Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Nghiên cứu chế tạo và tính chất vật lý của vật liệu nano tinh thể SixGe1-x trên nền SiO2 - Pdf 59

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­

Trương Thị Thanh Thủy

NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO VÀ TÍNH CHẤT VẬT LÝ CỦA VẬT 
LIỆU 
NANO TINH THỂ SixGe1­x TRÊN NỀN SiO2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC


Hà Nội – Năm 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­

Trương Thị Thanh Thủy

NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO VÀ TÍNH CHẤT VẬT LÝ CỦA VẬT 
LIỆU 
NANO TINH THỂ SixGe1­x TRÊN NỀN SiO2
Chuyên ngành: Quang học
Mã số: 60440109

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS. NGÔ NGỌC HÀ



LỜI CAM ĐOAN
     Tôi xin cam đoan nội dung bản luận văn này là những gì chính tôi đã nghiên 
cứu trong suốt thời gian học thạc sĩ, các số liệu và kết quả là trung thực chưa   
được công bố ở công trình nào hoặc cơ sở nào khác dưới dạng luận văn.
Người cam đoan
 
                                                                                    Tr ương Th ị Thanh Th ủy

6


MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

EDS

Từ đầy đủ

The energy­dispersive x­ray 
spectroscopy

Ý nghĩa

Phổ tán xạ năng lượng tia X




Transmission Electron 

Kính hiển vi điện tử truyền  

Microscopy

qua

X­ray diffraction

Nhiễu xạ tia X

TEM

XRD

8

Hiển vi điện tử truyền qua  

vùng


DANH MỤC ĐỒ THỊ
Chương 1
Hình 2.4: Kính hiển vi điện tử quét SEM30
Hình 2.5: Kính hiển vi điện tử truyền qua TEM32
Hình 2.6: Sơ đồ nguyên lý hoạt động của quang phổ kế UV­VIS35
     Chương 3

đánh giá rất lớn.
Pin năng lượng mặt trời (hay pin quang điện, tế bào quang điện) là thiết 
bị  thu nhận năng lượng mặt trời và chuyển đổi thành điện năng. Cấu tạo của  
pin mặt trời cơ bản gồm các điốt p­n. Dưới ánh sáng mặt trời nó có khả  năng 
tạo ra dòng điện nhờ  các điện tử  và lỗ  trống được sinh ra dựa trên hiệu  ứng  
quang điện.  Các pin năng lượng mặt trời có rất nhiều  ứng dụng. Chúng đặc 
biệt thích hợp cho các vùng mà mạng lưới điện chưa vươn tới, các loại thiết bị 
viễn thám, cầm tay như các vệ tinh quay xung quanh quỹ đạo trái đất, máy tính  
cầm tay, điện thoại di động,... Pin năng lượng mặt trời thường được chế  tạo  
thành các module hay các tấm năng lượng mặt trời nhằm tạo ra các tấm pin có  
diện tích tiếp xúc với ánh sáng mặt trời lớn. Vật liệu dùng để chế tạo pin mặt  

10


trời hiện nay chủ yếu là Si, mặc dù hiệu suất của loại vật liệu này chưa cao,  
khoảng 15% cho các sản phẩm thương mại. Hiệu suất chuyển đổi năng lượng 
mặt trời lý thuyết có thể  lên đến khoảng 33 %, tuy nhiên để  nâng cao được  
hiệu suất pin mặt trời trên cơ sở Si, yêu cầu về  việc chế  tạo vật liệu và linh 
kiện là rất cao và tốn kém.
Trong kĩ thuật điện tử chỉ sử dụng một số chất bán dẫn có cấu trúc đơn 
tinh thể, quan trọng nhất là hai nguyên tố  Germani (Ge) và Silic (Si) thuộc 
nhóm 4 trong bảng tuần hoàn. Thông thường Ge và Si được dùng làm chất 
chính còn các chất như Bo, Indi (nhóm 3), photpho, Asen (nhóm 5) làm tạp chất  
cho các vật liệu bán dẫn chính. Đặc điểm cấu trúc mạng tinh thể  này là độ 
dẫn điện của nó rất nhỏ khi ở nhiệt độ thấp và nó sẽ tăng theo lũy thừa với sự 
tăng của nhiệt độ  và tăng gấp bội khi có trộn thêm tạp chất. Si và Ge có tính 
chất chung trong cấu tạo nguyên tử  của chúng là có 4 electron hóa trị   ở  trên 
phân lớp ngoài. Giữa các nguyên tử  Si (Ge) có sự  liên kết đồng hóa trị, mỗi  
nguyên tử liên kết với 4 nguyên tử xung quanh bằng cách trao đổi electron của 

