BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ QUỐC PHÒNG
VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM
LÊ ĐÌNH TÂN
THƯƠNG NGHIỆP MIỀN BẮC VIỆT NAM
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
GIAI ĐOẠN 1965 1975
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số
: 62 22 03 13
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI 2014
2
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH
TẠI VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS, TS Phạm Xanh
2. PGS, TS Vũ Đức Minh
một thực tiễn vô cùng phong phú, cần đượ c đầu tư nghiên cứu đúng mức để có đượ c
sự đánh giá toàn diện, khách quan về thương nghiệp mi ền Bắc trong giai đoạn này.
Những thành tựu, hạn chế, thậm chí là thiếu sót, sai lầm của quá trình hoạch định
đường lối, chính sách, tổ chức thực hiện và hoạt động tác nghiệp thương nghiệp của
thương nghiệp miền Bắc trong thời gian này cũng sẽ là bài học kinh nghiệm quý báu cho
công cuộc xây dựng thương nghiệp về sau.
Qua nghiên cứu, Luận án cũng sẽ khái quát được quan điểm và mô hình thương
nghiệp Xã hội Chủ nghĩa của các nhà lý luận Mác xít; các quan điểm của Đảng và các
nhà lãnh đạo tiêu biểu của Đảng Lao động Việt Nam trong chủ trương, chính sách, chỉ
đạo tổ chức và xây dựng thương nghiệp.
Quá trình xây dựng nền thương mại hiện nay diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa,
quốc tế hóa đặt ra nhiều vấn đề mới cho ngành thương mại. Thế giới cơ bản đã chuyển
từ đối đầu sang đối thoại, toàn cầu hóa kinh tế, hợp tác liên quốc gia đã trở thành xu
hướng chủ đạo. Chính vì thế, quan điểm về xây dựng nền thương mại trong bối cảnh cũ
đã tỏ ra không còn phù hợp với yêu cầu của tình hình mới. Tuy nhiên, giá trị thực tiễn
của quá trình xây dựng và phát triển thương nghiệp miền Bắc trong 10 năm vừa xây
dựng và chiến đấu đã để lại nhiều kinh nghiệm qu ý báu cho công cuộc xây dựng nền
thương mại hiện nay, xét trên cả tư duy kinh tế, mô hình tổ chức, hoạt động thương
nghiệp và kinh tế đối ngoại. Kinh nghiệm rút ra không chỉ từ thành công mà cả hạn chế,
thiếu sót của công cuộc xây dựng, phát triển thương nghiệp trong giai đoạn đó cũng là
bài học mà ngày nay chúng ta cần nghiên cứu để tìm ra hướng đi hiệu quả hơn cho nền
thương mại Việt Nam.
Vì lí do đó nên tôi đã chọn đề tài Thương nghiệp miền Bắc Việt Nam trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giai đoạn 1965 1975 làm luận án Tiến sỹ lịch sử.
2.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1.Mục đích
5
và Ngoại thươ ng. Trong đó làm rõ các thành phần kinh t ế thươ ng nghi ệp nh ư
thươ ng nghiệp qu ốc doanh, h ợp tác xã mua bán, thươ ng nghiệp tư b ản t ư nhân
nhưng chủ yếu t ập trung nghiên cứu về thươ ng nghiệp nhà nướ c; thành tựu và hạn
chế của quá trình xây dựng, phát triển thương nghiệp miền Bắc.
3.2. Phạm vi
Về nội dung: Các điều kiện tác động đến việc hoạch định đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với thương nghiệp; quá trình xây dựng và
phát triển thương nghiệp miền Bắc; các thành tựu, hạn chế của quá trình đó. Trong đó,
nội dung trọng tâm vẫn là hoạt động thương nghiệp bao gồm cả nội thương và ngoại
6
thương.
Về thời gian: Từ năm 1965 1975, khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá
hoại ra miền Bắc, thương nghiệp xây dựng và phát triển trong điều kiện cả nước có
chiến tranh.
Về không gian: Không gian hoạt động là miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên,
ngoài hoạt động nội thương diễn ra tại mi ền B ắc thì hoạt động ngoại thương diễn ra
ở các nước đối tác trên ba khu vực là các nước Xã hội Chủ nghĩa, các nước Tư bản
Chủ nghĩa và Dân tộc Chủ nghĩa.
4. Cơ sở phương pháp luận; Phương pháp nghiên cứu; Nguồn tư liệu
4.1. Cơ sở phương pháp luận
Luận án được xây dựng và đánh giá dựa trên cơ sở lý luận Mác xít về kinh tế nói
chung và kinh tế thương nghiệp nói riêng.
