Luận án tiến sĩ Kinh tế: Pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 59

MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ...................................................................................... 6
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu.......................................................................... 8
1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ......................................................................... 20
1.4. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu..................................................... 23
1.5. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài..................................................... 25
1.6. Những điểm mới của luận án ............................................................................ 31
1.7. Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của luận án ............................................... 34
Kết luận chương 1 .................................................................................................... 38
CHƯƠNG 2. LÝ LUẬN VÊ HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN VÀ ĐIỀU CHỈNH
BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1. Lý luận về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại ....................... 40
2.1.1. Lý luận về vốn của của ngân hàng thương mại .................................................. 40
2.1.2. Hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại ............................................ 43
2.2. Điều chỉnh bằng pháp luật hoạt động sử dụng vốn của các ngân hàng thương
mại ................................................................................................................................. 53
2.2.1. Nhu cầu điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại bằng pháp
luật ................................................................................................................................. 53
2.2.2. Vai trò của pháp luật trong điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng
thương mại ..................................................................................................................... 56
2.2.3. Giới hạn cho việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động sử dụng vốn của
các ngân hàng thương mại ............................................................................................. 59
2.3. Hình thức pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của các ngân hàng thương mại
....................................................................................................................................... 60
2.3.1. Văn bản quy phạm pháp luật ............................................................................... 60
2.3.2. Án lệ .................................................................................................................... 61
1



2


4.2. Những quy định pháp luật để hạn chế rủi ro trong hoạt động sử dụng vốn của NHTM
thông qua việc cấp tín dụng ......................................................................................... 108
4.3. Các quy định của pháp luật về các lĩnh vực cấp tín dụng cụ thể của NHTM ...... 127
4.4. Chế tài cho các hành vi vi phạm liên quan đến hoạt động sử dụng vốn để cấp tín
dụng của ngân hàng thương mại.................................................................................. 135
4.5. Các bất cập và kiến nghị hoàn thiện quy định về sử dụng vốn của ngân hàng thương
mại để cấp tín dụng. ..................................................................................................... 140
Kết luận chương 4 ....................................................................................................... 160
Kết luận của luận án .................................................................................................... 164

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục số 1: Hệ số an toàn vốn (CAR) của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam và một
số quốc gia trong khu vực châu Á năm 2011, 2012
Phụ lục số 2: Hệ số CAR của một số NHTM cổ phần (%)
Phụ lục số 3: Các nguyên tắc Basel
Phụ lục số 4: Danh mục các NHTM được phép kinh doanh vàng miếng
Phụ lục số 5: Báo cáo tài chính của một số ngân hàng thương mại
Phụ lục số 6: Kết luận thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật tại một số ngân
hàng thương mại

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

3



Hợp đồng

5

HĐQT

Hội đồng quản trị

6

HĐTV

Hội đồng thành viên

7

NH

Ngân hàng

8

NHNN

Ngân hàng Nhà nước

9

NHTM


Văn bản quy phạm pháp luật

15

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân

16

VNĐ

Việt Nam đồng

4


B. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH

CHỮ VIẾT TẮT

TÊN ĐẦY ĐỦ TIẾNG
ANH

TÊN ĐẦY ĐỦ TIẾNG VIỆT

FED

Federal Reserve System


cho nền kinh tế. Những vụ án lớn trong lĩnh vực NH được xét xử trong các năm vừa qua
tại Việt Nam đã cho thấy thiệt hại cho NH là quá lớn khi bản thân NH quản lý không
tốt, quản lý tùy tiện nguồn vốn của NHTM. Trong vụ án liên quan đến bị cáo Phạm
Công Danh, vào khoảng tháng 5/2013, để có tiền sử dụng cho việc chi chăm sóc khách
hàng phục vụ cho thanh khoản của NHTM cổ phần Xây dựng Việt Nam (VNCB), các
bị cáo đã bàn về việc tìm cách rút tiền từ NH phục vụ cho việc chăm sóc khách hàng2.
Các vụ án lớn liên quan đến lĩnh vực NH, liên quan đến thất thoát đồng vốn của NH đã
góp phần làm xói mòn lòng tin của người dân cũng như nhà đầu tư. Chính vì vậy, các
NHTM cần chấn chỉnh lại hoạt động sử dụng vốn của mình để duy trì nhiềm tin của
người gửi tiền, để thu hút sự đầu tư của các nhà đầu tư, những người góp vốn để thành
lập và quản lý NH.

