăng
collagen ở nhõn, cỏc collagen này có thể chưa trưởng thành hoặc đó thoỏi hoỏ
làm mỏt tớnh mềm dẻo của nhân nhày. Khi mất đi thành phần
mucopolysaccharide của nhân dẫn tới tăng các phân tử nhỏ tác động tới tính
thảm thấu của đĩa gây tăng áp lực đĩa và làm vỡ vòng sợi, hình thành ổ thoát
vị. Qỳa trỡnh thoỏi hoỏ kèm theo hiện tượng mất nước ở đĩa đệm và giảm áp
lực thẩm thấu dẫn tới ba hiện tượng:
-Sự co kéo của nhân và vòng sợi sẽ dần dần chuyển lờn vũng sợi
-Bản chất của co kéo này thay đổi theo các áp lực tác động lên đĩa đệm
- Đĩa có thể hấp thụ dịch nhưng không chứa được dịch dẫn tới sự thay
đổi phân bố áp lực trên bề mặt đĩa.
Trong một số tư thế vận động không đối xứng như xách vật nặng, áp
lực ở các đĩa đệm này có thể đạt tới những con số 1000 Newton. Do đó,
chúng đẩy nhanh quá trình thoỏi hoỏ đĩa đệm là cơ sở cho sự phát sinh thoát

15
vị đĩa đệm. Nhiều tác giả cho rằng thoát vị đĩa đệm là một đột biến, một giai

thương hoặc vận động sai lệch của cột sống thắt lưng.
+ Đau vùng thắt lưng hông có tính chất cơ học: tăng lên khi ho, hắt hơi, rặn,
vận động. Đỡ đau khi nằm nghỉ.
+ Biến dạng cột sống thắt lưng:
* Mất ưỡn thắt lưng thường kèm theo co cứng phản xạ các cơ cạnh
sóng thắt lưng.
* Vẹo cột sống thắt lưng và tư thế chống đau, bệnh nhân đi nghiêng
người về một bên.
* Dấu hiệu "gập góc": phản ảnh cơ chế chống đau phản xạ của CSTL
khi có đoạn vận động bị thương tổn.
* Gù có thể gặp gù nhọn hoặc gự trũn, gự nhọn do tổn thương nhiều
đoạn vận động.
+ Có điểm đau cột sống và cạnh sống
+ Hạn chế tầm hoạt động của cột sống thắt lưng: hạn chế động tac gấp duỗi,
nghiêng, xoay CSTL. Bình thường tầm hoạt động CSTL là: gập 110 độ, duỗi
31 độ, nghiêng 20 độ, xoay 24 độ [21]
1.3.2. Hội chứng rễ thần kinh:
+ Đau lan dọc theo các dải cảm giác da
+ Rối loạn cảm giác lan theo dọc các dải cảm giác da.
+ Teo cơ do rẽ thần kinh chi phối bị tổn thương.
+ Gỉam hoặc mất phản xạ gân xương.
+ Không rối loạn thần kinh thực vật[21]
Đặc điểm của đau rễ thần kinh là đau theo dải, đau từ thắt lưng xuống chân
tương ứng vứi vùng phân bố của rễ thần kinh bị tổn thương. Đau có tính chất
cơ học. Cường độ đau ở thắt lưng và ở chân thường không bằng nhau, hầu hết

17
các trường hợp đau ở nơi này che lấp nơi kia. Độ dài của dải đau tỷ lệ thuận
với lực ép vào rễ thần kinh.
Các dấu hiệu kích thích rễ có giá trị cao trong chẩn đoán TVĐĐ: Dấu hiệu

- Giai đoạn I: Lồi đĩa đệm (Protrustion): Nhân nhày phá vỡ vòng xơ
trong, dịch chuyển khỏi vị trí trung tâm nhưng vòng xơ ngoài vẫn được
tôn trọng.
- Giai đoạn II: Bong đĩa đệm (extrusion): là ổ lồi đĩa đệm lớn chui qua
và phá vỡ vòng xơ ngoài cùng nhưng cũn dớnh với tổ chức đĩa đệm gốc ở một
điểm. Ổ thoát vị tiếp xúc với dây chằng dọc và có thể làm đứt dây chằng.

19
- Giai đoạn III: Mảnh thoát vị tự do (free- fragment): là ổ thoát vị hoàn
toàn tách rời, độc lập với tổ chức đĩa đệm gốc. Ổ thoát vị có thể tiếp xúc với
dây chằng dọc hoặc xuyên qua dây chằng.
- Giai đoạn IV: Mảnh thoát vị di trú (immigration fragment): Ổ thoát vị
tự do có thể di chuyển lên trên, xuống dưới và thường sang bờn. Đõy chớnh là
một trong các nguyên nhân khiến các nhà phẫu thuật dễ mổ sai vị trí thoát vị.
Phân loại này có ưu điểm là mô tả được bản chất của thoát vị đĩa đệm ở cả hai
thành phần nhân nhày và vòng xơ [54], [55]. Cách phân loại này đơn giản, dễ
hiểu và đặc biệt có thể đánh giá được trên cộng hưởng từ.
1.4.2. Phân loại theo vị trí nhân nhày bị thoát vị.
- TVĐĐ ra sau: thường khởi phát đột ngột sau chấn thương hoặc gắng
sức. Có hội chứng cột sống, hội chứng rễ. [Hình 1.5] Hình 1.5. Thoát vị ra sau trên ảnh Sagital- T2W.
[Mã hồ sơ 9806/ M53]
- TVĐĐ ra trước: khởi phát đột ngột sau chấn thương cột sống hoặc vận
động mạnh đột ngột trong lúc CSTL đang ở tư thế ưỡn quá mức, không có hội
chứng rễ
- TVĐĐ nội sống: là biểu hiện điển hình của thoái hóa đĩa đệm ở người
cao tuổi, tạo nên sự thay đổi đường cong sinh lý của cột sống. Ở tuổi trẻ,
TVĐĐ thể này chỉ xảy ra trên cơ sở chấn thương hoặc trọng tải quỏ mức.Cú

nguyên vẹn chưa bị rách.
1.4.3.Phân loại thoát vị ra sau liên quan tới rễ thần kinh và tủy sống.
- TVĐĐ giữa (thoát vị thể ra sau trung tâm): Chủ yếu chèn ép tủy sống
ngang mức L1-L2, gây bệnh cảnh lâm sàng với hội chứng cột sống . Hình 1.8. Thoát vị thể ra sau trung tâm trên ảnh Axial- T2W
[Mã hồ sơ 6593/ M53]