Quan điểm duy vật lịch sử là cơ sở phương pháp luận của tác giả; chủ trương,
đường lối của Đảng về cách mạng Việt Nam nói chung và thương nghiệp nói riêng đóng
vai trò nền tảng cho tác giả trong việc phân tích và đánh giá vấn đề.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
chương:Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu; Chương 2: Thương nghiệp miền Bắc
trong những năm 1965 1968; Chương 3: Thương nghiệp miền Bắc trong những năm
1969 1975; Chương 4: Đặc điểm, ý nghĩa, kinh nghiệm
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Một số vấn đề về thương nghiệp
Lý luận về Thương nghiệp
Khái niệm về Thương nghiệp
Theo Từ điển tiếng Việt, “thương nghiệp” hay“thương mại” đều có nghĩa là hoạt
động mua bán, trao đổi hàng hóa.
Luật Thương mại năm 2005 đã định nghĩa về thương mại như sau: Hoạt động thương
mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu
tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
Luận án này sẽ tập trung nghiên cứu về thương nghiệp trong một giai đoạn đặc
biệt của miền Bắc Việt Nam, giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước diễn ra
trên phạm vi cả nước (1965 1975). Trong giai đoạn đó, lý luận về thương nghiệp và các
vấn đề liên quan đến thương nghiệp đều chịu sự ảnh hưởng bởi quan điểm của các nhà
lý luận Mác xít, cơ bản, có 3 luận điểm cơ bản như sau: Một là, thương nghiệp là hoạt
động mua bán, thực hiện quá trình lưu thông do sức sản xuất phát triển và do nhu cầu của
xã hội. Hai là, thương nghiệp Xã hội Chủ nghĩa là một loại thương nghiệp đặc biệt,
khác nhiều so với tính chất hàng hóa tiền tệ của các nước Tư bản Chủ nghĩa; chỉ
trong hoạt động ngoại thương, thương nghiệp mới mang yếu t ố hàng hóa. Ba là, việc
mở rộng phạm vi của hoạt động thương nghiệp sẽ kìm hãm sự phát triển của C hủ
nghĩa Xã hội. Những quan điểm này, xuyên suốt trong tư tưởng các nhà lý luận của chủ
nghĩa Mác Lênin. Từ đó, việc hoạch định đường lối cho phát triển thương nghiệp ở
các nước Xã hội Chủ nghĩa về sau đều bị chi phối bởi tư tưởng này.
1.1.1.
1.2.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về thương nghiệp ở trong nước
Công trình liên quan trực tiếp
Qua nghiên cứu thấy rằng, đến nay, đã có các công trình chính như sau: Kinh tế
thương nghiệp Việt Nam của tác giả Nguyễn Viết Châu, được Nhà Xuất bản Bộ Nội
thương ấn hành năm 1963; Kinh tế thương nghiệp Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; Nhà
Xuất bản Giáo dục. H. 1963 của Lê Hữu Chỉnh; Kinh tế thương nghiệp Xã hội Chủ
nghĩa. H. 1969 của Trường Đại học Kinh tế kế hoạch (tức trường Đại học Kinh tế Quốc
dân ngày nay); 30 năm xây dựng và phát triển thương nghiệp X ã hội Chủ nghĩa Việt Nam
1951 1981. H. 1981 của Bộ Nội thương; 35 năm kinh tế Việt Nam (1945 1980). H. 1980
của Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam, do GS. Đào Văn Tập chủ biên; 45 năm kinh tế
Việt Nam của Viện Kinh tế, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992; Kinh tế
9
thương nghiệp Việt Nam của GS. Nguyễn Mại. Nhà Xuất bản Đại học và Trung học
chuyên nghiệp, 1985; Lưu Văn Đạt: Ngoại thương Việt Nam từ năm 1955 1975, tạp chí
Thương mại đăng trong số 9 (2 kỳ) năm 1995…
Đối với công trình của Nguyễn Viết Châu và Lê Hữu Chỉnh, được xem như những
công trình đầu tiên nghiên cứu về kinh tế thương nghiệp miền Bắc. Các công trình này,
được viết ra bởi các nhà hoạch định chính sách và quản lý (bản thân hai tác giả là lãnh
đạo cao cấp, trực tiếp quản lý lĩnh vực ngoại thương và nội thương lúc bấy giờ). Ưu
điểm là có hệ thống số liệu phong phú và có sức thuyết phục bởi sự gắn bó trực tiếp của
tác giả với các vấn đề về lịch sử thương nghi ệp giai đoạn này. Tác giả công trình cũng
đã làm rõ các vấn đề lý luận, tổ chức bộ máy và kỹ thuật hoạt động tác nghiệp. Đồng
thời, đã trình bày được các hoạt động cơ bản của thương nghiệp trong giai đoạn nghiên
cứu. Việc tiếp cận được các công trình này đã giúp tác giả có cách nhìn nhận toàn diện
hơn về không gian tư duy kinh tế và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta bấy giờ về tổ
chức, xây dựng thương nghiệp. Có thể nói, đây là những kết quả rất đáng ghi nhận và có
ý nghĩa đối với chúng tôi trong việc kế thừa những nghiên cứu ban đầu đối với đối
nhân trong việc đánh giá về những thành tựu, hạn chế của thương nghiệp miền Bắc giai
đoạn này.