Nhu cầu từ phía xã hội
Thứ nhất, lĩnh vực kinh doanh NH liên quan đến nhiều hoạt động của nền kinh
tế thông qua việc nắm giữ và cung ứng nguồn vốn. Đặc biệt, kinh doanh NH liên quan
và cung cấp vốn cho nhiều lĩnh vực của nền kinh tế như kinh doanh chứng khoán, bất
động sản (BĐS), xây dựng, đầu tư, v.v… nhất là ở khía cạnh nguồn vốn và cách thức sử
dụng vốn. Hoạt động kinh doanh của NH được ví như huyết mạch của nền kinh tế. Các
Sở hữu chéo là việc đồng thời hai doanh nghiệp có sở hữu phần vốn góp, cổ phần của nhau (Khoản 2 Điều 16
Nghị định 96/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp năm 2014)
2
Bản án hình sự sơ thẩm số 332/2016/HSST vào ngày 09/09/2016, tr. 34
1

6


cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á 1997-1998, khủng hoảng tài chính Nam Mỹ 20012002, khủng hoảng hệ thống NH trên toàn thế giới, đặc biệt là ở Mỹ từ 2008 đã cho thấy
vai trò huyết mạch này của hoạt động NH.
Thứ hai, nguồn vốn cho NH hoạt động phần lớn là nguồn vốn của xã hội, được


Được ban hành 16-6-2010, hiệu lực từ 01-01-2011
Hiệp ước Basel (Basel Accord) đưa ra các nguyên tắc chung và các luật ngân hàng của Ủy ban Basel về giám sát
ngân hàng
3
4

7


năng chi trả để hạn chế và kiểm soát có hiệu quả các rủi ro trong hoạt động của các
TCTD, ban hành các nguyên tắc, chuẩn mực quản trị rủi ro đối với các TCTD.

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Do tầm quan trọng trong hoạt động sử dụng vốn của TCTD nói chung, của
NHTM nói riêng cũng như nhu cầu cần có các quy định pháp lý phù hợp để điều chỉnh
nên việc tìm hiểu về hoạt động sử dụng vốn của TCTD nói chung và NHTM nói riêng
đã được nhiều chủ thể đầu tư nghiên cứu. Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên
cứu, các hội thảo, các luận văn, luận án, bài phát biểu có liên quan một phần hoặc liên
quan mật thiết đến đề tài “Pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương
mại Việt Nam”. Cụ thể, các công trình nghiên cứu đó được liệt kê trong luận án này theo
2 nhóm chính sau đây: Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và tình hình nghiên cứu ở
Việt Nam. Trên cơ sở tìm hiểu tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước như đã trình
bày ở trên, nghiên cứu sinh có các ghi nhận và nhận xét sơ bộ như sau:
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2.1.1 Các công trình nghiên cứu về kinh tế có liên quan đến đề tài
Bài viết của tác giả Hao Liu xem xét mối quan hệ giữa các thay đổi trong cơ chế
hoạt động của NH và khủng hoảng tài chính bằng cách nghiên cứu sự thay đổi về chính
sách của 137 quốc gia và đặc biệt là các quốc gia thuộc nhóm Tổ chức hợp tác và phát
triển kinh tế (OECD Organization for Economic Cooperation and development). Các

nhân sâu xa để dẫn đến sự khác biệt của những quy định này. Những nội dung mà nghiên
cứu này chưa trình bày là nội dung mà nghiên cứu sinh sẽ nghiên cứu so sánh dưới góc
độ pháp luật với những quy định hiện tại Việt Nam.
Trong bài viết “Chức năng của vốn của ngân hàng” 9, tác giả Ing. Martin Svitek
đã liệt kê và phân tích các chức năng của vốn NH như sau: chức năng bù đắp các tổn
thất, thiệt hại (loss-absorbing function), chức năng tạo niềm tin cho người gửi tiền
(confidence function), chức năng tài chính (financial function), chức năng giới hạn
(restrictive function). Nhờ chức năng bù đắp các tổn thất và thiệt hại của vốn, người gửi
tiền và chủ nợ của NH cảm giác yên tâm là tiền gửi, cho vay của họ được an toàn. Vốn
được xem là kênh để tạo ra vốn mới từ lợi nhuận. Vốn được sử dụng giới hạn trong một
số tài sản và giao dịch của NH. Theo đó, tác giả kết luận là vì tầm quan trọng của vốn
NH nên nó trở thành vấn đề trung tâm trong lĩnh vực NH. Phạm vi của bài viết chỉ giới
hạn trong chức năng của vốn NH đúng như tên gọi nên chưa làm rõ được hoạt động sử
dụng vốn của NH trên thực tế có phản ánh được các chức năng trên hay không.
Trong 182 trang luận án tiến sĩ kinh tế “Quản trị hoạt động tín dụng của các ngân
hàng thương mại tại Lào”10, nghiên cứu sinh người Lào Kongchampa Ounkham nghiên
cứu chính tập trung vào các quy định và thực tiễn quản trị NHTM tại Lào để nghiên cứu
tuy luận án được thực hiện bằng tiếng Việt. Bên cạnh đó, luận án này chỉ tập trung vào
công việc quản trị NHTM và các biện pháp đảm bảo tín dụng tại Lào và một số nước
khác như Việt Nam, Úc, Mỹ, Trung Quốc, v.v… mà không phải tập trung vào quy định
pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM tại Việt Nam nói chung, về hoạt động
đầu tư của NHTM nói riêng. Đây sẽ là những nội dung mà nghiên cứu sinh sẽ tập trung
nghiên cứu.

