BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-----------------
NGUYỄN THỊ NHƯ UYÊN
KHẢO SÁT
NGUỒN TRUYỆN DÂN GIAN
KHMER NAM BỘ
Chuyên ngành VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học
TS HỒ QUỐC HÙNG
Thành Phố Hồ Chí Minh – 2006
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài – mục tiêu nghiên cứu
Với dân số khoảng một triệu người, dân tộc Khmer là bộ phận tộc người chiếm một tỉ
lệ khá lớn trong cơ cấu dân cư ở Nam Bộ nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng.
Xét về mặt lòch sử, qua quá trình cộng cư với các dân tộc khác, tuy có tiếp thu những yếu tố
văn hóa của những dân tộc anh em, chủ yếu là người Việt, họ vẫn giữ được bản sắc văn hóa
đã đònh hình từ rất sớm của mình mà trong đó kho tàng truyện cổ góp vai trò quan trọng tạo
nên sắc thái văn hóa riêng biệt của tộc người.
Điều đáng chú ý nữa là từ nhiều thế kỷ qua, Phật giáo Tiểu thừa đã trở thành tập
trình hình thành lòch sử, sự phân bố dân cư, sự tích hợp giữa các truyền thống tín ngưỡng, tập
tục lâu đời, kho tàng văn học dân gian... làm nên một vùng văn hóa Nam Bộ. Vùng văn hóa
đó thống nhất trong cái chung của quốc gia - dân tộc và đa dạng bởi cái riêng của tộc người.
Từ văn hóa vùng đó ta thấy sự tham gia của các yếu tố và đặc điểm của văn hóa đòa phương
và tộc người.
Riêng về tộc người Khmer, các tài liệu đã cung cấp những kiến thức về đòa lý môi
sinh, lược sử hình thành cộng đồng, loại hình cư trú … và đời sống tinh thần, truyền thống
văn hóa của họ. Tại Nam Bộ, việc tụ cư của người Khmer được Nguyễn Khắc Cảnh, trong
bài viết “Sự hình thành cộng đồng người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long” [66, tr.
218], tái hiện đầy đủ hành trình các cuộc di dân từ thời phát triển rực rỡ đến lúc khủng
hoảng của đế chế Angkor (thế kỷX XV). Qua đó, ta có cơ sở để xác đònh nguồn gốc của
những câu chuyện truyền miệng có liên quan đến sự kiện di dân này. Thí dụ: Tại sao gọi là
chùa Vua (ở Mỹ Xuyên – Sóc Trăng), Sóc thuyền vỡ (ở Mỹ Tú – Sóc Trăng), đòa danh Bạc
Liêu…?
Trong số các công trình trên, đặc biệt chú ý là công trình Người Khmer Cửu Long của
tập thể tác giả Huỳnh Ngọc Trảng, Văn Xuân Chí, Hoàng Túc, Đặng Vũ Thò Thảo, Phan
Thò Yến Tuyết [71]. Công trình này có 4 chương trong đó chương 3 là chương “Văn học và
nghệ thuật của người Khmer tỉnh Cửu Long”. Đây là chương cần thiết cho việc khảo sát
nhưng vì yêu cầu chính có tính chất đònh hướng cho nội dung của tập sách là nêu bật truyền
thống đoàn kết Việt – Khmer nên chương này ít nhiều chỉ đề cập đến truyện kể dân gian
Khmer với quá trình phát triển lâu dài góp phần tạo nên bản sắc thẩm mỹ riêng của tộc
người. Nhìn chung, công trình này cho ta thấy thiết chế xã hội Khmer truyền thống được xác
lập từ tập quán văn hóa dân tộc cộng với đònh chế Phật giáo Tiểu thừa. Cạnh đó, đối với
người Khmer, hấp dẫn hơn cả là khối văn vần (Kâmnap = vần và thơ). Nó ngự ngay trong
lòng cuộc sống Khmer và là hình thức thể hiện của rất nhiều thể loại văn nói có liên quan
đến các trường hợp cảm xúc hay ứng xử khác nhau trong sinh hoạt hằng ngày của người
dân. Sự “rộng đường” như vậy đã làm cho tỉ lệ văn vần (tục ngữ, ca dao, dân ca…) chiếm số
lượng nhiều và được xem xét, phân tích kỹ lưỡng trong chương 3 hơn là lý giải các vấn đề
Đó là những truyện có giá trò nhất đònh để có thể từ đó mà sắp xếp lại một số truyện đòa
danh theo đúng thể loại hơn.