Có thể coi, tác phẩm của Đặng Phong là một trong rất ít công trình nghiên cứu đầy
đủ và khách quan nhất về thương nghiệp trong suốt thời kỳ miền Bắc xây dựng Chủ
nghĩa Xã hội và tiến hành kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung và giai đoạn 1965
1975 nói riêng.
Tuy nhiên, do các tài liệu này không phải là công trình chuyên khảo nên lĩnh vực
Thương nghiệp chưa được đầu tư nghiên cứu sâu hơn. Hơn nữa, khi thương nghiệp
miền Bắc bước vào giai đoạn vừa xây dựng vừa tiến hành kháng chiến chống Mỹ trên
phạm vi cả nước thì tính chất kinh tế trong kinh tế thương nghiệp càng ít dần nên tác giả
Đặng Phong đã không khắc họa được những tác động mạnh mẽ của hoàn cảnh đối với
việc thay đổi đường lối, chủ trương, chính sách, hoạt động đối với thương nghiệp miền
Bắc giai đoạn đó. Nói cách khác, thương nghiệp trong cách tiếp cận của tác giả Đặng
Phong phần nhiều được nhìn nhận dưới góc độ là một ngành kinh tế hơn là một mặt
trận của cuộc kháng chiến.
Trong khi đó, cuốn Tư duy kinh tế Việt Nam Những chặng đường gian nan và
ngoạn mục 1975 1989, mặc dù không trực tiếp trình bày về hoạt động thương nghiệp
nhưng lại nêu bật khá rõ nét sự thay đổi tư duy kinh tế (trong đó có kinh tế thương
nghiệp) của các lãnh đạo cao cấp trong Đảng, các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách
trong các Viện nghiên cứu kinh tế hàng đầu miền Bắc Việt Nam lúc bấy giờ. Qua công
trình này, tác giả có thể có được thông tin rất tốt cho việc nhận thức đầy đủ hơn về quan
điểm, chủ trương của lãnh đạo Đảng, Nhà nước lúc bấy giờ về thương nghiệp. Nhờ đó,
tác giả thấy và hiểu hơn về những sự trăn trở của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đối với kinh tế nói chung và thương nghiệp nói riêng.
Dường như, lúc đó, chúng ta bị chi phối giữa hai luồng tác động, một bên là quan điểm
của các nhà lý luận Mácxít từ nước ngoài, một bên là thực tiễn của công cuộc xây dựng
nền thương nghiệp miền Bắc trong bối cảnh cả nước có chiến tranh, đã và đang đặt ra
rất nhiều vấn đề mới cần nghiên cứu. Càng nghiên cứu, chúng ta sẽ càng thấu hiểu, cảm
thông hơn sự hạn chế không thể tránh khỏi của các nhà lãnh đạo, của những người trực
tiếp tổ chức và điều hành hoạt động thương nghiệp (và chắc là cả những cán bộ, nhân
chống Mỹ, cứu nước Thắng lợi và bài học của Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực
thuộc Bộ Chính trị, được Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh xuất bản năm
1995 hay cuốn Một chặng đường nghiên cứu lịch sử (1995 2000) của Đại học Quốc gia
ấn hành năm 2000, cuốn Hậu phương miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
1954 1975, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2009 của Nguyễn Xuân
Tú… có đề cập đến lĩnh vực thương nghiệp miền Bắc Việt Nam giai đoạn này ở những
góc độ khác nhau. Trong đó, công trình của Tiến sỹ Nguyễn Xuân Tú có nhiều số liệu
liên quan đến kinh tế, đặc biệt là gắn các số liệu đó với hậu phương miền Bắc trong
chiến tranh.