1.2.1.2 Các công trình nghiên cứu về quy định pháp luật:
“Quản trị ngân hàng thương mại” của Peter.S Rose11 cung cấp các kết quả nghiên
cứu về việc quản lý nguồn vốn của NHTM, tác động của chính sách và các quy định đối
với hoạt động của NH, phân tích và đánh giá hoạt động của NH, hoạt động đầu tư của
NHTM. Công trình nghiên cứu này có giá trị tham khảo để tiến hành việc so sánh cũng
Matthias Lehmann (2014), tlđd 6, tr.7

quy định liên quan đến hoạt động sử dụng vốn của NHTM. Chương 10 của sách này tập
trung phân tích việc quản lý điều hành các nguồn vốn của NH, phân tích sự khác nhau
giữa cho vay và đầu tư, đa dạng hóa hoạt động đầu tư. Kết quả nghiên cứu đưa ra nhận
định là chương trình/ kế hoạch quản lý nguồn vốn nỗ lực điều hòa giữa 3 mục tiêu: tính
an toàn, tính thanh khoản và khả năng sinh lời của NH13. Các kết quả nghiên cứu trong
công trình này cũng trình bày sự so sánh và lý giải sự ra đời của các đạo luật về NH.

1.2.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.2.1. Các nghiên cứu về kinh tế có nội dung liên quan đề tài
Đây là một đề tài liên quan đến lĩnh vực NH, một lĩnh vực đặc thù của nền kinh
tế. Chính vì vậy, các đề tài nghiên cứu về kinh tế nói chung, về NH nói riêng là đối
tượng tham khảo chính của luận án này.
“Quản trị ngân hàng” của tác giả Hồ Diệu 14 ra đời trong bối cảnh sau cuộc khủng
hoảng tài chính Đông Á (1997-1998) và cuộc khủng hoảng tài chính Nam Mỹ (20012002). Tác giả Hồ Diệu không đi sâu vào cơ cở lý thuyết quản trị mà chỉ tập trung xử lý
những vấn đề cơ bản trong quản trị các mặt hoạt động đặc trưng của NH. Đặc biệt, trong
đó, tác giả nhấn mạnh đến các giải pháp phòng vệ và hạn chế rủi ro; việc thành lập, tổ
chức và phát triển mạng lưới NH.
Cả hai công trình nghiên cứu của tác giả Peter Rose và Hồ Diệu đều có chung
một điểm là do được tiến hành cách đây hơn 10 năm nên ít nhiều vẫn chưa thể hiện được

American Bankers Association (2007) (Tái bản lần thứ 9), Các nguyên tắc trong hoạt động giao dịch ngân hàng
tại Mỹ (Principles of banking), do nhóm tác giả Nguyễn Hữu Thu hiệu đính bản dịch, 12-2017
13
American Bankers Association (2007), tlđd 12, tr.135
14
Hồ Diệu (2002), Quản trị ngân hàng, Nxb Thống kê
12

10


Những luận án và các công trình nghiên cứu khác về kinh tế có nội dung liên
quan đến đề tài:
Nghiên cứu của Phan Thị Hằng Nga tập trung đánh giá năng lực tài chính của
các NHTM Việt Nam trên cơ sở khung an toàn CAMEL17. Đây là một công trình công
phu với nhiều bảng biểu và số liệu về NH, thể hiện từ trang 61 đến trang 135, liên quan
đến hệ số an toàn vốn, đến tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA: Return on assets), tỷ suất

Nguyễn Văn Tiến (2005), Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, Nxb Thống kê
Trương Quang Thông (chủ biên) (2010), Quản trị ngân hàng thương mại, Nxb Tài chính
17
CAMEL chính là viết tắt từ chữ cái đầu của các chữ tiếng Anh Capital, Asset quality, Management, Earnings,
và Liquidity ( Vốn, chất lượng tài sản, quản trị, thu nhập và tính thanh khoản)
15

16

11


lợi nhuận ròng trên vốn (ROE: Return on Equity), đến dự phòng rủi ro, v.v…Nguồn số
liệu này rất hữu ích cho nghiên cứu sinh khi tiến hành luận án này của mình. Tuy nhiên,
các phân tích trong luận án của Phan Thị Hằng Nga mang nặng tính kinh tế và nhiều
phép tính trong toán học hơn là phân tích về khía cạnh pháp lý. Đây là điều để ngỏ cho
nghiên cứu sinh nghiên cứu tiếp.
Tiến sĩ Hạ Thị Thiều Dao đã thực hiện nghiên cứu “25 nguyên tắc giám sát ngân
hàng theo Basel II và việc tuân thủ ở Việt Nam”18. Đúng như tên gọi, tác giả chỉ nêu ra
các nguyên tắc, đối chiếu và chỉ rõ mức độ tuân thủ của các NH Việt Nam trước yêu cầu
của Ủy ban Basel mà không đi sâu phân tích về việc áp dụng các nguyên tắc này ở Việt
Nam như thế nào. Nghiên cứu sinh sẽ áp dụng những quy định của Basel 2, 3 để tiến
hành nghiên cứu quy định của pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM tại