Có thể dễ dàng thấy rằng các tư liệu trên đây đã thực sự chú ý đến bộ phận tự sự dân
gian Khmer như truyền thuyết lòch sử, truyện cổ tích, truyện cười và truyện ngụ ngôn. Vè,
tục ngữ và câu đố thuộc nhóm thể loại văn vần tự sự cũng hiện diện. Cách nhìn này đã bắt
đầu chú ý cơ cấu chung về mặt thể loại và chúng tôi cho rằng ít nhiều cách nhìn này cũng
gợi lên được đôi điều về cá tính của loại hình tự sự dân gian.
2.3.2. Nhóm các công trình sưu tầm về truyện dân gian Khmer Nam Bộ
Như đã nêu trên, có một số công trình đã đề cập đến lónh vực hẹp – truyện dân gian
và trong số đó, những công trình liên quan trực tiếp đến đề tài mà chúng tôi quan tâm là Thơ
Mênh Chây, Chàng Cuội, Chàng Cu do Lan Đình sưu tầm [11], Trạng Đông Nam Á của
Trương Só Hùng, Nguyễn Đức Hiền, Đào Văn Tiến [23] . Song đáng chú ý hơn cả là các tập
Truyện dân gian Khmer Nam Bộ [60], Truyện cổ Khmer Nam Bộ [58], Truyện dân gian
Khmer [59] do Huỳnh Ngọc Trảng sưu tầm và biên soạn. Có thể nói đây là các công trình có
giá trò khoa học, đề cập trực tiếp đến từng thể loại truyện dân gian Khmer Nam Bộ.
Tuy nhiên, như đã nói trên, căn cứ vào các nguồn tư liệu, việc nghiên cứu một cách
toàn diện và cụ thể về nguồn truyện của tộc người này thì chưa có công trình nào thực hiện.
Ngay cả Lê Trung Vũ trong “Mấy ý kiến về văn học dân gian Khmer Nam Bộ” (Tạp chí
Văn Nghệ dân gian 8 -1978) đã chỉ ra bối cảnh của nền văn hóa truyền thống tạo điều kiện
cho nguồn văn học dân gian biểu hiện sức mạnh “bằng tính đa dạng và sự có mặt đầy đủ
thể loại” nhưng sau khi liệt kê ra các thể loại, tác giả chỉ đi sâu vào phân tích, trình bày sự
phát triển về thể tài, đề tài của dân ca Khmer. Đối với nguồn truyện dân gian thì tác giả chỉ
tìm hiểu về các dạng tồn tại vật chất của văn bản (trên lá thốt nốt, trên mặt gối, trong nghệ
thuật tạo hình), hình thức diễn xướng (trong lao động, nghi lễ…). Trong lúc đó thi pháp thể
loại lại không được chú trọng nghiên cứu.
Theo chúng tôi, đáng lưu ý hơn cả là bài “Vài nét về truyện cổ Khmer Nam Bộ” của
Huỳnh Ngọc Trảng đăng trong Văn Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh số 165 (20.03.1981). Ở
đây, tác giả chú trọng cách phân loại và đã phân biệt rất cụ thể các loại truyện: truyện về
trên các cấp độ khác nhau.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Trước hết, luận văn tập trung khảo sát các hệ thống thể loại truyện dân gian
Khmer. Do đó, chúng tôi đặc biệt chú trọng đến nguồn tài liệu về truyện dân gian Khmer
được công bố từ trước đến nay từ nguồn trung ương đến nguồn ở đòa phương. Với những
truyện sưu tầm, tuyển chọn và dòch trong thời gian thực hiện đề tài, chúng tôi sẽ khảo sát và
đối chiếu với tư liệu sẵn có. Song đối với người Khmer, bởi các hình thức văn vần được ưa
chuộng và sử dụng rộng rãi trong cuộc sống cho nên khi xác đònh đối tượng nghiên cứu là
nguồn truyện dân gian, chúng tôi chủ yếu khai thác các văn bản truyện mà chưa có điều
kiện so sánh, tham khảo thêm hình thức diễn đạt của nó bằng văn vần.