Tuy nhiên, rất khó để có thể phân tách được các số liệu kinh tế thương mại với các
số liệu chung về hậu phương miền Bắc cung ứng cho miền Nam kháng chiến. Một mặt,
bản thân thương nghiệp được coi là một mặt trận của cuộc kháng chiến, nhưng mặt khác,
12
quan điểm về thương nghiệp lúc bấy giờ có nhiều điểm khác biệt. Thương nghiệp không
mang nặng yếu tố buôn bán kiếm lời mà là người nội trợ của toàn xã hội, là kênh huy
động nguồn lực và phân phối sản phẩm. Chính vì lẽ đó, một số hàng hóa đặc biệt của
quân đội nhưng cũng được nhập cảng về Việt Nam thông qua con đường mậu dịch , vay
nợ và viện trợ… Các công trình này, cơ bản đề cập đến thương nghiệp như một phần của
hậu phương cách mạng, là một mặt trận của cuộc kháng chiến hơn là xét đến với tư cách
là một ngành kinh tế.
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên cũng đã giúp tác giả có được một cái nhìn toàn cảnh
hơn về tình hình chung của Việt Nam, trong đó có kinh tế miền Bắc dưới tác động của
hoàn cảnh trong và ngoài nước. Tác giả nhận thấy, việc nghiên cứu về thương nghiệp
trong giai đoạn này không chỉ là hoạt động nghiên cứu về lịch sử kinh tế thương nghiệp
mà phải đặt trong bối cảnh quốc tế và trong nước để thấy sự tác động đến vị trí, vai trò,
chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, hoạt động của thương nghiệp có sự biến đổi theo yêu
cầu của cách mạng Việt Nam nói chung và miền Bắc nói riêng. Vì thế, mặc dù không
nghiên cứu trực tiếp đến các vấn đề kinh tế thương nghiệp chuyên biệt song các nghiên
quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam Cộng hòa với Mỹ cùng giai đoạn luận án
nghiên cứu. Những số liệu này được đăng trên các tạp chí chuyên ngành kinh tế và các
báo cáo của Bộ Kinh tế dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, nhất là tài liệu của USOM và
FEER (các cơ quan chỉ đạo viện trợ của Mỹ cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa). Đây
sẽ là điều kiện để chúng ta có thể có những so sánh với việc viện trợ của các nước
XHCN đối với miền Bắc. Đặc điểm của tài liệu này vừa là số liệu vừa có phân tích của
cơ quan quản lý Quỹ nên cũng có thể làm tài liệu tham chiếu. Trên cơ sở đó, đánh giá,
phân tích được tính phụ thuộc của nền thương mại hai miền với các nước trong phe. Qua
đó, sẽ góp phần giúp chúng ta có điều kiện nhận định khách quan hơn về bản chất của
cuộc chiến tranh ở Việt Nam cũng như về thực trạng nền thương mại miền Bắc trong
giai đoạn 1965 1975.
Chúng tôi cũng đã cố gắng tiếp cận các công trình nghiên cứu về kinh tế, kinh tế
thương nghiệp có liên quan ở nước ngoài, cụ thể là ở Mỹ, Úc, Pháp, Hàn Quốc, Thái
Lan…nhưng chưa tiếp cận được các tài liệu liên quan. Trong lưu trữ của các nước này,
có khá nhiều tài liệu về kinh tế của Đông Nam Á, nhưng rất tiếc, luận án chưa tiếp cận
được thông tin nào liên quan đến miền Bắc Việt Nam. Có thể, lúc bấy giờ, do hoàn cảnh
chiến tranh và sự đối lập mang tính ý thức hệ, các nhà nghiên cứu nước ngoài khó có cơ
hội tiếp cận với kinh tế miền Bắc để nghiên cứu.
Mảng tài liệu tiếng Nga, chúng tôi ghi nhận được một số công trình nghiên cứu về
miền Bắc giai đoạn đó. Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu thống kê một số số liệu
liên quan đến việc viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam. Chúng tôi cũng đã sử dụng nguồn
tài liệu này vào xây dựng luận án như cuốn Ngoại thương Liên Xô: Tổng kết kế hoạch 5
năm lần thứ 9 và tương lai do Nhà xuất bản Sự thật ấn hành ở Moscow vào năm 1977,
hiện đang được lưu trữ tại Thư viện của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương.
Nhưng công trình này, chỉ đề cập đến một phần rất khái lược về quan điểm và số liệu
liên quan đến viện trợ và thương mại của Liên Xô đối với Việt Nam. Ngoài ra, chưa tiếp
cận được bất kỳ công trình nào của Liên Xô nghiên cứu mang tính chuyên khảo về
thương nghiệp (hay rộng hơn là kinh tế) miền Bắc nước ta lúc bấy giờ.
Mảng tài liệu tiếng Trung, chúng tôi chưa tiếp cận được công trình liên quan. Hơn
nữa, việc tiếp cận nguồn tài liệu tiếng Trung ở Trung Quốc rất khó khăn vì nhiều lí do,
và làm nghĩa vụ quốc tế như thế nào; Ba là, các công trình cũng chưa chỉ rõ được những
thành tựu, hạn chế; đặc điểm, ý nghĩa và kinh nghiệm của quá trình đó.
