Đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày ở bệnh nhân liệt nửa người sau tai biến mạch máu N-O tại cộng đồng doc - Pdf 11

TCNCYH 22 (2) - 2003
Đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt
hàng ngày ở bệnh nhân liệt nửa ngời sau tai biến
mạch máu no tại cộng đồng

Cao Minh Châu
Bộ môn PHCN - Đại học Y Hà Nội

Trong nghiên cứu này tác giả và cộng sự đã đánh giá chức năng vận động, chủ yếu tập trung
chức năng sinh hoạt hàng ngày, của những ngời sau tai biến mạch máu não tại cộng đồng. Tác
giả đã đánh giá 269 ngời bị tai biến mạch máu não đang sống tại 5 tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hà
Nam, Ninh Bình, Hoà Bình là những nơi đang triển khai chơng trình phục hồi chức năng dựa vào
cộng đồng do AIFO (Italy) tài trợ. Tiêu chuẩn đánh giá theo bảng điểm của Barthel. Qua nghiên
cứu tác giả và cộng sự cho thấy tỷ lệ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày sau 1 năm là 46,84%,
không có sự khác biệt giữa 2 bên bán cầu não bị tổn thơng. Những ngời trẻ có tiến bộ nhanh hơn
những ngời lớn tuổi.

I. Đặt vấn đề
Tai biến mạch máu não luôn là một vấn đề
đợc y học nói chung và y học phục hồi chức
năng nói riêng quan tâm. Đây là một bệnh phổ
biến đứng hàng thứ ba sau ung th và tim mạch
[6]. Số ngời bị tai biến mạch máu não đợc
cứu sống ngày càng nhiều nhng tỷ lệ di chứng
ngày càng cao. Sau giai đoạn cấp cứu ngời
bệnh đợc trở về gia đình và cộng đồng để tiếp
tục phục hồi chức năng. Phục hồi chức năng
dựa vào cộng đồng là một biện pháp chiến lợc
để đáp ứng nhu cầu và cải thiện chất lợng
cuộc sống của ngời tàn tật nói chung và ngời
tai biến mạch máu não nói riêng. Độc lập trong

Tiêu chuẩn chọn lựa: tất cả bệnh nhân liệt
nửa ngời do tai biến mạch máu não đã đủ tiêu
chuẩn chẩn đoán (theo WHO) nằm tại bệnh
viện về, những ngời này thuộc diện quản lý
của chơng trình phục hồi chức năng dựa vào

54
TCNCYH 22 (2) - 2003
cộng đồng, tuổi lớn hơn 16, có phiếu theo dõi
và tên trong danh sách tại các trạm y tế xã.
Loại trừ những ngời liệt nửa ngời không
có đủ các tiêu chuẩn tai biến mạch máu não và
nhỏ hơn 16 tuổi.
Cỡ mẫu đợc tính theo công thức:
2
2
1-
2
(1
Z.
PP
n
e



=


)

năng dựa vào cộng đồng.
2. Phơng pháp nghiên cứu cắt ngang mô
tả:
Thiết kế phiếu điều tra dựa trên thang điểm
của Barthel. Nội dung liên quan đến các loại
hoạt động chức năng trong sinh hoạt hàng ngày
gồm ăn uống, tắm giặt, vệ sinh, thay quần áo,
di chuyển
Đánh giá theo thang điểm của Barthel
(Barthel index scoring), đánh giá trớc can
thiệp và sau một năm.
Độc lập hoàn toàn: 95 - 100 điểm
Trợ giúp ít: 65 - 94 điểm
Trợ giúp trung bình: 64 - 25 điểm
Phụ thuộc hoàn toàn: 24 - 0 điểm 3- Mô tả kỹ thuật
Phơng pháp phục hồi chức năng dựa vào
cộng đồng [5] là phơng pháp hiện nay đợc áp
dụng rộng rãi trên thế giới đặc biệt là ở các
nớc đang phát triển, các nớc nghèo. Trong
phơng pháp phục hồi chức năng dựa vào cộng
đồng: tất cả các nguồn đều dựa vào cộng đồng
nh:
Nguồn nhân lực: Thân nhân gia đình ngời
tàn tật, cán bộ y tế thôn bản, các tình nguyện
viên Những ngời này đợc chuyển giao kiến
thức, kỹ năng về phục hồi chức năng cho ngời
tàn tật và đợc trang bị tài liệu huấn luyện.

6.0, thuật toán Test X
2
:
III. Kết quả
1. Đặc điểm chung về ngời tai biến mạch
máu não
Bảng 1: Phân bố theo tuổi và giới
Giới tính Nam Nữ Tổng số
Nhóm
tuổi
n % n % n %
16 - 44 7 2,60 3 1,12 10 3,72
45 - 59 24 8,92 15 5,58 39 14,50
60 - 74 95 35,32 50 18,58 145 53,90
75 - 89 46 17,10 29 10,78 75 27,88
Tổng 172 63,94 97 36,06 269 100,00
Nhận xét: Nam tỷ lệ nhiều hơn nữ chiếm
63,94%
Nhóm tuổi 60 - 74 chiếm tỷ lệ cao nhất
53,90%
Bảng 2: Phân bố theo bên liệt và giới tính
Bên liệt Phải Trái
Giới tính n % n %
P
Nam 92 53,49 80 46,51
Nữ 45 46,39 52 53,61
Tổng số 137 50,93 132 49,07