4.2. Chúng tôi chọn khu vực nghiên cứu là đòa bàn cư trú của người Khmer ở miền Tây
Nam Bộ và để tìm điểm tham chiếu cụ thể từ một đòa bàn tiêu biểu cho không gian văn hóa
của người Khmer Nam Bộ nên với đòa bàn rộng lớn này chúng tôi tập trung đi sâu vào một
điểm _ tỉnh Trà Vinh. Tỉnh lỵ này là một vùng tụ cư lớn và ổn đònh khá sớm của người
Khmer Nam Bộ, khá đặc trưng về mặt văn hóa so với các cộng đồng Khmer ở đòa bàn khác.
Như vậy, trên thực tế, đề tài này chỉ đi sâu khảo sát truyện dân gian của một đòa bàn cư dân
Khmer tiêu biểu. Chúng tôi cho rằng có thể từ đấy hình dung thêm được những tổ chức, cơ
cấu văn hóa đồng dạng chung của người Khmer ở Nam Bộ.
4.3. Về các bản dòch, chúng tôi tôn trọng những tên riêng tiếng Khmer (ở đầu đề cũng
như trong nội dung truyện) và chấp nhận những bản dòch có vài chỗ “thoát nghóa” do có
nhiều từ cổ không thể chuyển ngữ được trong quá trình dòch thuật.
Các Phật thoại, tích truyện về Đức Phật hay có liên quan đến đạo Phật, ít nhiều mang
ý nghóa hoằng giáo cũng sẽ được lưu ý trong quá trình khảo sát.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp điều tra xã hội học khách quan
Trong quá trình làm luận văn, chúng tôi đã thực hiện những chuyến điền dã, thực đòa.
Chúng tôi tập trung khai thác khía cạnh sở trường của các đối tượng như: dân thường, cư só,
trí thức … người Khmer bằng cách phỏng vấn, quan sát, tham dự.
- Chương 1: Một số đặc điểm về văn hóa của người Khmer Nam Bộ.
- Chương 2: Tình hình tư liệu.
- Chương 3: Khảo sát nguồn truyện dân gian Khmer Nam Bộ.
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI KHMER
NAM BỘ
Từ xưa, các dân tộc Việt, Hoa, Chàm, Khmer đã cùng cư trú bên nhau, khai thác đất
đai, xây dựng cộng đồng … và phát triển bản sắc văn hóa của dân tộc mình trên vùng đất
Nam Bộ. Đây là vùng đất có vò trí đòa lý đặc biệt quan trọng được xem là đầu cầu, cửa ngõ
của Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, của lục đòa và hải đảo nên rất sớm trở thành đòa bàn
sinh tụ của các tộc người này trong lòch sử.
Chúng ta biết rằng bên cạnh khối cộng đồng người Việt đông đảo, đến cư trú muộn ở
các vùng Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Tri Tôn, đồng bào Khmer vốn được xem là cư dân
bản đòa sinh tụ từ lâu đời. Người Khmer quần tụ trong các phum – sóc được thiết lập trên
các giồng đất cao, bao quanh các ngôi chùa Phật giáo Tiểu thừa giữa những hàng cây sao
cao vút. Tộc người này đã có một bề dày lòch sử văn hóa, tổ chức xã hội và chữ viết Pali lâu
đời, ảnh hưởng sâu sắc từ nền văn hóa Ấn Độ. Từ thế giới quan còn mang đậm màu sắc
Phật giáo Tiểu thừa vàø tư duy lưỡng nguyên, người Khmer đã tạo nên một truyền thống văn
hóa phong phú. Những kiến trúc đền chùa nguy nga thể hiện các môtip Reahu, tượng tròn,
tượng 4 mặt, chim thần, rắn thần, các dạng thức phù điêu của người Khmer mang cá tính và
phong cách riêng. Ngoài ra, người Khmer còn sáng tạo ra nhiều loại hình ca vũ, điệu hát,
kòch múa, kòch hát độc đáo. Tất cả các dạng thức văn hóa trên vẫn còn hiện tồn đến ngày
nay như một bằng chứng sống động.