1.3.4. Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến
đề tài, hướng nghiên cứu của Luận án sẽ tập trung giải quyết một số vấn đề sau: Khái
quát các quan điểm cơ bản của các nhà lý luận chủ nghĩa Mác Lênin về kinh tế thương
nghiệp; Khái quát đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về quá
trình xây dựng và phát triển thương nghiệp trong bối cảnh cả nước có chiến tranh; Tập
trung nghiên cứu quá trình tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, chính sách Nhà nước
về thương nghiệp trên các góc độ từ tư duy kinh tế thương nghiệp, mô hình tổ chức,
hoạt động thương nghiệp, nghiên cứu mối quan hệ giữa nội thương và ngoại thương,
giữa thương nghiệp Nhà nước với thương nghiệp tư bản tư nhân, xác định vị trí, vai
15
trò, ý nghĩa của thương nghiệp đối với kháng chiến... Nghiên cứu các nội dung này phải
đặt trong bối cảnh thế giới và trong nước giai đoạn 1965 1975 để nhìn nhận và đánh
giá khách quan, toàn diện vấn đề nghiên cứu; Qua đó, phải rút ra được đặc điểm, ý
nghĩa và kinh nghiệm của quá trình xây dựng và phát triển thương nghiệp miền Bắc
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giai đoạn 1965 1975.
CHƯƠNG 2
THƯƠNG NGHIỆP MIỀN BẮC TRONG NHỮNG NĂM 1965 1968
2.1. Hoàn cảnh mới, chủ trương mới
2.1.1. Khái quát tình hình thươ ng nghi ệp mi ền B ắc Vi ệt Nam tr ước năm
1965
Thương nghiệp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ 1945 đến 1954: Qua 9 năm kháng
chiến, đạt được một số thành tựu nhất định nhưng kết thúc cuộc chiến tranh, về bản
chất, thương nghiệp kháng chiến vẫn là thương nghiệp của một nền kinh tế tiểu nông
lạc hậu.
Thương nghiệp miền Bắc giai đoạn 1954 1964: Sau 10 năm xây dựng thương
phương hướng đảm bảo mức sống giản dị, tiết kiệm thích hợp với thời chiến nhưng
vẫn phải chú trọng bồi dưỡng sức lao động sản xuất và chiến đấu. Năm là, phục vụ việc
tiếp tục hoàn thành cải tạo XHCN, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, tiếp tục
thực hiện cải tạo thương nghiệp tư doanh, kiên quyết chống đầu cơ, tích trữ, củng cố và
mở rộng thị trường XHCN thống nhất. Sáu là, góp phần tích cực giải quyết tình trạng mất
cân đối trong nền kinh tế quốc dân, ổn định nền kinh tế trên cơ sở mới, ổn định thị trường,
giá cả và tiền tệ. [76;212213]
Đảng chủ trương: Các hoạt động thương nghiệp giai đoạn này làm nhiệm vụ hậu
cần cho sản xuất, chiến đấu. Các hoạt động xuất khẩu diễn ra ở mức độ vừa phải, các
hoạt động ngoại thương chủ yếu là nhập khẩu. Trong các hoạt động nhập khẩu, việc
dùng ngoại tệ của Nhà nước để trao đổi, mua bán hàng hóa phải được hạn chế. Đẩy
mạnh khập khẩu, trong đó cơ bản là tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước XHCN.
Nhiệm vụ của kinh tế đối ngoại nói chung và của ngoại thương nói riêng, trước
hết và chủ yếu là tranh thủ tới mức cao nhất viện trợ quốc tế, kịp thời đưa hàng nhập
khẩu về nước để tăng cường tiềm lực kinh tế, quốc phòng, duy trì và phát triển sản
xuất, phục vụ chiến đấu, chi viện cho miền Nam.
