Bớc đầu nghiên cứu
phục hồi chức năng sinh hoạt hàng ngày
cho bệnh nhân liệt nửa ngời
do tai biến mạch máu não
hà nội- 2003
bộ giáo dục và đào tạo bộ y tế
trờng đại học y hà nội
Vũ mạnh hùng
luận văn tốt nghiệp bác sĩ y khoa
khoá 1997- 2003
Bớc đầu nghiên cứu
phục hồi chức năng sinh hoạt hàng ngày
cho bệnh nhân liệt nửa ngời
do tai biến mạch máu não
luận văn tốt nghiệp bác sĩ y khoa
khoá 1997 - 2003
Hớng dẫn khoa học:
Tiến sỹ Cao Minh Châu
hà nội- 2003
bộ giáo dục và đào tạo bộ y tế
trờng đại học y hà nội
Vũ mạnh hùng
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan: Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết
quả thu đợc là hoàn toàn sự thật, và cha đợc công bố trong bất kì công trình nghiên
cứu nào khác.
Hà Nội, ngày 20 tháng 06 năm 2003
các từ viết tắt
1 - Phục Hồi Chức Năng ( PHCN )
2- Tai biến mạch máu não ( TBMMN )
3- Tổ chức Y tế thế giới ( WHO )
Đặt vấn đề
Tai biến mạch máu não là một vấn đề lớn của Y học các nớc trong nhiều thập
kỷ qua. Bệnh do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể gây tử vong nhanh chóng
hoặc để lại nhiều di chứng nặng nề, đặc biệt là các di chứng về vận động. Đó là
gánh nặng không chỉ đối với ngời bệnh, gia đình mà còn ảnh hởng đến cả cộng
đồng và quốc gia của họ.
Theo công bố của tổ chức Y tế thế giới (WHO) tai biến mạch máu não là
nguyên nhân gây tử vong hàng thứ ba sau ung th và tim mạch.
Tai biến mạch máu não có nhiều triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng. Trong
đó liệt nửa ngời là triệu chứng hay gặp và cũng là nguyên nhân chủ yếu gây ra các
biến chứng thứ phát nguy hiểm khác.
Trong điều trị TBMMN, vấn đề đặt ra, không phải chỉ thêm năm tháng cho cuộc
sống (tức kéo dài tuổi thọ), mà phải thêm sức sống cho năm tháng (tức chất lợng
cuộc sống). Muốn vậy, ngoài việc luyện tập thể chất, tinh thần, ngời bệnh còn phải
lo bảo vệ sức khoẻ chống bệnh tật
Ngày nay với sự tiến bộ không ngừng của y học, nhiều phơng tiện chẩn đoán và
phơng pháp điều trị hiện đại đã giúp cho việc dự phòng, điều trị và PHCN có hiệu
quả cao hơn, cải thiện đáng kể tiên lợng của ngời bệnh.
Khả năng phục hồi của ngời bệnh TBMMN phụ thuộc rất nhiều vào việc chẩn
đoán, điều trị, PHCN và dự phòng kịp thời.
Hiện nay ở Việt Nam, vấn đề phục hồi sau TBMMN ngày càng đợc quan tâm
hơn. Những ngời bị liệt nửa ngời do TBMMN cũng đợc phục hồi vận động tốt hơn,
giúp họ đợc tái hội nhập với xã hội.
Để đánh giá sự phục hồi đó, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu:
" Bớc đầu nghiên cứu phục hồi chức năng sinh hoạt hàng
ngày cho bệnh nhân liệt nửa ngời do tai biến mạch máu n o"ã với
năm (1981 - 1990) đã thấy tỉ lệ nhồi máu não là 76%[27].
Kể từ tháng 9 năm 1997 đến tháng 6 năm 2000 tai khoa thần kinh bệnh viện
Bạch Mai đã tiếp nhận khoảng 1.220 bệnh nhân tai biến mạch máu não tuổi từ 11 -
89.[17]
Tỉ lệ di chứng nhẹ và vừa của tai biến mạch máu não là 68,42%, tỉ lệ di chứng
nặng là 27,69%, trong đó di chứng về vận động chiếm 92,96% tổng số bệnh nhân
liệt nửa ngời. Tỉ lệ tai biến mạch máu não đang sống tại cộng đồng có nhu cầu
phục hồi chức năng là 94%.[18]
1.3- Tình hình di chứng và tàn tật do tai biến mạch máu não trên thế giới và
Việt Nam:
1.3.1- Trên thế giới:
Theo WHO có từ 1/3 đến 2/3 ngời bệnh sống sót sau tai biến mạch máu não trở
thành tàn tật vĩnh viễn. Còn Hakett cho biết 61% ngời bệnh sống sót sau tai biến
mạch máu não để lại di chứng, 50% phải phụ thuộc ngời khác trong sinh hoạt hàng
ngày. [21]
Tại Pháp, có 50% tàn phế do tai biến mạch máu não.[21]
Theo David [15] các di chứng thờng gặp trong bộ máy vận động bao gồm:
+ Đau khớp vai bên liệt do không cử động đợc hết tầm chiếm 45% bệnh nhân
liệt nửa ngời.