>0,05
Nhận xét: Tỷ lệ liệt nửa ngời bên phải và

Tổng số 269 100,00 269 100,00
Nhận xét: Sau phục hồi chức năng mức độ
độc lập trong sinh hoạt hàng ngày chiếm tỷ lệ
cao 46,84% (với P<0,01).
Bảng 5: Mức độ độc lập trong sinh hoạt
hàng ngày theo giới tính (n = 269)
Giới tính Nam Nữ
Mức độ n % n %
P
Độc lập
hoàn toàn
86 50,00 40 41,24
Trợ giúp ít 48 27,91 25 25,77
Trợ giúp
trung bình
32 18,60 22 22,68

>
0,05
Phụ thuộc
hoàn toàn
6 3,49 10 10,31 <
0,05
Tổng số 172 100,00 97 100,00

Nhận xét: Không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê về mức độ độc lập trong sinh hoạt
hàng ngày giữa hai giới (P > 0,05). Tuy nhiên ở
nữ giới mức độ phụ thuộc hoàn toàn tỷ lệ lớn
hơn nam giới (10,31%) (P < 0,05).

Nhận xét: Mức độ phụ thuộc hoàn toàn ở
nhóm tuổi cao tỷ lệ nhiều hơn nhóm tuổi trẻ (sự
khác biệt có ý nghĩa P <0,05).
Bảng 8: Mức độ độc lập trong sinh hoạt
hàng ngày của nhồi máu não và chảy máu
não:
Loại tổn thơng
não
Nhồi
máu não
Chảy
máu não
P
Mức độ n % n %
Độc lập hoàn toàn 13 40,636 11 45,84
Trợi giúp ít 12 37,50 8 33,33
Trợ giúp trung
bình
5 15,62 3 12,50
Phụ thuộc hoàn
toàn 2 6,25 2 8,33
Tổng số 32 100,00 24 100,00
>0,05
Nhận xét: Không có sự khác biệt về mức độ
độc lập trong sinh hoạt hàng ngày giữa nhồi
máu não và chảy máu não (P >0,05)
IV. Bàn luận
1. Bàn về đặc điểm của ngời TBMMN:
Qua kết quả từ bảng 1 ta thấy nhóm tuổi 60-
74 chiếm tỷ lệ cao nhất với 53,90%, nam giới

hoàn toàn của họ cao hơn có lẽ do kinh tế, văn
hoá của họ phát triển hơn nên ngời bệnh đợc
chăm sóc và PHCN sớm hơn. Về giới tính và vị
trí bên liệt, loại tổn thơng cũng không ảnh
hởng nhiều đến mức độ độc lập trong sinh
hoạt hàng ngày. Tuổi càng cao thì khả năng
độc lập càng giảm. Các kết quả nghiên cứu của
chúng tôi cũng phù hợp với nhiều tác giả thế
giới [10].
Phơng pháp phục hồi chức năng dựa vào
cộng đồng [5] là phơng pháp u việt nhất so
với phơng pháp phục hồi chức năng tại viện,
tại trung tâm. Nhờ có phơng pháp này, các
nhu cầu của ngời tàn tật đợc đáp ứng. Ngời
tàn tật đợc phục hồi không chỉ về lĩnh vực y
học mà còn các lĩnh vực xã hội và kinh tế cũng
đợc phục hồi.
Về lĩnh vực y học: ngời tàn tật đợc phục
hồi các chức năng di chuyển, chức năng sinh
hoạt hàng ngày, phòng ngừa đợc các tàn tật
thứ cấp.
Về lĩnh vực xã hội: ngời tàn tật đợc sống
trong tình thơng của gia đình, đợc đùm bọc
của cộng đồng, đợc tham gia các hoạt động
của gia đình và cộng đồng.
Về kinh tế: ngời tàn tật có công ăn việc
làm phù hợp với hoàn cảnh tàn tật của mình, có
thu nhập ngời tàn tật làm giảm nhẹ gánh nặng
cho gia đình và cộng đồng.
Trong đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu

Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, Tr1-22.
4. Nguyễn Thuỳ Hơng (1998), Tình hình
bệnh nhân TBMMN nằm tại viện Lão khoa
trong 4 năm 1994-1997. Kỷ yếu công trình
nghiên cứu khoa học, viện Lão khoa, Nhà
XBYH, Tr 151-155.
5. Nguyễn Xuân Nghiên, Trần Trọng Hải,
Cao Minh Châu và CS (1996), Phục hồi chức

58
TCNCYH 22 (2) - 2003
năng dựa vào cộng đồng, Nhà xuất bản Y học
1996, chơng IV, Tr 20 - 33.
6. Bobath.B (1990) Adult hemiplegia:
Evaluation and treatment. Heinemenn (3rd edn)
7- Flick CL. (1999), Stroke rehabilitation.
Arch phys Med Rehabil pp21-26
8. Granger C.V Hamilton B.B (1992),
Discharge outcome after stroke rehabilitation.
Stroke 23 pp 978-982
9. Gresham GE. (1980): ADL status in
stroke: relative merits of three standard indexs.
Arch phys Med Rehabil, 61 pp355-358
10. Nakayama H, Jorgensen H (1994), The
influence of age on stroke outcome-The
Copenhagen stroke study. Stroke 25, pp 808-
813
11. Samuelsson M (1996), Functional
outcome in patients with stroke, Stroke 31 pp
42-46.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status