2.2. Xây dựng thương nghiệp miền Bắc trong những năm 1965 1968
2.2.1. Thương nghiệp miền Bắc trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế
quốc Mỹ
Chuyển hướng hoạt động thương nghiệp
Cuối năm 1964, ngay sau khi Ban Chấp hành Trung ương ra Nghị quyết 10, Bộ
Nội thương và Ngoại Thương đã có nhiều biện pháp đưa nghị quyết vào công tác chỉ
đạo, điều hành. Trung ương Đảng có những điều chỉnh hợp lý về thương nghiệp được
thể hiện trong Hội nghị lần thứ 11 (1965). Trong đó, qua ý kiến của hai Bộ, Chính phủ đã
có chỉ đạo về điều chỉnh kế hoạch, bổ sung hàng nhập khẩu khẩn cấp cho nhu c ầu
của cuộc kháng chiến trong tình hình mới; điều chỉnh tăng các chỉ tiêu thu mua; rút
hoặc phân tán hàng ở các kho lớn, phân tán về nông thôn, miền núi; đẩy mạnh việc
vận chuyển hàng hóa cho Khu 4, Tây Bắc, gấp rút tăng cường lượng dự trữ Nhà nước
cho từng vùng, từng tỉnh. Điều chỉnh lại mạng lưới phân phối của mậu dịch quốc
doanh, giao thêm nhiệm vụ cho hợp tác xã mua bán để không chỉ phục vụ nhân dân tại
trách nhiệm bán lẻ ở thị trường nông thôn và các điểm tập trung dân cư ở nông thôn. Sự
phát triển của hợp tác xã mua bán phụ thuộc vào sự phát triển của quan hệ sản xuất Xã
hội Chủ nghĩa và lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, phụ thuộc vào điều kiện sống
và tổ chức lao động ở nông thôn. Đây cũng là quá trình thực hiện phân công lao động hợp
lý giữa các hình thức thương nghiệp Xã hội Chủ nghĩa, phát huy được tốt hơn vai trò của
từng thành phần trong phục vụ sản xuất và đời sống.
Hợp tác xã mua bán trong giai đoạn chống chiến tranh phá hoại có 5 nhiệm vụ chính:
Một là, làm đại lý bán hàng công nghiệp cho thương nghiệp quốc doanh ở thị
trường nông thôn. Hai là, nhận ủy thác thu mua nông sản, thực phẩm cho thương nghiệp
quốc doanh. Ba là, kinh doanh hàng ngoài diện, ngoài mức kế hoạch của Nhà nước, bằng
18
cách khai thác nguồn hàng tiềm tàng trong nông thôn một cách linh hoạt để bổ sung cho thị
trường có tổ chức. Đây là một nhiệm vụ khẩn cấp của hợp tác xã mua bán trong giai đoạn
này khi mà việc khai thác nguồn hàng trở thành nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của ngành
thương nghiệp. Bốn là, góp phần cải tạo thị trường nông thôn, cải tạo người buôn bán
nhỏ. Năm là, cung ứng một phần hàng tiêu dùng cho nhân dân thành phố sơ tán về các xã ở
nông thôn.
Thương nghiệp tư bản tư nhân và Thị trường tự do
Thương nghiệp tư bản tư nhân hoạt động gắn với thị trường tự do. Về mặt lý
thuyết, thương nghiệp tư bản tư nhân và thị trường tự do sẽ không thể hiện diện trong
thị trường Xã hội Chủ nghĩa. Ở miền Bắc giai đoạn này, mặc dù, Nhà nước cố gắng
thắt chặt thị trường tự do, độc tôn thương nghiệp Nhà nước. Tuy nhiên, do nhiều nguyên
nhân khác nhau, thị trường tự do, trong đó có chợ, đã xuất hiện trở lại khá phổ biến cả ở
nông thôn và thành thị. Thị trường tự do có cơ hội phát triển song hành với hệ thống
thương nghiệp quốc doanh và tập thể.
Thị trường tự do có hai bộ phần gồm thị trường tự do có tổ chức và thị trường tự
do không có tổ chức. Trong thị trường tự do, đặc biệt là thị trường không có tổ chức, tệ
đầu cơ, tích trữ hàng hóa diễn ra thường xuyên. Một số mặt hàng thuộc độc quyền quản
giá trị xuất khẩu của miền Bắc Việt Nam.
Về mặt hàng xuất khẩu: bao gồm 3 mặt hàng cơ bản: Công nghiệp A (chủ yếu là
khoáng sản), công nghiệp B (thủ công nghiệp và nông lâm sản chế biến), nông sản thô.
Trong đó tỷ trọng công nghiệp A và nông sản thô có chiều hướng giảm mạnh. Công
nghiệp B tăng nhanh.
Nhập khẩu
Giai đoạn này, miền Bắc nhập khẩu từ 3 nguồn: Các nước Xã hội Chủ nghĩa, Tư
bản Chủ nghĩa và Dân tộc Chủ nghĩa. Trong đó, khu vực các nước Xã hội Chủ nghĩa có
Liên Xô, Trung Quốc, CHDC Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc, Bungari, Rumani, Triều Tiên, Cu
Ba, Mông Cổ… Khu vực các nước Tư bản Chủ nghĩa có Pháp, Nhật, Thuỵ Điển, Thuỵ
Sỹ, Na Uy, Tây Đức. Các nước Dân tộc Chủ nghĩa chiếm tỷ trọng không đáng kể. Nhập
khẩu lớn nhất là từ các nước XHCN; Trong khối các nước XHCN, Liên Xô và Trung
Quốc là hai nước chiếm tỷ trọng hàng hoá nhập khẩu lớn nhất của miền Bắc Việt Nam
(97% lượng giá trị nhập khẩu là từ các nước Xã hội Chủ nghĩa, trong đó riêng Liên Xô
là khoảng 40% và Trung Quốc 38% ) [82;482].