Trong số văn hóa vật thể và phi vật thể đó, đáng lưu ý là các văn bản cổ trên lá thốt
nốt còn tàng trữ ở các chùa Khmer và việc lưu truyền hệ thống truyện dân gian nổi tiếng
như hệ truyện Thmênh-Chây, hệ truyện châm biếm xoay quanh nhân vật Alêu, nhân vật
Thỏ… Chúng mãi mãi được lưu giữ trong tâm thức của những người con Khmer dù ở bất cứ
rõ tính cách dân tộc và đặc điểm kinh tế xã hội của người Khmer: nhà trên có chức năng tín
ngưỡng và giao tiếp với bên ngoài, nhà kho chứa dụng cụ canh tác, hai bên là nơi ngủ của
đàn ông và phía sau là buồng của phụ nữ. Về mặt này ta thấy có những tương đồng với
người Việt. Sau này, với các cấu trúc nhà hiện đại, việc bài trí vẫn không thay đổi nhiều.
Cách phục sức của tộc người này mang sắc thái cư dân nông nghiệp vừa phù hợp với
phong tục, tập quán lâu đời vừa gần với người Việt trong sinh hoạt. Đàn ông mặc quần cộc,
áo bà ba đen (hay ở trần) và quần âu, áo sơ-mi. Phụ nữ thì mặc bộ bà ba đen, búi tóc hay
quấn khăn rằn. Ngày nay, bên cạnh trang phục truyền thống, nam nữ thanh niên còn mặc âu
phục (sơ-mi và quần tây) như quần áo của thanh niên Việt. Trang phục truyền thống thuần
túy chỉ còn xuất hiện dòp lễ hội hay trên sân khấu Zukê và ở những người lớn tuổi như áo
srây (áo dài cổ truyền) màu đen mặc với quần đen và chiếc khăn trắng quấn cổ. Sà rông
thảng hoặc vẫn thấy xuất hiện trong phum sóc.
Lương thực chính là gạo vì một điều dễ hiểu: người Khmer là cư dân nông nghiệp chủ
yếu trồng lúa nước. Từ gạo họ chế biến thành cơm, cháo, xôi và xay thành bột làm bánh. Cơ
cấu bữa ăn hằng ngày là cơm – rau – cá – tép – thòt – mắm. Trong đó không thể không nói
đến món ăn đặc trưng dân tộc Khmer là: mắm prahóc (còn gọi là bồ hóc) và bún nước lèo.
Mắm prahóc là loại mắm ngon mà người Khmer rất ưa chuộng, được làm bằng cá linh, tép
và cơm nguội. Tất cả trộn với nước muối và được nén chặt trong một cái khạp đậy kín đem
phơi nắng từ 3 tháng trở lên. Mắm này càng giữ lâu càng ăn ngon. Nó dùng để nêm trong
các món canh, nhất là nêm vào nước lèo của món bún nước lèo.
Với kỹ thuật làm rất khéo tay, người Khmer có thể chế biến hàng chục loại bánh từ
các nguyên liệu như: bột gạo, bột nếp, đậu, đường, dừa… thành bánh tét (chrut), bánh dừa
(xòm), bánh ú tro (kropong)… Một món cũng rất quen thuộc với người Khmer, là cốm dẹp.
