T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 3-2017
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ĐẶT TƯ THẾ CHI TRÊN Ở
BỆNH NHÂN LIỆT NỬA NGƯỜI DO TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
Nguy n Th Kim Liên*; L i Thuỳ Thanh*
TÓM TẮT
Mục tiêu: đánh giá hiệu quả của việc đặt tư thế chi trên dựa trên tầm vận động khớp vai và
chức năng vận động chi trên bên liệt ở bệnh nhân (BN) liệt nửa người do tai biến mạch máu
não (TBMMN). Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu 60 BN liệt nửa người do TBMMN tại
Trung tâm Phục hồi Chức năng, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 10 - 2014 đến 3 - 2015 bằng
phương pháp nghiên cứu tiến cứu, mô tả, can thiệp có đối chứng. Kết quả: chênh lệch chức
năng vận động chi trên sau 1 tháng của nhóm can thiệp là 1,4 và nhóm chứng là 1,27 (p < 0,05).
Chênh lệch tầm vận động xoay ngoài khớp vai sau 1 tháng của nhóm can thiệp là 10,4 và nhóm
chứng là 0,5 (p < 0,05). Chênh lệch tầm vận động gấp khớp vai sau 1 tháng của nhóm can
thiệp là 8,37 và nhóm chứng là 2,67 (p < 0,05). Chênh lệch tầm vận động xoay trong khớp vai sau
1 tháng của nhóm can thiệp là 2,83 và nhóm chứng là 2,70, không có sự khác biệt giữa 2 nhóm
(p > 0,05). Kết luận: đặt tư thế chi trên có tác dụng cải thiện mức độ vận động chi trên ở BN liệt
nửa người do TBMMN thông qua cải thiện vận động xoay ngoài và gấp của khớp vai.
* Từ khóa: Liệt nửa người; Tai biến mạch máu não; Chi trên; Tư thế.
Evaluation of the Effect of Positioning the Upper Limb in Stroke
Patients with Hemiplegia
Summary
Objectives: To evaluate the effect of positioning the upper limb based on range of motion in
shoulder and upper limb motor function in stroke patients with hemiplegia. Subjects and methods:
A case-controlled descriptive, prospective study was conducted on 60 stroke patients with
hemiplegia at the Rehabilitation Center, Bachmai Hospital from October, 2014 to March, 2015.
Results: The difference between the upper limb motor function after one month in the intervention
group was 1.4 and the control group was 1.27 (p < 0.05). The difference of shoulder external
rotation after one month of the intervention group was 10.4 and the control group was 0.5
(p < 0.05). The difference of shoulder flexion after one month of the intervention group was 8.37
nào nói đến quy trình cụ thể của việc đặt
tư thế. Do vậy, hầu hết các nghiên cứu
chưa đưa ra kết luận có ý nghĩa lâm sàng
và hiệu quả trong phòng ngừa co rút và
hỗ trợ phục hồi chức năng chi trên bên
liệt. Nghiên cứu này được thực hiện
nhằm: Đánh giá hiệu quả của việc đặt tư
thế chi trên dựa trên tầm vận động khớp
vai và chức năng vận động chi trên bên
liệt ở BN liệt nửa người do TBMMN.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu.
* Tiêu chuẩn loại trừ: BN có các vấn đề
về vai trước đó: chấn thương hoặc bệnh
về khớp vai, phụ nữ có thai.
2. Phương pháp nghiên cứu.
* Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu tiến
cứu, mô tả can thiệp có đối chứng.
* Quy trình tập luyện phục hồi chức
năng: tiến hành phục hồi chức năng cho
nhóm can thiệp và nhóm chứng bằng các
biện pháp tập vận động và hoạt động trị
liệu, không có sự khác biệt về kỹ thuật và
thời gian tập ở cả 2 nhóm BN nghiên cứu.
Riêng nhóm can thiệp áp dụng thêm
biện pháp đặt tư thế. Quá trình đặt tư thế
khớp vai không ảnh hưởng đến chương
trình luyện tập chi dưới, chi trên và toàn
nghiệp, ngày bị bệnh, ngày vào viện, tay
liệt (phải, trái), tay thuận, tình trạng chi trên
bên liệt.
* Cách đánh giá:
107
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 3-2017
Tiến hành lượng giá chức năng vận
động chi trên bên liệt: dựa trên mục đánh
giá chi trên của bảng đánh giá vận động
BN TBMMN và xác định mức độ thực
hiện vận động ở mức khó tăng dần trong
bảng từ 0 - 6 (0: chức năng kém nhất;
6: chức năng tốt nhất) [1]. Đo tầm vận
động khớp vai bằng thước đo: đo tầm
vận động thụ động tối đa xoay ngoài,
xoay trong, gấp.
* Thời điểm lượng giá:
- Lần 1: khi đến khám được xác định
đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn.
- Lần 2: sau 1 tháng theo dõi, can thiệp.
* Đạo đức nghiên cứu:
Nghiên cứu tiến hành tại Bệnh viện
Bạch Mai với sự đồng ý của lãnh đạo
Trung tâm, Bệnh viện. Nghiên cứu dựa
trên 3 nguyên tắc cơ bản của đạo đức là
tôn trọng, không gây hại và tạo ra sự
1,27
1,40
Độ lệch chuẩn
0,45
0,50
p
0,04
(< 0,05)
Chênh lệch chức năng vận động chi
trên sau 1 tháng của nhóm can thiệp và
nhóm chứng khác nhau có ý nghĩa thống
kê (p < 0,05).
* Kết quả phục hồi chức năng dựa trên
tầm vận động khớp vai:
Bảng 2: Chênh lệch tầm vận động xoay
ngoài trước và sau điều trị.