+ Gập khớp khuỷu do cơ gập khuỷu ngắn lại chiếm 73%.
+ Gập khớp cổ tay ở phía lòng bàn tay do mất chức năng gập phía lng bàn tay
và duỗi các ngón tay chiếm 92%.
+ Quay sấp cổ tay bên liệt chiếm 75%.
+ Khớp gối bên liệt luôn duỗi gây khó khăn khi đi lại chiếm 88%.
+ Gân Achille ngắn lại gây "bàn chân rủ" chiếm 94%.
Theo Russell [15] 50% bệnh nhân sống sót sau tai biến mạch máu não bị tàn
tật.
Qua thời kỳ điều trị tại bệnh viện, căn cứ vào cuộc điều tra ở Framingham: 84%
ngời bệnh sống sót sau tai biến mạch máu não trở thành ít nhiều tàn phế, phải sống
ở nhà hoặc lệ thuộc vào ngời khác. [15]
trị liệu trong chơng trình PHCN dựa vào cộng đồng, thấy rằng việc tiến hành thờng
xuyên các chơng trình PHCN và sự tham gia của các kỹ thuật viên vật lý trị liệu có
tác dụng tốt cải thiện mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân.
[48]
Nakayama H và cộng sự khi nghiên cứu ảnh hởng của tuổi tới kết quả hồi phục
của TBMMN thấy rằng mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của ngời trẻ tuổi
phục hồi tốt hơn ngời cao tuổi.[47]
Tiến hành theo dõi 50 ngời dới 18 tuổi, Hurvitz E.A và cộng sự thấy tuổi trẻ là
yếu tố thuận lợi cho sự phục hồi về mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày.[39]
Nghiên cứu khác nhau trong hồi phục về chức năng theo giới của 165 ngời bệnh
sau 1 năm bị TBMMN Wyller T.B và cộng sự cho biết mức độ độc lập trong sinh
hoạt hàng ngày của nam giới cao hơn so với nữ giới.[54]
Chae.J và cộng sự, nghiên cứu trên hai nhóm bệnh nhân chảy máu não và nhồi
máu não, sau PHCN thấy rằng mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày giữa hai
nhóm không có sự khác nhau.[28]
Một công trình nghiên cứu trong bệnh viện ở Anh, tổng kết dựa vào hỏi ngời
bênh sống sót sau TBMMN 3 tháng cho biết: Nếu ngời bệnh ngay từ đầu không tự
đi lại, mặc quần áo, ăn uống, ra khỏi giờng để tự ngồi vào ghế bánh thì số ngời
may mắn tự làm đợc việc đó tơng ứng là 65%, 68%, 54% và 68%: còn nếu ngời
bệnh có liệt tay sau 2 tuần không cử động đợc thì số ngời may mắn dùng lại đợc
cánh tay đó là 14%.[28]
Indredavik B và cộng sự nghiên cứu cho biết những ngời bị TBMMN đựơc áp
dụng điều trị và chăm sóc toàn diện khoảng 18,6 ngày nằm viện có: 56% là độc lập
hoàn toàn trong các sinh hoạt hàng ngày sau 6 tuần và tỉ lệ này là 60% sau 26 tuần
bị bệnh, còn đối với những ngời không đợc điều trị và chăm sóc toàn diện chỉ có
48% độc lập hoàn toàn trong các sinh hoạt hàng ngày sau 6 tuần và tỉ lệ này là
49,4% sau 28 tuần bị bệnh.[41]
Nghiên cứu và theo dõi 76 bệnh nhân TBMMN với thời gian PHCN từ 20 đến
171 ngày, Grimby G và cộng sự nhận thấy vào thời điểm kết thúc chơng trình có
20% số ngời sau TBMMN độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày và khoảng
những ngời còn sống ở nhóm có can thiệp PHCN có 51,85% độc lập hoàn toàn
trong sinh hoạt hàng ngày, tỉ lệ cần sự trợ giúp và phụ thuộc hoàn toàn trong sinh
hoạt hàng ngày chiếm 48,15%; còn ở nhóm không can thiệp điều trị PHCN chỉ có