Đó là vật phẩm dùng để cúng trong lễ Thvai Pres khe (lễ cúng trăng), một trong những lễ
hội truyền thống của người Khmer. Ngoài mục đích và ý nghóa là thể hiện tấm lòng biết ơn
của con người đối với hiện tượng tự nhiên sau mỗi vụ mùa, theo truyền thuyết, lễ cúng trăng
của đồng bào Khmer xuất phát từ câu truyện Sự tích hình thỏ trên mặt trăng, một sự tích kể
vò hành chính. Đứng đầu phum là Mêphum
(6)
. Nhân vật quan trọng, được người dân công
nhận và kính trọng trong phum là A-Cha, người trở về nhà sau khi tu lâu năm ở chùa, rất
thạo kinh kệ, am hiểu các nghi thức thờ cúng. Họ làm trung gian giữa tín đồ và thần thánh,
giữa sư sãi và dân cư trong khu vực.
Giúp đỡ nhau là tập quán của người Khmer qua những công việc như: làm nhà, cày
cấy, gặt hái, cưới xin, tang lễ … Họ thể hiện sự mến khách, dù thân hay sơ, với cách đối đãi
tử tế, chu đáo. Phong tục tốt đẹp, mà ngày nay còn lưu ở vài nơi, là việc dựng một ngôi nhà
khách ở bìa làng để khách lỡ đường có chỗ trú qua đêm và các nhà người Khmer ở ven
đường cái thường đặt một thùng nước để người qua lại uống khi khát. Cách chào hỏi cũng
rất đặc thù, giống người Thái và người Lào, người Khmer ít khi bắt tay mà chắp hai tay
là mẹ
trướ(6)
c Mê
ngựcóc nghóa
để chà
o., trưở
Trôngng rất lòch sự và chân tình!
Quan hệ xã hội thì thế, còn trong gia đình? Một gia đình thường có bố mẹ và con chưa
đến tuổi thành hôn. Con trai hay con gái đều được quý như nhau, không có tình trạng trọng
nam khinh nữ cho nên phân công lao động cũng bình đẳng giữa hai vợ chồng như gặt lúa,
cấy lúa, dọn dẹp, lấy nước...
Đối với dân tộc Khmer, các lễ hội và phong tục tập quán thường gắn kết vào nhau,
gắn với sinh hoạt hàng ngày, với tín ngưỡng dân gian, với nghi thức của Bà la môn giáo và
của Phật giáo Tiểu thừa. Chúng tôi có thể liệt kê ra đây một số lễ hội truyền thống của
Chi tiết: vào buổi chiều ngày thứ 3, khi cô dâu vào phòng riêng của mình, chú rể cầm dải
khăn quàng của vợ đi đằng sau cũng gắn liền với truyền thuyết: vua Preah Thông (Ấn Độ)
yêu công chúa Neak (Khmer), con của rắn thần Na-ga. Công chúa muốn đưa Preah Thông
giới thiệu với vua cha, Preah Thông phải bám vào dải khăn của công chúa để xuống được
dưới lòng đất. Bản nhạc cưới Preah Thông có mặt cũng từ tục lệ này.
Tổ chức xã hội của người Khmer là một tổ chức xã hội Phật giáo. “Theo tục lệ bất cứ
người con trai nào cũng phải vào chùa tu một thời gian, ít nhất là một tháng, hoặc tu đến
suốt đời. Việc tu học ở chùa giỏi hay dở, lâu hay mau có quan hệ đến phẩm giá và đòa vò xã
hội của người ấy. Người không vào chùa sẽ bò mọi người khinh thường; ngược lại, người tu
lâu thì được trọng vọng, kính nể” (8). Việc đi tu là một tập tục, một sắc thái văn hóa lâu đời.
Trước hết, tu là để trả ơn sinh thành nuôi dưỡng của cha mẹ, sau là để hấp thụ kinh sách
Phật giáo, văn chương, ngôn ngữ, văn hóa, phong tục của dân tộc. Tu cũng là một điều kiện
để chàng trai lọt vào mắt xanh của một cô gái Khmer!