18

12


Tác giả Phạm Thị Giang Thu, một cách độc lập hoặc cùng tham gia nghiên cứu
chung với các tác giả khác, đã có nhiều bài viết về lĩnh vực tài chính NH. Trong đó, có
một số bài viết liên quan trực tiếp đến đề tài của nghiên cứu sinh như sau:
Bài báo “Một vài ý kiến về pháp luật điều chỉnh hoạt động góp vốn, mua cổ phần
của các ngân hàng thương mại”21 có nội dung liên quan một phần với đề tài của nghiên
cứu sinh. Trong bài viết, tác giả nêu lên ý kiến về những quy định pháp luật hiện nay
liên quan đến quyền thực hiện góp vốn, mua cổ phần; giới hạn tham gia góp vốn, mua
cổ phần; lĩnh vực được góp vốn, mua cổ phần và cuối cùng là trình tự thủ tục góp vốn,
mua cổ phần của NHTM. Quyền thực hiện góp vốn, mua cổ phần đã được đem ra phân
tích sâu trong vụ án liên quan đến bị cáo Nguyễn Đức Kiên. Tuy nhiên, trình tự, thủ tục
góp vốn mua cổ phần của NHTM không phải là mục tiêu của luận án của nghiên cứu
sinh. Trong khi đó, phần phân tích sâu sắc về lĩnh vực và giới hạn góp vốn mua cổ phần
là phần có liên quan chặt chẽ đến ý định nghiên cứu trong luận án của nghiên cứu sinh.
Đây là bài viết để nghiên cứu sinh kế thừa và phát triển các phân tích có liên quan đến
hoạt động sử dụng vốn của các NHTM thông qua hoạt động đầu tư.
Bài báo “Những hạn chế của pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trái phiếu
doanh nghiệp và hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại” của
hai tác giả là Phạm Thị Giang Thu và Nguyễn Ngọc Lương22 đã tập trung phân tích
những hạn chế, những vướng mắc trong quy định pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt
động sử dụng vốn của các NHTM thông qua việc đầu tư trái phiếu doanh nghiệp và hoạt
động chiết khấu giấy tờ có giá. Những hạn chế của pháp luật được đề cập và phân tích
tập trung ở 4 điểm chính sau: (1) Điều 107 Luật các TCTD năm 2010 không quy định
việc NHTM được mua, bán trái phiếu doanh nghiệp trong thời gian tối đa và tối thiểu
trong bao lâu và cách thức mua bán như thế nào; (2) việc chiết khấu giấy tờ có giá và
đầu tư gián tiếp của NHTM phải có giấy phép của NHNN; (3) Điều 128 Luật các TCTD

Bài viết thứ hai của hai tác giả trên “Một số vấn đề cần quan tâm khi ban hành
luật các tổ chức tín dụng sửa đổi” tập trung phân tích các nguyên tắc và vấn đề khi ban
hành luật các TCTD sửa đổi26. Kết quả nghiên cứu đã cung cấp các nguyên tắc xây dựng
luật và phân tích các vấn đề cụ thể cần xem xét, lưu ý trước khi thông qua Luật các
TCTD sửa đổi. Theo đó, các nguyên tắc khi xây dựng luật các TCTD sửa đổi bao gồm:
(i) phải đảm bảo tính kế thừa, tính toàn diện, tính thực tiễn, tính cụ thể, chi tiết và có khả
năng áp dụng trực tiếp; (ii) đảm bảo cơ sở pháp lý của nhà nước, lợi ích của các TCTD
và lợi ích của các tổ chức, cá nhân có sử dụng dịch vụ NH của TCTD trên cơ sở tôn
trọng quy luật vận động của nền kinh tế thị trường; (iii) nguyên tắc áp dụng luật và nội
hàm của Luật các TCTD. Các vấn đề cụ thể được nêu trong bài viết bao gồm: phạm vi
điều chỉnh của luật các TCTD năm 2010, bổ sung các khái niệm cơ bản cần được định
nghĩa trong Luật; quản trị điều hành các TCTD; đảm bảo an toàn trong hoạt động của
các TCTD. Có thể nói, các kết quả nghiên cứu trên không liên quan chặt chẽ đến hoạt
động sử dụng vốn của các NHTM nhưng các nguyên tắc trong bài viết trên là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt khi cần ban hành luật các TCTD vào năm 2010 và vẫn tiếp tục có ý nghĩa
định hướng trong việc sửa đổi, ban hành mới các quy định trong lĩnh vực NH sau này,
bao gồm cả các quy định pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM.
Trong bài viết “Cơ sở pháp lý của việc ngân hàng tham gia vào thị trường tài
chính hiện nay”27, tác giả Phạm Thị Giang Thu đã kiến nghị mở rộng quyền tự do kinh
doanh của NH trong việc tham gia thị trường tài chính. Theo tác giả, “pháp luật chưa
thật sự tạo điều kiện để ngân hàng tham gia với tư cách nhà đầu tư chứng khoán”28. Từ
Luật đầu tư số 59/2005/QH11, được ban hành vào ngày 29-11-2005, hiệu lực thi hành vào 1-7-2006, hết hiệu
lực vào 1-7-2015
25
Luật đầu tư số 67/2014/QH13, được ban hành vào 26-11-2014, hiệu lực thi hành từ 1-7-2015.
26
Phạm Thị Giang Thu, Nguyễn Ngọc Lương (2010), “Một số vấn đề cần quan tâm khi ban hành luật các tổ chức
tín dụng sửa đổi”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 6/2010, tr.3-10, 18
27
Phạm Thị Giang Thu (2007), “Cơ sở pháp lý của việc ngân hàng tham gia vào thị trường tài chính hiện nay”,