Nhập khẩu của miền Bắc bấy giờ, phản ánh rất rõ nét sự phụ thuộc của nền kinh
tế của miền Bắc đối với các nước Xã hội Chủ nghĩa khác.
Hàng nhập khẩu có 5 nhóm chính là: Nguyên nhiên vật liệu, hàng tiêu dùng, dụng
cụ phụ tùng, thiết bị lẻ và thiết bị toàn bộ. Nhập khẩu hàng nguyên nhiên, vật liệu và
hàng tiêu dùng là chủ yếu. Tỷ trọng của hàng tiêu dùng đến năm 1968 đã chiếm 33%
lượng giá trị hàng nhập khẩu. Trong khi đó, khác với giai đoạn trước (1960 1964), giá trị
thiết bị toàn bộ và kỹ thuật có tăng song tỷ trọng của nó trong nhập khẩu lại giảm mạnh.
Kim ngạch xuất nhập khẩu mất cân đối nghiêm trọng. Nhập siêu trở thành căn bệnh
mãn tính của nền thương nghiệp miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn này. Đặc biệt, năm
1968, nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu lên đến 12 lần (xuất: 42.900.000 R; nhập: 465.700.000
R).
20
chinh và chư hầu vào tham chiến ở miền Nam mà còn âm mưu đưa miền Bắc trở về thời kỳ
đồ đá. Đây là một cuộc chiến tranh tổng lực, Mỹ muốn qua đó, dập tắt khát vọng độc lập,
thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam. Chính vì thế, việc xây dựng và bảo vệ miền Bắc
Xã hội Chủ nghĩa có ý nghĩa vô cùng to lớn không chỉ đối với riêng miền Bắc mà còn với vận
mệnh cách mạng cả nước.
Thương nghiệp miền Bắc trong giai đoạn đặc biệt đó, cũng cần phải có sự điều
21
chỉnh để đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tiễn. Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương
Đảng, ngành thương nghiệp đã có sự chuyển hướng nhanh chóng thích ứng với hoàn cảnh
chiến tranh. Một loạt các chính sách, giải pháp được đưa ra để điều chỉnh về tổ chức, hình
thức hoạt động của thương nghiệp. Ngoại thương đã tranh thủ được một nguồn lực rất to
lớn của các nước Xã hội Chủ nghĩa đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta. Nội
thương điều chỉnh lớn về tổ chức, mạng lưới, hình thức huy động nguồn hàng, giảm mậu
dịch quốc doanh, gia tăng hoạt động và mạng lưới của hợp tác xã mua bán… Nội thương
đã tập trung cao độ cho nhiệm vụ phân phối nguồn hàng để đảm bảo đời sống dân sinh,
cho sản xuất và chiến đấu. Có thể nói, trong chiến tranh, nguồn lực trong nước bị tàn phá
đến suy kiệt, với việc tận dụng nguồn lực bên ngoài, ngành thương nghiệp đã hoàn thành
được nhiệm vụ đối với sự nghiệp chung của cách mạng.
Tuy nhiên, trong quá trình đó, thương nghiệp cũng bộc lộ nhiều hạn chế lớn. Có
những hạn chế, thiếu sót mang tính bản chất của mô hình, kéo dài từ trước đó, có những
hạn chế bị bộc lộ rõ nét khi thương nghiệp phải hoạt động trong điều kiện chiến tranh,
có những thiếu sót lại do vấn đề con người gây nên. Điều này, đã làm ảnh hưởng và hạn
chế đi các thành tựu của ngành thương nghiệp trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất.
Điều nghiêm trọng hơn, có một số thiếu sót, hạn chế không được nhận diện hoặc có
được nhận diện nhưng lạicoi đó là nguyên nhân bởi chiến tranh, đã để lại những hậu
quả lớn cho quá trình tổ chức hoạt động và phát triển thương nghiệp về sau.