Thử tưởng tượng xem: qua hàng dừa và vườn cây xanh mượt, nhô lên một nóc chùa
tháp màu sắc rực rỡ và kiến trúc thanh thoát. “Kon-lênh-na-mean Khmer, Kon-lênh-nưngmean-Wuat” (Nơi nào có người Khmer, nơi đó có chùa). Người Khmer xem ngôi chùa là nơi
thiêng liêng nhất và dành phần lớn của cải cúng vào việc xây dựng và trùng tu ngôi chùa
nơi họ sinh sống. Ngôi chùa vốn trở thành trung tâm giáo dục của tất cả cộng đồng Khmer ở
các phum, sóc. Một hiện tượng rất phổ biến là nhà cửa của nhiều gia đình ở các phum, sóc
Khmer tuy vẫn còn đơn sơ, tạm bợ nhưng ở giữa lại mọc lên một ngôi chùa khang trang,
lộng lẫy. Chánh điện để thờ Phật và tiến hành các nghi lễ tôn giáo. Xung quanh chùa là sân
để tổ chức lễ hội, văn nghệ, thể thao, có hội trường để hội họp, tònh xá, thư viện, trường
học. Tất cả cho thấy về mặt cấu trúc, bố trí, tổ chức, chùa Khmer là một tổng thể hài hòa
phù hợp với sinh hoạt cả đạo và đời. Có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của Phật
giáo Tiểu thừa đối với người Khmer, trong phạm vi đề tài này, chúng tôi muốn nhấn mạnh
rằng: ngôi chùa chi phối mạnh mẽ đời sống của nhân dân và tạo nên những đường nét cơ
bản trong nền văn hóa của người Khmer.
Theo đạo Phật, người Khmer chỉ cúng bái ở chùa. Ngày giỗ, ngày Tết họ đều đến
chùa cúng. Cúng ở nhà thì họ có một bàn thờ nhỏ với mái che đặt trên một cây cột ở sân
mâu thuẫn giai cấp, những quan hệ xã hội của dân tộc Khmer. Đồng thời nó cũng là tiếng
nói của tình yêu nam nữ trong sáng, tình người mộc mạc, chân thật, đẹp đẽ của nhân dân.
Sự tồn tại của truyện dân gian Khmer cũng mang những tính chất chung như các nền
văn học dân gian của các dân tộc khác. Đó là sự lưu truyền bằng miệng trong quần chúng
mà chủ yếu là các Acha, Mêphum, người già, sư sãi … Mặt khác, nguồn truyện còn được lưu
truyền dưới hình thức là những Phật thoại của các nghi lễ, tín ngưỡng. Một điều đáng chú ý
là kho truyện được ghi chép lại bằng chữ Khmer trên lá thốt nốt. Những thư tòch này thường
được lưu giữ ở các chùa chiền Khmer. Chính nhờ những hình thức lưu truyền ấy mà truyện
dân gian Khmer cho đến ngày nay vẫn còn phong phú. Ngoài sự phong phú về nội dung, nó
còn rất đa dạng về các thể loại. Mảng tự sự dân gian này của dân tộc Khmer bao gồm đầy
đủ các thể loại truyện: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện ngụ ngôn và truyện cười.
Như các dân tộc khác, mỗi khúc sông, ngọn núi, mỗi hiện tượng thiên nhiên hay sự
vật đều có sự tích (Bãi Xàu; Mưa-Gió-Mặt trời-Mặt trăng, Ao Bà Om, …). Đặc biệt, truyện
về quan tòa Thỏ của người Khmer rất nổi tiếng. Thỏ trở thành một quan tòa thông minh,
sáng suốt, xử kiện cho cả người, bênh vực kẻ yếu, chống lại kẻ mạnh như hổ, cá sấu. Được
biết, ở Campuchia, dấu hiệu của các tòa án ngày xưa đều dùng biểu tượng con thỏ.
Người ta nhận thấy người Khmer có một cái “gu” tự nhiên, mang dấu ấn rõ ràng, bay
bướm trong thơ ca và những cuộc đối thoại phóng tác rất nhạy bén, tài tình. Không những
thế, họ còn thừa hưởng tính hài hước, châm biếm sâu cay của Thmênh Chây (tương tự nhân
vật Trạng Quỳnh của Việt Nam và Xiêng Miêng của Lào). Những mẩu chuyện về Thmênh
Chây rất nhiều, mỗi thời lại thêm thắt vài chi tiết làm cho nhân vật này sống mãi trong
truyện kể dân gian Khmer và dường như cũng góp phần tạo nên tính cách Khmer đậm nét .