phải là cho kinh tế tăng trưởng bền vững; hệ thống NH hoạt động ổn định và có hiệu
quả; các chủ thể kinh tế thoả mãn được lợi ích của mình khi giao dịch với NH; nền kinh
tế và đời sống xã hội không gặp phải các rắc rối và những biến động bất lợi; xu hướng
hội nhập quốc tế không bị cản trở và ngày càng được thúc đẩy.
- Phương thức can thiệp của nhà nước đối với hoạt động giao dịch thương mại
của NH: xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh; hoạch định và thực hiện
các chương trình, kế hoạch định hướng có liên quan đến hoạt động kinh doanh của các
NH; thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tiền tệ quốc gia, chính sách
điều hành lãi suất tín dụng, chính sách thuế khoá, chính sách ngoại hối đối với hoạt động
kinh doanh NH; thông qua việc thành lập và trực tiếp điều hành các NHTM nhà nước.
- Mức độ can thiệp của nhà nước đối với hoạt động giao dịch thương mại của các
NH: (i) Với tư cách là chủ thể quản lý, nhà nước có trách nhiệm xây dựng môi
trường thuận lợi, đầy đủ và an toàn nhất cho việc xác lập và thực hiện các giao dịch
Nguyễn Văn Tuyến (2003), “Xác định giới hạn can thiệp của nhà nước đối với giao dịch thương mại của ngân
hàng trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 11/2003
29

15


thương mại của NH. Khái niệm môi trường ở đây được hiểu bao gồm các thành tố cơ
bản như môi trường pháp lý, môi trường chính trị và an ninh xã hội, môi trường khoa
học và công nghệ. (ii) Với tư cách là chủ thể kinh tế, các doanh nghiệp NH có quyền
quyết định tối cao trong quá trình giao dịch với khách hàng và tự chịu trách nhiệm về
kết quả giao dịch.
Tuy đã cung cấp được các kết quả nghiên cứu hết sức có ý nghĩa nêu trên cho
nghiên cứu sinh nhưng nội dung chính trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Tuyến
chỉ đề cập đến giao dịch thương mại của NH. Trong khi đó, luận án của nghiên cứu sinh
chỉ liên quan đến một khía cạnh hẹp là pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM.
Chính vì vậy, các kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Tuyến sẽ được nghiên


16


động đầu tư kinh doanh trái phiếu của NHTM trên thế giới, từ đó rút ra bài học và có
giá trị thực tiễn cho hệ thống NHTM Việt Nam. Trong 196 trang luận án, Vũ Hoàng
Nam đã phân tích các mô hình đầu tư kinh doanh trái phiếu, lựa chọn học hỏi kinh
nghiệm của Mỹ và Trung Quốc về hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu.
Luận án tiến sĩ luật học của Ngô Quốc Kỳ “Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt
động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam”32 đã tập trung nghiên cứu một cách toàn diện pháp luật điều chỉnh
hoạt động của NHTM trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam. Luận án của tiến sĩ Kỳ được thực hiện thành công vào năm 2003. Tuy nhiên, từ
lúc luận án hoàn thành đến nay đã 12 năm trôi qua, tình hình hoạt động cũng như pháp
luật điều chỉnh hoạt động của các NHTM đã thay đổi lớn, đã giải quyết được các bất cập
được nêu trong luận án. Đặc biệt là ở thời gian sau khi gia nhập WTO và sau khi Luật
các TCTD năm 2010 chính thức có hiệu lực, các quy định đã được thay đổi cho phù hợp
với nền kinh tế thị trường
Nếu nghiên cứu của Phan Thị Hằng Nga tập trung đánh giá năng lực tài chính
của các NHTM Việt Nam trên cơ sở khung an toàn CAMEL thì luận án tiến sĩ kinh tế
của Nguyễn Đức Trung lại chọn chủ đề “Bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng thương
mại Việt Nam trên cơ sở áp dụng Hiệp ước tiêu chuẩn vốn quốc tế Basel” để tiến hành
nghiên cứu. Trong đó, Nguyễn Đức Trung chọn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ
2005 đến tháng 9 năm 2011, tức là trong vòng 6 năm. Luận án của Nguyễn Đức Trung
tập trung nhiều vào việc học hỏi kinh nghiệm của tổ chức Basel và phân tích sâu về quản
trị rủi ro đối với hoạt động của NHTM. Tuy đã 6 năm trôi qua kể từ khi luận án hoàn
thành nhưng chủ đề luận án của tác giả vẫn còn nguyên tính thời sự. Tuy nhiên, bối cảnh
mà tác giả nghiên cứu đã khác với tình hình hiện nay rất nhiều, Việt Nam đã trải qua
nhiều biến động trong các quy định pháp lý để đảm bảo an toàn hệ thống NHTM và thực
trạng của các NHTM hiện nay cũng khác xa với các NHTM trong quá khứ. Chưa kể,