-TVĐĐ thể ra sau trung tâm cạnh bên phải và trái (thoát vị cạnh trung
tâm): Chèn ép rễ thần kinh, gây bệnh cảnh lâm sàng chèn ép rễ biểu hiện rối
loạn vận động hay cảm giác. [Hình 1.9]
- TVĐĐ thể ra sau trung tâm cạnh hai bên : thoát vị xảy ra ở cạnh bên
phải và cạnh bên trỏi cựng mức gây chèn ép rễ hai bên.
- Thoát vị lỗ ghép (thoát vị bên): Chủ yếu chèn ép rễ thần kinh, gây bệnh
cảnh chèn ép rễ. [ Hình 1.7] [ Hình 1.23]

THOÁT VỊ
TRUNG TÂM

22 Hình 1.9. Thoát vị ra sau trung tâm cạnh trái.
[Mã hồ sơ 9806/ M53]
Một ổ thoát vị ra sau có thể lồi vào trong ống sống làm hẹp ống sống ở
nhiều mức độ khác nhau, từ mức chỉ hẹp khoang dich não tuỷ trước ống sống
đến bóp nghẹt toàn bộ các rễ thần kinh cùng [53], [87]. Do có dây chằng dọc
sau ở vị trí trung tâm nên phần lớn các thoát vị đĩa đệm là thoát vị trung tâm
cạnh bên phải hoặc trỏi. Cỏch phân loại này có ý nghĩa lớn trong chẩn đoán

cản quang cần thận trọng và tính đến các tai biến và độc tính của chất cản
quang [4],[10].
Phương pháp này có khả năng đánh giá được hình ảnh gián tiếp của
thoát vị đĩa đệm bằng hình ảnh chèn ép ống sống tới 94,3% [4],[5]. Trên phim
nghiêng, thấy ranh giới cột cản quang với bờ trước và bờ sau rõ, tận cùng của
màng cứng ở mức S2 có hình chóp hoặc bầu dục. Bờ trước bao rễ đi sát ngay
cỏc thõn đốt sống và các đĩa đệm. Khoang ngoài màng cứng ở phía sau đĩa
đệm L5-S1 rộng hơn các mức khác tới 2-3mm . Trên phim chụp tư thế thẳng
có thể thấy rõ các rễ đuôi ngựa chạy trong khoang dưới nhện, thấy nơi đi ra
khỏi bao rễ. Hướng đi, hình thể và kích thước các rễ thần kinh hai bên đối
xứng nhau. Thoát vị đĩa đệm có thể cắt cụt một rễ thần kinh làm gián đoạn 1
tới 2 rễ cựng bờn, ấn lõm cột cản quang từ một phía hoặc có khi cả hai bên.

24
Nặng hơn cả là hình ảnh cắt cụt toàn bộ bao rễ. Tuy nhiên phương pháp này
không cho phép quan sát hình ảnh trực tiếp của đĩa đệm, vì vậy không phân
biệt được hình ảnh chèn ép do thành phần khác như tổ chức xơ sẹo hay u ống
sống [32].
1.5.3. Chụp khoang ngoài màng cứng trước ống sống ( Anterio-
Peridurro- Graphy ).
Tiêm thuốc vào khoang ngoài màng cứng trước ống sống được K.D
Gaziev áp dụng từ năm 1956 [2]. Hiện nay, phương pháp này ít được áp dụng
vì ít có giá trị chẩn đoán định khu, chẩn đoán mức độ tổn thương cũng như
chản đoán phân biệt tổn thương, không chính xác bằng phương pháp chụp
bao rễ cản quang,
1.5.4. Phương pháp chụp đĩa đệm (Discography ):
Theo kỹ thuật của Lindblom(1948) là phương pháp bơm thuốc cản
quang vào nhân keo đĩa đệm. Đây là phương pháp chẩn đoán trực tiếp những
thay đổi hình thái và cấu tạo bên trong của đĩa đệm. Người ta tiêm 1ml thuốc
Omnipaque đậm độ 240 hay 180 vào nhân keo của đĩa đệm sau đó tiến hành

còn có khả năng quan sát ống sống hơn hẳn phương pháp chụp tuỷ sống
thường qui ở chất lượng ảnh ống tuỷ với độ phân giải cao, không gian ba
chiều, cho phép người thày thuốc xem ống sống theo nhiều hướng khác nhau
nhờ sử dụng chương trình hình chiếu cường độ tối đa (MIP). Chụp CHT là
phương pháp chụp an toàn vì không có thủ thuật can thiệp, không gõy nhiễm xạ
cho thầy thuốc và bệnh nhõn. Phương pháp chụp CHT mạch mỏu thay thế các
phương pháp chụp mạch máu cột sống thông thường cũng được ứng dụng rất có
hiệu quả.

Trích đoạn LỊCH SỬ NGHIấN CỨU THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ THAY ĐỔI HèNH ẢNH CỘNG HƯỞNG TỪ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status