1.1.2.3. Các loại hình nghệ thuật dân gian khác
Nhờ lòch sử giao lưu và tiếp biến với văn hóa Ấn Độ, Chăm Bà la môn, Việt, Hoa …
với bối cảnh tương đồng Phật giáo Tiểu thừa Đông Nam Á, kho tàng văn hóa dân gian của
người Khmer Nam Bộ rất phong phú và đặc sắc, bao chứa nhiều nét riêng. Ngoài những
truyện kể, phong tục tập quán còn phải kể đến những điệu múa Zukê, sân khấu Rôbam,
Khmer cư trú là vùng đồng bằng sông Cửu Long và xem đây là điều kiện quan trọng tác
động một cách sâu sắc đến quá trình giao lưu văn hóa tộc người.
Đầu tiên là sự giao lưu về sinh hoạt kinh tế và văn hóa vật chất. Với hình thái kinh tế
nông nghiệp lúa nước, người Khmer tìm ra hàng trăm giống lúa cổ truyền chòu phèn mặn
còn người Việt thì đào kênh, xẻ mương, tháo cạn đầm lầy, người Hoa buôn bán, trao đổi,
làm nghề thủ công và người Chăm thì dệt lụa, dệt vải…
Chệc bán đậu hũ cùng tương
Con Mên bán rế, bán đường cà om
(Vè Thất Sơn)
Sự giao lưu còn đi vào phong tục tập quán và văn hóa tinh thần của các tộc người như
loại hình nhà sàn, tập tục mai táng, việc ăn 2 cái Tết lớn (Tết Nguyên Đán và Tết Chôl
Chnam Thmây) của 3 tộc người…
Quan trọng nhất là hiện tượng song ngữ và tam ngữ trong cư dân Nam Bộ. Người
Khmer, Hoa, Việt nghe – nói được tiếng của nhau và chuyển từ ngôn ngữ này sang ngôn
ngữ kia một cách tự nhiên. Lì xì, thèo lèo, tài công… (tiếng Hoa), cà ràn, cà ròn, xà quầng,
mình ên… (tiếng Khmer) đã là lời ăn tiếng nói hàng ngày của người Việt. Điều đó thể hiện
mối giao hòa, quan niệm làm giàu cho vốn từ của mình qua cách vay mượn vốn từ của dân
tộc anh em.
Sự giao lưu về tôn giáo tín ngưỡng giữa các tộc người cũng rất rõ nét. Người Khmer
không chỉ thờ cúng ông bà ở chùa như trước đây mà cũng như người Việt, người Hoa, họ lập
bàn thờ ở nhà. Bàn thờ Phật được người Khmer đặt ngay giữa nhà theo lối người Hoa chứ
không nhất thiết quay về hướng mặt trời mọc như xưa kia. Họ có tín ngưỡng Arak cũng như
người Việt có tục cúng thầy pháp, người Hoa có tục thờ Bà mẹ Sanh… Ta vẫn thường thấy
(10): Preah Thông – Neang Neak được xem là truyền thuyết lập quốc của dân tộc Khmer
Chùa của người Việt, người Khmer, Miếu của người Hoa và nhà thờ Thiên chúa giáo xen kẽ
nhau ở những vùng dân cư ở Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu… Nhìn chung, mặc dù có những
khác biệt tôn giáo nhưng không có sự phân chia, trái lại đều hội nhập trong tính cộng đồng
bền vững và truyền thống khoan dung tôn giáo của các dân tộc.