Nam. Phạm vi nghiên cứu trong công trình nghiên cứu của tiến sĩ Nam hẹp hơn và công
trình nghiên cứu của tiến sĩ Kỳ lại rộng và bao quát hơn phạm vi nghiên cứu dự định
của nghiên cứu sinh. Tuy nhiên, việc kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong ba
công trình nghiên cứu đầu tiên chỉ dừng lại ở việc kêu gọi chứ chưa đưa ra một giải pháp
cụ thể.
Một luận án tiến sĩ có nội dung nghiên cứu gần với đề tài của nghiên cứu sinh là
“Nâng cao hiệu quả của pháp luật Việt Nam hiện nay” của tiến sĩ Nguyễn Minh Đoan34.
Công trình này đã cung cấp các kết quả nghiên cứu sau: luận án đã nêu ra khái niệm
khoa học của hiệu quả pháp luật; các tiêu chí đánh giá hiệu quả pháp luật; các điều kiện
đảm bảo hiệu quả pháp luật. Theo đó, pháp luật có hiệu quả phải là pháp luật tạo điều
kiện cho phát triển kinh tế, xã hội nhiều nhất, tốt nhất và những chi phí cho quá trình
điều chỉnh pháp luật luôn thấp nhất và tiết kiệm nhất35.
Trên cơ sở các nhận định sơ bộ về các công trình nghiên cứu trong nước và ở
nước ngoài như trên, nghiên cứu sinh có một số nhận xét tổng quát như sau:
Thứ nhất, các luận án, bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan chặt chẽ hay
liên quan gần đến đề tài của nghiên cứu sinh phần lớn nghiên cứu dưới khía cạnh kinh
tế. Chưa kể, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài khá ít, không nghiên cứu tình hình
sử dụng vốn hoặc hệ thống pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM ở Việt Nam
mà chỉ đề cập đến luật của chính nước mà tác giả là công dân hoặc nơi mà tác giả đang
nghiên cứu học tập. Các nghiên cứu ở Việt Nam đã khắc phục một phần những điều mà
các công trình nghiên cứu ở nước ngoài còn chưa thực hiện được. Nhưng, từng công
trình chỉ đi sâu vào một khía cạnh hẹp của vấn đề mà tác giả đang quan tâm hoặc chỉ tập
trung phân tích các khía cạnh kinh tế, kỹ thuật nhiều hơn là khía cạnh pháp lý của hoạt
động sử dụng vốn của NHTM hay chỉ mổ xẻ một mảng vấn đề nhỏ của hoạt động sử
dụng vốn của NHTM. Những công trình khoa học đã đề cập đến một khía cạnh pháp lý
của hoạt động sử dụng vốn của NHTM thì chưa đi sâu phân tích mà chỉ mang tính chất
liệt kê, gợi ý, kiến nghị nên chưa nghiên cứu và trình bày một cách có hệ thống và toàn
diện về hoạt động sử dụng vốn của NHTM ở Việt Nam và khung pháp lý có liên quan.
Nguyễn Minh Đoan (2001), luận án tiến sĩ luật học Nâng cao hiệu quả của pháp luật Việt Nam hiện nay, người
hướng dẫn khoa học TS.Lê Minh Tâm và TS Trần Minh Hương, 190 trang

thể nào nghiên cứu một các toàn diện và đưa ra những nhận định, lý giải có tính hệ thống
về pháp luật liên quan đến hoạt động sử dụng vốn của NHTM.
Trên cơ sở tổng quan về tình hình nghiên cứu, trong luận án của mình, nghiên
cứu sinh sẽ nghiên cứu các nội dung mà những công trình nghiên cứu trước đó chưa đề
cập hoặc đề cập chưa sâu. Các tác giả, những nhà nghiên cứu nêu trên đã nghiên cứu,
tìm hiểu, phân tích khung pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM ở nhiều
khía cạnh khác nhau. Luận án “Pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng
thương mại Việt Nam” sẽ kế thừa, tiếp nối, xâu chuỗi các kết quả nghiên cứu về kinh tế
và pháp lý của nhiều tác giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước như đã trình bày. Bên
cạnh đó, nhiều vấn đề tuy đã được các nghiên cứu trước đề cập nhưng vẫn cần được
nghiên cứu và phát triển để phù hợp với đề tài “Pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của
ngân hàng thương mại Việt Nam”.
Tính đến thời điểm hoàn thành luận án, luận án được dự kiến là công trình nghiên
cứu khoa học ở cấp độ tiến sĩ có sự kết hợp cả cách tiếp cận kinh tế, chính sách và pháp
19


lý để nghiên cứu về pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM. Các nghiên cứu
dưới góc độ kinh tế là nền tảng để nghiên cứu và đề xuất các kiến nghị hợp lý liên quan
pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM. Luận án hướng đến làm rõ:
- Sự cần thiết của các quy định về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM
- Sự phù hợp của các quy định đang xem xét với chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng, với Hiến pháp, pháp luật và tính thống nhất với hệ thống VB QPPL.
- Tính tương thích với Điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên
- Tính khả thi của các quy định đang xem xét, bao gồm sự phù hợp với thực tế, trình độ
phát triển của xã hội và điều kiện để đảm bảo thực hiện
- Thực tiễn hiện nay về áp dụng các quy định về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM
Luận án hướng đến việc đề xuất một số sửa đổi, chấm dứt, bổ sung một số quy
định hiện hành nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM.