Các nghiên cứu cơ bản việc pha trộn giữa Si và Ge nhằm tạo ra các tinh thể 
nano có các tính chất vật lý phù hợp với định hướng  ứng dụng làm tăng hiệu  
suất quang điện tử là cần thiết [8, 20, 22, 23, 24]. Với yêu cầu như trên, chúng 
tôi thực hiện đề  tài: “Nghiên cứu chế  tạo và tính chất vật lý của vật liệu  
nano tinh thể SixGe1­x trên nền SiO2”.
Luận văn được tiến hành dựa trên các phương pháp thực nghiệm sẵn có tại cơ 
sở nghiên cứu, bao gồm:
* Chế tạo vật liệu nano tinh thể SixGe1­x với các thành phần Si và Ge khác nhau 
trên nền vật liệu SiO2 bằng phương pháp phún xạ catot.
* Các phương pháp nghiêu cứu tính chất vật lý của vật liệu nano tinh thể 
SixGe1­x gồm nhiễu xạ kế tia X (XRD), hiển vi điện tư truyền qua (TEM), Hiển  
vi điện tử quét (SEM), quang phổ kế Raman, hệ hấp thụ quang học.

12


Để thực hiện đề tài chúng tôi đã chia đề tài thành những phần sau:
 Chương 1. Tổng quan về Si, Ge: Giới thiệu chung về cấu tạo, tính chất của  
Si, Ge, SiO2 và SixGe1­x.
Chương 2. Thực nghiệm: Trình bày ưu điểm cơ chế, quy trình của công nghệ 
phún xạ, các kĩ thuật thực nghiệm để khảo sát cấu trúc, hình thái và tính chất  
vật lý của vật liệu như nhiễu xạ kế tia X, hiển vi điện tử quét (SEM), hiển vi 
điện tử truyền qua (TEM), hệ quang phổ kế hấp thụ dải nhìn thấy và cực tím  
(UV­VIS).
Chương 3. Kết quả  và thảo luận: Trình bày một số  kết quả  đạt được trong 
phân tích cấu trúc của vật liệu trên cơ sở các phép đo  nhiễu xạ tia X, hiển vi 
điện tử quet SEM và các k
́
ết quả về phép đo phổ hấp thụ
Kết quả thu được:

Cấu trúc vùng năng lượng của bán dẫn quyết định trực tiếp đến tính  

chất phát quang của bán dẫn, vì vậy việc tìm hiểu cấu trúc năng lượng của nó 
là cần thiết.  Ở nhiệt độ  thấp, bán dẫn là những chất có phổ  năng lượng gồm 
các vùng cho phép điền đầy hoàn toàn và các vùng trống hoàn toàn. Trong đó 
vùng trống hoàn toàn thấp nhất là vùng dẫn, mức năng lượng cực tiểu của 
vùng dẫn gọi là đáy vùng dẫn, kí hiệu EC. Vùng điền đầy cao nhất là vùng hóa 
trị gọi là đỉnh vùng hóa trị, kí hiệu EV. Khoảng cách năng lượng Eg = EC ­ EV gọi 
là bề rộng vùng cấm. Trạng thái điện tử  trong các vùng năng lượng cho phép 
được đặc trưng bởi năng lượng và vectơ sóng. Tại lân cận các điểm cực trị, sự 
phụ  thuộc giữa năng lượng  E  và vectơ  sóng   trong các vùng năng lượng cho  
phép rất phức tạp. Lân cận các điểm cực trị  này sự  phụ  thuộc  E() có thế xem 
gần đúng có dạng một hàm bậc hai, tương ứng như sau [2, 4, 8]:
Đối với điện tử:    (1.1)
Đối với lỗ trống:   (1.2)
Trong trường hợp tổng quát khối lượng hiệu dụng của điện tử m*e và lỗ 
trống m*p là những đại lượng tenxơ phụ thuộc vào hướng trong tinh thể.
Dựa vào cấu trúc của vùng cấm, người ta chia bán dẫn ra làm 2 loại  
khác nhau:
+ Bán dẫn có đỉnh của vùng hóa trị  và đáy vùng dẫn có cùng một vectơ  sóng  
gọi là vùng cấm thẳng. Sự chuyển mức mức năng lượng trong cùng một vectơ 
sóng gọi là chuyển mức thẳng.

