Khả năng đề kháng kháng sinh của một số vi khuẩn thường gặp ở bệnh nhân nhiễm trùng tại Bệnh viện Đa khoa Khu vực Thủ Đức - Pdf 59

Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 

KHẢ NĂNG ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA MỘT SỐ VI KHUẨN 
THƯỜNG GẶP Ở BỆNH NHÂN NHIỄM TRÙNG  
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC THỦ ĐỨC 
Lê Thị Kim Hương*, Nguyễn Đỗ Phúc** 

TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Hiện nay, tình trạng vi khuẩn đơn kháng thuốc hoặc đa kháng thuốc hầu hết đều ở mức độ cao. 
Đồng thời, vi khuẩn không những có khả năng kháng với kháng sinh mới sử dụng mà còn kháng lại các ứng viên 
là kháng sinh trong tương lai. Hơn thế nữa, các chủng vi khuẩn không gây bệnh nhưng đề kháng kháng sinh hay 
đa đề kháng còn là nơi tồn trữ tính kháng thuốc để truyền cho những vi khuẩn gây bệnh khác.  
Mục  tiêu  nghiên  cứu:  Khảo sát một số vi khuẩn thường gặp từ các mẫu bệnh phẩm máu, đàm, dịch tiết, 
nước tiểu của bệnh nhân nhiễm trùng và khả năng đề kháng kháng sinh của chúng. 
Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả: phân lập, định danh và làm kháng sinh đồ theo thường quy 
các nhóm vi khuẩn thường gặp từ các mẫu máu, đàm, dịch tiết và nước tiểu của bệnh nhân bị nhiễm trùng điều 
trị tại Bệnh viện Đa khoa Khu vực Thủ Đức từ 01/2013 – 06/2013.  
Kết quả nghiên cứu: Phân lập được nhóm vi khuẩn gram (‐) chiếm ưu thế (73,09%), gồm: Acinetobacter 
(32,35%), Klebsiella (22,55%), Pseudomonas (10,19%), Escherichia (8%). Nhóm vi khuẩn gram (+) chiếm ít hơn 
(26,91%), gồm: Staphylococcus (19,64%), Streptococcus (7,27%). Trong đó, 6 loài có tần số phân lập được nhiều: 
Acinetobacter spp., K. ozaenae, K. pneumoniae, E. coli, P. aeruginosa và S. aureus từ các loại bệnh phẩm máu, 
đàm, dịch tiết và nước tiểu của 266 bệnh nhân trong lô nghiên cứu. Những vi khuẩn này kháng với hầu hết 14 
kháng sinh đặt kháng sinh đồ, ngoại trừ K. pneumoniae không kháng với Im. 
Mức kháng với kháng sinh cao nhất của các chủng vi khuẩn: K. ozaenaekháng Bt (100%);K. pneumoniae và 
E. colikháng Ci (83,3% và 88,8% ); P. aeruginosa và S. aureus kháng Cl (100% và 94,7%); Acinetobacter spp. 
kháng Ct (92,3%).  
Kết luận: Đa số các vi khuẩn đều kháng với đa kháng sinh ở mức độ cao. 

62% là nam giới(8). 

Phân bố bệnh nhân theo tuổi 
Kết  quả  khảo  sát  cho  thấy,  tuổi  của  bệnh 
nhân  nhỏ  nhất  là  18,  tuổi  lớn  nhất  là  98,  tuổi 

329


Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 
trung  bình  chung  là  64,82  ±  20,71  tuổi.  Nhóm 
tuổi từ 71 – 90 có số lượng bệnh nhân nhiều nhất 
(125 người). Kế đến là nhóm tuổi từ 51 – 70 (65 
bệnh nhân). Theo một số nghiên cứu, trung bình 
một người cao tuổi mắc 2,69 bệnh(6) hay ở nhóm 
tuổi > 60 có tỷ lệ đa nhiễm nhiều nhất (73,69%)(3). 
Ngoài  ra,  có  một  số  căn  bệnh  chỉ  xảy  ra  cho 
người  lớn  tuổi.  Đây  cũng  là  nguyên  nhân  giải 
thích vì sao tỷ lệ bệnh nhân lớn tuổi chiếm tỷ lệ 
cao.  

Xác định tỷ lệ vi khuẩn thường gặp ở những 
bệnh nhân nhiễm trùng 
Các  vi  khuẩn  thường  gặp  gây  nhiễm  trùng 
cho  bệnh  nhân  là  Acinetobacter spp.  (25,45%),  S. 
aureus(17,82%),  K.  ozaenae  (12%),  P.  aeruginosa 