chính sách là 240. Không chỉ tại Việt Nam mà trên thế giới, “bộ phận lớn nhất trong
nhóm các ngân hàng trung gian là hệ thống các ngân hàng thương mại (Commercial
Banking System)41
Việc giới hạn đối tượng nghiên cứu như trên không có nghĩa là luận án không đề
cập đến các loại TCTD khác ngoài loại hình NHTM. Khi cần, việc đề cập đến các TCTD
khác trong luận án nhằm mục đích để làm rõ hơn hoặc so sánh những vấn đề có liên
quan đến các NHTM.

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài sẽ được thực hiện trong giới hạn sau:
Về nội dung:
Vốn của NHTM bao gồm vốn ở khía cạnh nguồn nhân lực và vốn ở khía cạnh
kinh tế. Trong phạm vi luận án này, nghiên cứu sinh chỉ tập trung nghiên cứu về vốn ở
khía cạnh kinh tế của NHTM, không tập trung nghiên cứu về nguồn vốn con người của
các NHTM.
Luận án khảo sát khung pháp lý điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của các NHTM
mà không tập trung vào các nghiệp vụ NH. Luận án này không hướng đến tìm hiểu về
công việc chuyên môn hàng ngày trong NH mà chỉ hướng đến việc theo quy định thì
NHTM sử dụng vốn như thế nào. Hoạt động sử dụng vốn được đề cập chủ yếu trong
luận án này là các hoạt động như: dùng nguồn vốn của NHTM để góp vốn (đối với công
ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên; công ty trách nhiệm hữu hạn 01 thành viên),
mua cổ phần (công ty cổ phần), mua bán trái phiếu, kinh doanh vàng, kinh doanh ngoại
hối, kinh doanh BĐS, thành lập hệ thống chi nhánh mở rộng hoạt động của các NHTM.

Ngân hàng nhà nước (2018), “Danh sách các ngân hàng thương mại cổ phần trong nước (Đến 31-12-2017)”,
/>%40%3F_afrLoop%3D3558762679909000%26centerWidth%3D80%2525%26leftWidth%3D20%2525%26righ
tWidth%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrlstate%3D8wlg1v91k_293, truy cập ngày 28-08-2018
39
Ngân hàng nhà nước (2018), “Danh sách các Ngân hàng thương mại nhà nước (tính đến 31-12-2017)”,
/>%40%3F_afrLoop%3D3558457225417000%26centerWidth%3D80%2525%26leftWidth%3D20%2525%26righ

và nghiệp vụ ngoại bảng (quản lý ngân quỹ, môi giới và trung gian chứng khoán, ủy
thác, đại diện, tư vấn) là những hoạt động và nghiệp vụ NH phát sinh mà không ảnh
hưởng trực tiếp đến việc hình thành hay sử dụng nguồn vốn của NH. Trong đó, các NH
chủ yếu cung cấp dịch vụ và nhận thù lao, hoa hồng từ việc cung ứng dịch vụ. Các hoạt
động cung cấp dịch vụ của NHTM làm tăng thêm thu nhập cho các NHTM dưới hình
thức hoa hồng hay thu phí không phải là đối tượng nghiên cứu của luận án này.
Loại vốn của các NHTM được đề cập và phân tích trong luận án chủ yếu là vốn
tự có và vốn huy động từ các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Trong đó, nghiên cứu sinh
chủ yếu đề cập phân tích nhiều quy định liên quan đến vốn tự có. Luật các tổ chức tín
dụng năm 199744 (sau đây gọi tắt là Luật các TCTD năm 1997) đã giải thích vốn tự có
là căn cứ để tính toán các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động NH. Luật các TCTD
năm 2010 giải thích vốn tự có gồm giá trị thực của vốn điều lệ của TCTD và các quỹ dự
trữ, một số tài sản nợ khác theo quy định của NHNN. Tuy Luật các TCTD năm 2010
không minh thị ý vốn tự có là căn cứ để tính toán các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt
động NH nhưng vẫn tiếp tục thể hiện ý này thông qua các QPPL cụ thể, đặc biệt là thông
qua các QPPL về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động NH.
42

Trần Thị Lan (2018), luận án tiến sĩ kinh tế Chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần
Công thương Việt Nam, Học viện tài chính, người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Xuân Hạng, TS.Đàm Minh
Đức, 180 trang.
43
Nguyễn Minh Sáng và Nguyễn Thị Lan Hương (2013), “Quản trị rủi ro hoạt động ngoại bảng trong ngân hàng
thương mại”, Thị trường tài chính tiền tệ, số 3+4 (372+373), tr.61
44
Được ban hành 12-12-1997, hiệu lực từ 01-10-1998, hết hiệu lực 01-01-2011