14


+ Bán dẫn có đỉnh của vùng hóa trị và đáy vùng dẫn không cùng một vectơ sóng 
gọi là bán dẫn vùng cấm xiên. Sự chuyển mức xảy ra giữa hai mức năng lượng  
này trong bán dẫn này gọi là chuyển mức xiên [2, 9].
1.1.2. Các quá trình phát quang xảy ra trong vật liệu bán dẫn

Thời gian hồi phục của điện tử  và lỗ  trống về  đáy vùng dẫn và đỉnh 
vùng hóa trị tương ứng là 10­14 đến 10­12 giây. Sau thời gian hồi phục, điện tử và 
lỗ trống đã ở điểm cực trị của các vùng năng lượng, sau đó xảy ra quá trình tái  
hợp giữa điện tử  và lỗ  trống. Quá trình tái hợp vùng – vùng của chuyển mức  
thẳng xảy ra tuân theo định luật bảo toàn năng lượng và bảo toàn xung lượng.
 

1.3
1.4

Ở đây EC là năng lượng cực tiểu của vùng dẫn, EV là năng lượng cực đại của 
vùng hóa trị    là vectơ  sóng của điện tử  và lỗ  trống [2, 9]. Mô hình tái hợp 
chuyển mức thẳng mô tả như hình 1.1

1.1.2.2. Tái hợp chuyển mức xiên
Trong bán dẫn này nếu đáy vùng dẫn và đỉnh vùng hóa trị  không nằm 
trên một vectơ sóng thì chuyển mức trong bán dẫn là chuyển mức vùng – vùng 
không thẳng gọi là chuyển mức xiên. Quá trình chuyển mức này luôn kèm theo  
sự hấp thụ hoặc bức xạ phonon [9]
1.5
1.6

16


Trong đó Ep là năng lượng của phonon,  là vectơ  sóng của phonon. Trong quá 
trình hấp thụ  cơ  bản chuyển mức xiên có sự  tham gia của ba hạt (điện tử,  
photon, phonon).   Giải thích quá trình chuyển mức xiên thành hai giai đoạn 
“Hình 1.2”. trong giai đoạn thứ nhất, điện tử từ vùng hóa trị hấp thụ photon và  
chuyển lên mức thẳng lên một trạng thái giả  định, thời gian sống của trạng  


28,1

Cấu hình điện tử

(1s2 )( 2s2 )(2p6 )(3s2 )(3p2)
Kiểu kim cương (Lập phương tâm 

Cấu trúc tinh thể

mặt)

Trọng lượng riêng

2,3283 g/cm3

Hằng số điện môi

12

Số nguyên tử/cm3

5,0.1022

18


Năng lượng vùng cấm ở 0 K và 300K

1,17 eV ; 1,12 eV

thể), nhưng trong tinh thể  Si chỉ  có 2N điện tử  chính vì vậy Si thể  hiện tính  
dẫn điện của kim loại. [2, 9, 10]
Trong thực tế Si là chất bán dẫn điển hình, nguyên nhân là do khi hình  
thành tinh thể mức p và mức s trong nguyên tử  tự  do kết hợp với nhau và tạo 
thành hai vùng cho phép ngăn cách nhau bởi một vùng cấm. Vùng phía dưới 
chứa được 4N điện tử và điền đầy hoàn toàn, tạo nên vùng hóa trị của tinh thể.  
Vùng phía trên cũng chứa được 4N điện tử nhưng trống hoàn toàn và trở thành  
vùng dẫn. Trong vùng hóa trị  của Si có các vùng con chồng lên nhau, các vùng 
con được gọi là nhánh năng lượng. 
Cực đại của nhánh thứ  nhất và nhánh thứ  hai trùng nhau và nằm ở  tâm 
vùng Brillouin, cực đại của nhánh thứ  3 cũng  ở  tâm vùng Brillouin nhưng hạ 
thấp xuống một khoảng ΔES= 0,035 eV do tương tác spin­ quỹ đạo. Một điểm 
quan trọng của vùng dẫn là theo hướng tinh thể [100] nhánh năng lượng đánh 
số 2 có một cực tiểu tuyệt đối nằm gọn trong vùng Brillouin. Do tính đối xứng 
của tinh thể  nên có tất cả  6 cực tiểu như  thế  trong vùng Brillouin thứ  nhất  
[10].