Chênh lệch tầm Nhóm
vận động xoay chứng
ngoài (độ)
(n = 30)
Nhóm
Nhóm
chứng
(n = 30)
Nhóm
can thiệp
(n = 30)
Trung bình
2,70
2,83
Độ lệch chuẩn
1,05
1,17
p
0,054
(> 0,05)
Chênh lệch tầm vận động xoay trong
sau 1 tháng của nhóm can thiệp và nhóm
chứng khác nhau không có ý nghĩa thống
kê (p > 0,05).
0,018
(< 0,05)
Chênh lệch tầm vận động gấp khớp
vai sau 1 tháng của nhóm can thiệp và
nhóm chứng khác biệt có ý nghĩa thống
kê (p < 0,05).
BÀN LUẬN
1. Đặc điểm của BN nghiên cứu.
Trong 60 BN nghiên cứu, BN cao nhất
80 tuổi, thấp nhất 31 tuổi. Tỷ lệ nam/nữ
là 2/1. Kết quả này tương đối phù hợp
với nghiên cứu của Aras và CS, BN liệt
nửa người do TBMMN có độ tuổi trung
bình 59,5. Tỷ lệ nam/nữ là 2,3/1 [2].
2. Hiệu quả của việc đặt tư thế chi
trên dựa trên tầm vận động khớp vai
và chức năng vận động chi trên bên
liệt ở BN liệt nửa người do TBMMN.
Khi đánh giá hiệu quả của phương pháp
đặt tư thế chi trên thông qua kiểm định
giá trị trung bình chênh lệch mức độ vận
động tay trung bình trước và sau can thiệp
giữa hai nhóm can thiệp và nhóm chứng
bằng t-test thấy: ở nhóm can thiệp, mức
độ vận động tay trung bình là 1,40, trong
khi đó ở nhóm chứng là 1,27. Chứng tỏ,
chức năng vận động tay ở nhóm can thiệp
đã được cải thiện nhiều hơn nhóm chứng.
Nghiên cứu của Ada là nghiên cứu
đầu tiên cho thấy hiệu quả đáng kể của
việc đặt tư thế trong phòng ngừa co rút.
Ít nhất 30 phút/ngày của tư thế khớp vai
dạng 45° và xoay ngoài tối đa đã ngăn ngừa
được việc mất tầm vận động 120 của khớp
vai (95%CI, 0 - 240), hay khoảng 17% co
rút (95%CI, 0 - 240) [3].
Phát hiện quan trọng của nghiên cứu
này là việc thực hiện chương trình đặt tư
thế sớm ngay sau khi TBMMN ở BN còn
rất ít hoặc không còn chức năng của chi
trên đã làm hạn chế ảnh hưởng của co rút
lên tầm vận động xoay ngoài của khớp vai.
109
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 3-2017
Ngoài ra, các nghiên cứu ở động vật
trong vấn đề co rút đã đem lại nhiều phát
hiện đáng kỳ vọng. William thấy, chỉ cần
dành 30 phút/ngày duy trì cơ trong tư thế
được kéo dài và thời gian còn lại trong
ngày các cơ này được bất động trong tư
thế rút ngắn đã có thể giữ nguyên được
số lượng đơn vị co cơ của bắp cơ ở chuột.
Trong khi đó, thực hiện 15 phút mỗi 2 ngày
với phương thức như trên đã không đạt
được kết quả như vậy [4]. Điều đó giải
thích vì sao trong nghiên cứu của chúng tôi,
số lượng protein, mà không có sửa chữa
mô liên kết. Theo William, việc giữ cơ ở
tư thế kéo dài 30 phút/ngày đã bảo đảm
giữ vững được số lượng các đơn vị co cơ
[4]. Điều đó giải thích vì sao trong nghiên
cứu này, chúng tôi lựa chọn tư thế khớp
vai xoay ngoài thụ động tối đa khi cơ và
mô quanh khớp vai đặt trong tư thế kéo
giãn.
Các nghiên cứu trên động vật đưa ra
kiến nghị, đặt tư thế gần nhất với tầm vận
động tối đa có thể đem lại hiệu quả tốt
nhất trong phòng ngừa co rút. Herbert và
Balnave thấy, các cơ ở thỏ bất động trong
tư thế càng ngắn thì chiều dài cơ càng
giảm [6]. Điều này giải thích lý do trong
nghiên cứu của Ada, 30 phút đặt tư thế
trong tư thế khớp vai gấp 900 đã không
ngăn được nhiều hạn chế tầm vận động
ở nhóm can thiệp so với nhóm chứng [3].
Những nghiên cứu ở động vật cho
thấy sự thay đổi chiều dài cơ không phụ
thuộc vào dây thần kinh chi phối. Theo
Goldspink và CS, các cơ của chuột khi bị
cắt dây thần kinh chi phối và bất động
trong tư thế co ngắn, đều có quá trình
hoạt động sinh lý giống như một cơ bình
thường bị bất động [7]. Việc đặt tư thế
trong tầm vận động xoay ngoài đã phần
nào ngăn ngừa được phát triển co rút
5. Dean et al. Examination of shoulder
positioning after stroke: A randomized controlled
pilot trial. Aust J Physiother. 2000, 46, pp.35-40.
6. Herbert R.D, Balnave R.J. The effect of
position no fimmobilisation on the resting length,
resting stiffness and weight of rabbits soleus
muscle. J Orthop Res. 1993, 11, pp.358-366.
7. Goldspink G, Williams P.E. Muscle fibre
and connective tissue changes associated with
use and disuse. In: Ada L, Canning C, editors.
Key issues in neurological physiotherapy. Oxford:
But-terworth-Heinemann. 1990, pp.197-218.
111