22



các NHTM?
Vấn đề trên sẽ được phân tích trên cơ sở giải đáp những câu hỏi chi tiết sau: hoạt
động sử dụng vốn của NHTM là gì và tại sao không sử dụng đạo đức, tập quán để điều
chỉnh hoạt động sử dụng vốn của NHTM? Nếu nhà nước không quản lý hoạt động sử
dụng vốn của các NHTM thì những chủ thể nào sẽ được hưởng lợi? Pháp luật có hiệu
quả và vai trò như thế nào trong việc điều chỉnh/ điều tiết/ quản lý/ giám sát hoạt động

Trịnh Quang An (2006), “Giám sát ngân hàng: Kinh nghiệm của một số nền kinh tế chuyển đổi và hàm ý đối
với Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Giải pháp phát triển hệ thống giám sát tài chính-ngân hàng hữu hiệu”,
Nxb Văn hóa thông tin, tr. 26, 27
45

23


sử dụng vốn của NHTM? Giới hạn nào cho việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt
động sử dụng vốn của NHTM? Những khía cạnh, nội dung nào của hoạt động sử dụng
vốn cần được giới hạn sự điều chỉnh bằng pháp luật?
Câu hỏi 2: Khung pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của các NHTM ở
Việt Nam trong thời gian qua và hiện nay như thế nào?
Vấn đề trên sẽ được phân tích trên cơ sở giải đáp những câu hỏi sau: Pháp luật
về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM được thể hiện dưới những hình thức nào? Nội
dung pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM bao gồm những vấn đề gì?
Những quy định pháp luật hiện nay của Việt Nam có đảm bảo được an toàn vốn cho các
NHTM hay không?, có đảm bảo được quyền tự do kinh doanh của các NHTM hoặc/ và
của chủ sở hữu vốn?, Làm sao để cân bằng giữa quyền tự do kinh doanh của NHTM với
mục tiêu của Nhà nước là quản lý được một cách an toàn hoạt động sử dụng vốn của
NHTM nhằm bảo vệ người gửi tiền? Người gửi tiền có được khởi kiện đòi bồi thường
khi NHTM sử dụng vốn nhưng không tuân thủ quy định của pháp luật không? Các
NHTM có cần phải kiểm tra và đảm bảo dự án mà mình tài trợ có đáp ứng hay không

điều tiết của NHNN nói riêng, của NN nói chung nhưng pháp luật về hoạt động sử dụng
vốn của các NHTM hiện còn nhiều bất cập, chưa đầy đủ, cần được đánh giá đầy đủ về
mặt nguyên nhân, cách thức thực hiện để có các kiến nghị và điều chỉnh cho phù hợp.
Giả thuyết 3: Pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của các NHTM ở Việt Nam
hiện chưa phù hợp các nguyên tắc kinh tế, pháp luật để đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế
và xu thế hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, dù có những điểm chung nhất định giữa Việt
Nam và các quốc gia khác, nhưng quy định pháp luật của các quốc gia khác chặt chẽ
hơn các quy định của Việt Nam khi điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của các NHTM.
1.4.3. Lý thuyết nghiên cứu

1.4.3.1. Lý thuyết về pháp luật
Về nền tảng lý thuyết, luận án sử dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lenin về
mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật để luận giải về sự cần thiết phải có sự điều
chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động sử dụng vốn của NHTM. Bên cạnh đó, tác giả
Phạm Duy Nghĩa đã nhận định rằng nghiên cứu pháp luật phải gắn liền với nghiên cứu
chính sách46. Tác giả Đinh Dũng Sỹ cũng cho rằng không có pháp luật phi chính sách
hay pháp luật ngoài chính sách47. Các hoạt động kinh doanh của các NHTM vừa chịu
sự tác động về mặt kinh tế, vừa chịu sự tác động của các yếu tố chính trị như chủ trương,
chính sách của nhà nước. Chính vì vậy, trong luận án này, ngoài việc nghiên cứu các
quy định của pháp luật, nghiên cứu sinh còn nghiên cứu các chính sách gắn liền với hoạt
động sử dụng vốn của NHTM, mà cụ thể là chính sách tín dụng, chính sách tiền tệ quốc
gia của NHNN, chính sách liên quan đến BĐS, chính sách thuế để tác động vào hoạt
động sử dụng vốn của NHTM.
Các lý thuyết về pháp luật liên quan chặt chẽ đến luận án này bao gồm lý thuyết
về quyền tự do kinh doanh, lý thuyết về tự do hợp đồng (HĐ), lý thuyết về quyền sở
hữu, lý thuyết về hiệu quả điều chỉnh của pháp luật.
Lý thuyết về quyền tự do kinh doanh: Trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung, nên kinh tế được vận hành theo theo cơ chế quan liêu, kế hoạch theo chỉ
tiêu pháp lệnh, doanh nghiệp chỉ được kinh doanh trong phạm vi những ngành nghề
được cho phép. Điều 4 Luật công ty năm 1990 quy định trong khuôn khổ pháp luật, công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status