tương đối thấp hơn. Kháng tối đa ở mức 50% với 
Bt và Ge. Riêng trong mẫu máu, mức kháng tối 
đa đến 83,3% đối với Ci. 
Ba  chủng  vi  khuẩn  gram  (‐)  còn  lại  đều 
kháng  toàn  bộ  với  14  kháng  sinh.  Trong  đó,  E. 
coli kháng ở mức thấp nhất chỉ có hai kháng sinh 
là  Lv  (11,1%)  và  TC  (22,2%),  số  kháng  sinh  còn 
lại đều bị kháng ở mức cao, từ 50 – 88,8%. 
P.  aeruginosa  kháng  với  kháng  sinh  trong 
bệnh phẩm đàm cao hơn trong nước tiểu. Như 
vậy, nếu chỉ căn cứ vào kết quả kháng sinh đồ 
thì  các  y,  bác  sĩ  cần  phải  cân  nhắc  thật  kỹ 
nhằm  đưa  ra  pháp  đồ  hiệu  quả  nhất  trong 
công tác điều trị. Bởi vì, những chủng vi khuẩn 
này tuy nhạy rất nhiều với kháng sinh, nhưng 
mức nhạy cao nhất chỉ đạt 76,9% và chỉ có một 
kháng sinh cho mỗi loại bệnh phẩm (đàm: Lv; 
nước  tiểu:  AC).  Những  kháng  sinh  còn  lại,  tỷ 
lệ nhạy dưới 70%.  
Mức  độ  kháng  với  kháng  sinh  của 
Acinetobacter spp. càng đạt đến mức báo động, 
độ  nhạy  với  kháng  sinh  đa  số  rất  thấp,  từ 
23,1% trở xuống, chỉ có CS nhạy ở mức tương 
đối (60%).  

Tính kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn 
gram (+) phân lập từ các mẫu bệnh phẩm: 
100%  S.  aureus  kháng  với  toàn  bộ  kháng 
sinh, trong đó kháng sinh bị kháng cao nhất là 


TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1.

Cao  Minh  Nga  (2006),  Các  vi  khuẩn  gây  nhiễm  khuẩn  đường 
tiểu  ở  trẻ  em  và  sự  đề  kháng  kháng  sinh.  Y  học  TP.  Hồ  Chí 
Minh. 10 (4) 378‐383. 

2.

Cao Minh Nga (2008). Nhiễm khuẩn do Acinetobacter và tính 
kháng thuốc. Y học Thành Phố Hồ Chí Minh. 12 (1): 188‐193. 

3.

Cao Minh Nga, Lục Thị Vân Bích, Nguyễn Thị Tuý An và Võ 
Trần  Vương  Di  (2010).  Sự  đề  kháng  kháng  sinh  của  các  vi 
khuẩn gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở người lớn. Y học TP. 
Hồ Chí Minh. 14 (1): 490‐496. 

4.

Nguyễn  Phú  Hương  Lan,  Nguyễn  Văn  Vĩnh  Châu,  Đinh 
Nguyễn  Huy  Mẫn,  Lê  Thị  Dưng  và  Nguyễn  Thị  Thu  Yến 
(2012). Khảo sát mức độ đề kháng kháng sinh của Acinetobacter 
và  Pseudomonas phân  lập  tại bệnh  viện  Bệnh  Nhiệt  Đới  năm 
2010. Thời Sự Y học. 68: 9‐12. 

5.


‐ K. ozaenae kháng cao nhất với Bt (100%) và 
nhạy cảm cao nhất với Ak (100%). 
‐ K. pneumoniaekháng cao nhất với Ci (83,3%) 
và không kháng với Im. 
‐ Các chủng E. coli, P. aeruginosa, Acinetobacter 
spp.  và  S. aureus  đều  kháng  với  toàn  bộ  kháng 
sinh đặt kháng sinh đồ, trong đó: 
+ E. coli  kháng  với  12/14  kháng  sinh  ở  mức 
cao, từ 50 – 88,8%, kháng ở mức thấp nhất chỉ có 
hai kháng sinh là Lv (11,1%) và TC (22,2%). 
+  P.  aeruginosa  kháng  với  kháng  sinh  trong 
bệnh phẩm đàm đa số cao hơn trong nước tiểu. 
Kháng mức cao nhất đối với Cl ở đàm là 100%, ở 
nước tiểu là 53,8%. 
+  Acinetobacter  spp.  kháng  cao  với  13/14 
kháng  sinh  ở  mức  >  65%,  kháng  thấp  chỉ  với  1 
kháng sinh (CS: 16,9%). 
+  S.  aureus  kháng  cao  nhất  với  Er  (85%  ‐ 
94,7%), kháng thấp nhất với Of (15 – 30%). 

KIẾN NGHỊ 
Tiếp tục nghiên cứu thêm về tình hình kháng 
thuốc  của  vi  khuẩn,  theo  dõi  mức  biến  động 
kháng sinh của nhóm vi khuẩn gram (‐) và gram 
(+).  
Dựa  vào  kết  quả  kháng  sinh  đồ,  các  bác  sĩ 
lựa  chọn  kháng  sinh  thích  hợp  nhất  cho  bệnh 
nhân điều trị để hạn chế chi phí và thời gian. 

10. Vũ Thị Kim Cương (2007). Khảo sát tình hình kháng kháng sinh 




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status