(11) Nhiều tác giả – Đồng bằng sông Cửu Long – nghiên cứu và phát triển – NXB KHXH, Hà Nội,
1995,tr.175
CHƯƠNG 2
TÌNH HÌNH TƯ LIỆU
Từ lâu đã có những công trình của các tác giả trong – ngoài nước sưu tầm, biên soạn
truyện dân gian Khmer. Chúng tôi dựa vào tài liệu được sưu tầm ở các giai đoạn khác nhau
rồi tiến hành so sánh với các bản dòch trực tiếp trong tài liệu tiếng Khmer và một số truyện
kể ghi nhận được từ những chuyến điền dã để xác lập một hệ thống tư liệu đầy đủ nhất làm
đối tượng khảo sát. Chúng tôi ý thức rằng đây là khâu quan trọng giúp cho việc khảo sát,
đánh giá khách quan, đúng bản chất đối tượng.
Với quan điểm đó, bằng cách thống kê và miêu tả trạng thái các công trình có được,
chúng tôi xin trình bày cụ thể tình hình tư liệu mà chúng tôi sử dụng trong quá trình khảo sát
đề tài.
Trên cơ sở thực tế của số tư liệu hiện có, chúng tôi phân chia theo 3 mảng như sau:
2.1. Nhóm tư liệu tác phẩm
Gồm các công trình sưu tầm truyện dân gian có liên quan như: Kho tàng truyện cổ
tích Việt Nam [4], Truyện cổ Đông Nam Á -Campuchia [7], Truyền thuyết về truyện kể
Khmer [9], Truyện cổ dân gian Ấn Độ [13], Truyện kể dân gian Nam Bộ [19], Thần
thoại Việt Nam [21], Thần thoại Đông Nam Á [22 ], Truyện cổ Cao Miên [25 ], Chuyện
kể đòa danh [27] , Truyền thuyết Việt Nam [29], Truyện cổ Campuchia [32], Truyện cổ
tích các nước vùng Châu Á [52], Truyện cổ Khmer Nam Bộ [58], Truyện dân gian
Khmer [59], Truyện dân gian Khmer Nam Bộ [60], Riêm-kê – Tình sử nàng Xê-Đa
[61], Truyện dân gian đồng bằng sông Cửu Long [76],
[72], Truyện dân gian Việt Nam [77], Truyện Trạng Đông Nam Á: Thmênh Chây,
1. Giải thích về nguồn gốc sự vật có truyện: Thần Xi va tạo ra loài muỗi, Vì sao khỉ đỏ
đít.
2. Giải thích sự tích đất nước đòa danh: một câu chuyện kể đến tình tiết xây tháp thi và
dùng mẹo để chiến thắng đối phương (không ghi tựa đề).
3. Nguồn gốc các câu ví:
Người ăn trộm và 4 cô gái, Vua Dao để giải thích câu: “Con vợ khôn lấy thằng chồng
dại”.
Thơ-mênh-Chây hay lừa người: giải thích kiểu câu thành ngữ “Nói dối như Cuội”.
4. Người thông minh, tài trí và sức khỏe hơn người có Chau Sanh – Chau Thông, Thầy
bói với 2 ông bà già, Chàng Cơm Cháy.
5. Phân xử: Nhà sư hoàn tục và 3 cô gái, Cô gái đẹp và 3 chàng trai, Người ăn trộm và 4
cô gái, Thỏ làm quan tòa lừa ma.
6. Những truyện thần tiên, ma quỷ, phù phép: Truyện Ra-ma-ya-na, Hai con vật nhiệm
màu.
7. Đền ơn trả oán: Sóc lành – Sóc ác (hay Sự tích cây cỏ may), Nàng Can tóc và nàng
Song Ang Cát.
8. Truyện vui tươi, dí dỏm: Mưu đàn bà, Thơ Mênh-Chây
2.1.2. Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long [63]
- Tác giả: Đây là công trình sưu tầm – biên soạn tập thể của Khoa Ngữ Văn Trường
Đại học Cần Thơ.
- Đặc điểm:
* Công trình tập hợp những tác phẩm văn học dân gian được sưu tầm ở đồng bằng sông
Cửu Long. Thuộc các dạng văn xuôi thì có truyền thuyết lòch sử, truyện cổ tích, truyện cười
và truyện ngụ ngôn; văn vần thì có vè, tục ngữ, câu đố, ca dao, dân ca.