20


Hình 1.: Các nhánh năng lượng theo các phương [111], [100] và [110] [2, 9, 10] 

Đối với Si, cực đại vùng hóa trị  và cực tiểu vùng dẫn không cùng nằm  
trên một điểm của vùng Brillouin, nên Si có vùng cấm xiên. Bề rộng vùng cấm  
của Si phụ thuộc vào nhiệt độ và được biểu diễn gần đúng theo biểu thức. [9]

1.7
Ở 300K độ rộng vùng cấm của Si là Eg = 1,12 eV.
Do có độ rộng vùng cấm tương đối hẹp và có vùng cấm xiên nên Si tinh 
thể  khối có hiệu suất phát quang kém ~ 10­6 [11]. Do vậy, việc cải thiện khả 



công nghệ chế tạo linh kiện và mạch vi điện tử. Silic không phông phải vật 
liệu quang điện tử  nhưng người ta đang nghiên cứu Silic có cấu trúc nano 
và những lớp SixGe1­x nuôi trên đế  Silic để  ứng dụng vào quang điện tử  và 
những lĩnh vực khác.
Silic có cấu trúc nano bao gồm Si­nano­tinh thể, dây lượng tử, chấm 
lượng tử và Silic xốp (porous silic). Trong các cấu trúc nano, hiệu ứng nhốt 
lượng tử  thường đưa đến hiện tượng tăng cường hiệu suất phát xạ  và sự 
dịch chuyển về phía năng lượng cao của đỉnh phát xạ, sự  dịch chuyển này  
phụ thuộc vào kích thước cấu trúc nano.
1.3. Giới thiệu về vật liệu Ge
1.3.1 Vật liệu Germani tinh thể khối
Germani (Ge) là nguyên tố  thuộc nhóm 4 của bảng tuần hoàn. Những  
tính chất hóa học của Ge đã được Mendeleev tiên đoán từ năm 1771. Ge là một 
nguyên tố màu trắng ánh xám, cứng có nước bóng kim loại và cấu trúc tinh thể 
tương tự  như kim cương. Ngoài ra, một điều quan trọng cần lưu ý là Ge là  
chất bán dẫn, với các tính chất điện nằm giữa các  kim loại và các chất cách 
điện.  Ở  trạng thái nguyên chất, á kim này là chất kết tinh, giòn và duy trì độ 
bóng trong không khí ở nhiệt độ  phòng. Các kỹ thuật tinh chế khu vực  đã dẫn 
tới việc sản xuất Ge kết tinh cho ngành công nghiệp bán dẫn với hàm lượng 
tạp chất chỉ ở cấp độ 10−10. Cùng với gali, bitmut, antimoan và nước, nó là một 
trong các chất giãn nở ra khi đóng băng. Dạng ôxít, đioxít Ge, cũng có tính chất  
bất thường như có chiết suất cao đối với ánh sáng nhìn thấy, nhưng lại là trong 
suốt với ánh sáng hồng ngoại. [1, 2]
Bảng 1.: Các thông số vật lý của vật liệu Ge. [1, 2, 4, 9]

22




938 oC

Số nguyên tử/cm3

4,4.1022

Năng lượng vùng cấm(00K – EG0 – eV) 0,785
Năng lượng vùng cấm ở 3000K (eV)
Nồng   độ   hạt   dẫn   điện   tử   ở   3000K  
3

(cm )
Hẳng số mạng ở 300K

0,72
2,5.1013
5,66Å

23


1.3.2. Cấu trúc vùng năng lượng và tính chất quang của Germani tinh thể 
khối
Về  mặt cấu tạo Ge cũng giống như  Si thuộc phân nhóm 4 có cấu trúc 
vỏ   ngoài   cùng   là   (1s2)(2s2)(2p6)(3s2)(3p6)(3d10)(4s2)(4p2).   Như   vậy   lớp   ngoài 
cùng chưa điền đầy. Tinh thể  Ge cũng thuộc loại tinh thể  kim cương. Sơ  đồ 
mạng tinh thể của nó được biểu diễn trên hình vẽ. Ở mỗi nút mạng có lõi ion  
mang điện tích +4 và 4 electron hóa trị gắn với nó. Những electron này cùng với  
các electron của 4 nguyên tử gần nhất tạo thành các mối liên kết bền vững. [4]

gần đúng bằng công thức . Ở 300K ta có  Eg(Ge)=0,66 eV. 
 

Điều này cần lưu ý khi tính mật độ  trạng thái trong vùng dẫn. Cấu trúc 

vùng năng lượng Ge cũng thuộc loại vùng cấm xiên, bề  rộng vùng cấm Ge  ở 
0K là 0,69 eV, ở 300 K là 0,66 eV.
Như vậy dựa vào cấu trúc vùng năng lượng của Si và Ge, ta thấy khi ở 
300K bề rộng vùng cấm  Eg(Si)=1,12eV và của  Eg(Ge)= 0,66 eV. [2, 9]

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status