Trong 4 năm xây dựng và phát triển dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù, thương
ngày 9 tháng 5 năm 1969, Ban Bí thư đã có chỉ đạo về chuyển hướng hoạt động thương
nghiệp thông qua thông báo số 07 (07 TB/TW) [72;63]. Ti ếp theo đó, Bí thư thứ nhất
của Đảng Lê Duẩn, đã có phát biểu chỉ đạo việc chuyển hướng kinh tế miền Bắc tại
Hội nghị lần thứ 19, Ban Chấp hành Trung ương [73;115], trong đó chỉ rõ: Chủ trương
chung là chuyển thương nghiệp hoạt động từ thời chiến sang thời bình và đến khi Mỹ
tiến hành chiến tranh phá hoại lần thứ hai là chuyển từ thời bình sang thời chiến. Sau
khi chúng ta đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai lại phải khắc phục hậu
quả chiến tranh, khôi phục thương nghiệp và phát triển.
3.2. Thương nghiệp miền Bắc trong những năm 1969 1975
3.2.1. Xây dựng và phát triển Nội thương
Thương nghiệp quốc doanh
TNQD được củng cố và ưu tiên.
Đầu vào của thương nghiệp quốc doanh tiếp tục đẩy mạnh tận thu từ ba nguồn cơ bản là
hàng nhập khẩu, hàng giao nộp và hàng thu mua nông lâm sản. Trong đó, hàng nhập khẩu vẫn là
cơ bản.
23
Đầu ra của thương nghiệp quốc doanh: V ẫn bao g ồm b ốn kho ản m ục chính là
cấp phát trực tiếp, bán lẻ theo chế độ cung cấp định lượ ng, bán lẻ theo chế độ không
cung cấp định lượng, bán lẻ bình thườ ng.
Hợp tác xã mua bán
So với giai đoạn 1965 1968, hợp tác xã mua bán phát triển có phần chậm hơn do
thương nghiệp quốc doanh đã mở rộng hệ thống bán lẻ rộng rãi, trong khi thị trường tự
do thực sự bùng nổ.
Thị trường tự do: Giai đoạn này, thị trường tự do phát triển rất mạnh mẽ, tác
động lớn đến thị trường và chính sách quốc gia về thương nghiệp.
Nhìn chung, nội thương giai đoạn này có sự phát triển tương đối mạnh với vai trò
của thương nghiệp quốc doanh và thị trường tự do, nhờ đó đã đáp ứng được cơ bản nhu
cầu sản xuất, chiến đấu, sinh hoạt và chi viện cho miền Nam. Thị trường tự do tiếp tục
1971, viện trợ và vay nợ chiếm đến trên 90%.
Ngoại thươ ng miền B ắc giai đoạ n này đã có tác dụ ng lớn cho sự phục h ồi
kinh tế, xu ất khẩu cũng từng bướ c đượ c khôi phục. Nếu không xét ở yế u tố cán cân
thươ ng mại, nh ập kh ẩu đã tận dụng sự hỗ trợ kinh t ế c ủa các nướ c trên thế giớ i
đối v ới Việt Nam. Tuy nhiên, việc thực hi ện mục tiêu từ ng bướ c cân bằ ng nhập
khẩu và xuất khẩu c ơ bản không thành công. Tỷ lệ xuất khẩu trong cán cân thươ ng
mại có tăng song giá trị nhập siêu ngày một lớn.
3.2.3. Thành tựu, hạn chế
Thành tựu
Một là, nhiệm vụ phục vụ đời sống và sản xuất có những chuyển biến tích cực;
Hai là, thu mua hàng hóa đạt được kết quả khá hơn trước;
Ba là, có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực quản lý kinh tế và tăng cường pháp chế Xã
hội Chủ nghĩa trong lĩnh vực thương nghiệp;
Bốn là, thương mại quốc tế được mở rộng hơn trước;
Năm là, thương nghiệp đã kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh ở những
vùng mới giải phóng và cung cấp cho chiến trường một khối lượng hàng hóa khổng lồ
nhằm đẩy nhanh công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Hạn chế
Thứ nhất, trong lĩnh vực nội thương
Thứ hai, trong lĩnh vực ngoại thương
Thứ ba, tư duy và mô hình kinh tế thương nghiệp không có sự biến chuyển đáng kể.
*
* *
Như vậy, trong những năm 1969 1975, thương nghiệp miền Bắc Việt Nam tiếp
tục sự nghiệp xây dựng và phát triển trong điều kiện khá đặc biệt. Tình thế miền Bắc
lúc có chiến tranh, lúc có hòa bình. Trong đó, cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 của đế
quốc Mỹ từ giữa đến cuối năm 1972, mặc dù thời gian tiến hành đánh phá không kéo dài
như chiến tranh phá hoại lần thứ nhất nhưng quy mô, sự khốc liệt và độ tàn phá của
chiến tranh rất khủng khiếp. Đặc biệt, trong 12 ngày đêm cao điểm từ 18 đến 30 tháng 12
25