42,86% độc lập hoàn toàn; 57,14% cần sự trợ giúp và phụ thuộc hoàn toàn trong
sinh hoạt hàng ngày.[40]
Jorgensen và cộng sự khi tiến hành chơng trình PHCN cho bệnh nhân TBMMN
với thời gian trung bình là 37 ngày sau khi kết thúc chơng trình, thấy tỉ lệ các đối t-
ợng có chỉ số Barthel dới 70 điểm chiếm từ 25% - 50%[43] và với thời gian 6
tháng sau TBMMN chỉ có 4% độc lập hoàn toàn đối với TBMMN rất nặng, 13%
độc lập hoàn toàn đối với TBMMN nặng và 37% đối với TBMMN trung bình, còn
đối với TBMMN nhẹ có 68%độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày.[44]
Tiến hành chơng trình vật lý trị liệu 3 tháng cho 28 ngời có thời gian từ 6 - 12
tháng sau TBMMN, Sonde L và cộng sự thấy rằng sau 3 năm chỉ số Barthel của
các trờng hợp này là 78,1 16,6.[52]
Năm 1990, Loewen S.C và Anderson B.A tiến hành nghiên cứu tại trung tâm
vật lý và thần kinh học Canada những bệnh nhân sau đột quỵ đợc sử dụng thang
điểm Barthel để đánh giá sự thay đổi của quá trình PHCN ở tay và chân. Kết quả là
không có sự thay đổi rõ rệt sau 3 ngày và 1 tuần mà sau 1 tháng mới có sự thay đổi
rõ rệt thể hiện ở mẫu vận động khi đi lại.[28]
1.4.2- Các nghiên cứu tại Việt Nam:
Nguyễn Thuỳ Hơng cho biết, di chứng của TBMMN thờng là liệt nửa ngời, do
đó ảnh hởng lớn đến sinh hoạt hàng ngày.[19]
Theo Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự với chơng trình PHCN dựa vào cộng
đồng có 43,5% ngời tàn tật hội nhập xã hội [25] còn khi tìm hiểu nhận thức nhu
cầu và nguyện vọng của ngời tàn tật qua chơng trình PHCN dựa vào cộng đồng tại
3 tỉnh: Thái Bình, Nam Hà, Hoà Bình thấy rằng sự tiến bộ về mặt tinh thần, xã hội
và thể chất là đáng ghi nhận tỉ lệ sức khoẻ của ngời tàn tật đợc cải thiện là 75,5%,
ngời tàn tật có thể chăm sóc bản thân nhiều hơn là 54,4% từ khi tham gia vào ch-
ơng trình PHCN dựa vào cộng đồng.[24]
Cao Minh Châu và cộng sự qua nghiên cứu tổng kết 83 trờng hợp liệt nửa ngời
và có sự hớng dẫn tập luyện khi về nhà.
1.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân:
Bệnh nhân liệt nửa ngời nhng không do TBMMN.
Bệnh nhân bị TBMMN không có liệt nửa ngời.
Bệnh nhân bị TBMMN lần thứ hai trở đi.
Bệnh nhân vào viện trong tình trạng rối loạn ý thức: Glasgow < 15 điểm.
1.2. Nhóm II: Nhóm chứng:
1.2.1.Tiêu chuẩn lựa chọn nhóm chứng:
Bệnh nhân đợc chẩn đoán TBMMN có triệu chứng liệt nửa ngời dựa vào lâm sàng
và cận lâm sàng.
Bệnh nhân bị TBMMN lần đầu tiên.
Khi vào viện bệnh nhân tỉnh hoàn toàn: Glasgow 15 điểm.
Bệnh nhân không đợc can thiệp trực tiếp PHCN vận động hay hớng dẫn của bác sĩ
chuyên khoa PHCN nhng vẫn đợc điều trị nội khoa thần kinh.
1.2.2.Tiêu chuẩn loại trừ:
Bệnh nhân liệt nửa ngời không do TBMMN.
Bệnh nhân bị TBMMN không có liệt nửa ngời.
Bệnh nhân bị TBMMN lần thứ hai trở đi.
Bệnh nhân vào viện trong tình trạng rối loạn ý thức: Glasgow < 15 điểm.
2. Ph ơng pháp nghiên cứu:
Phơng pháp đánh giá lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng
Chúng tôi có thể tóm tắt quá trình nghiên cứu nh sau:
Nhóm nghiên cứu
Nhóm chứng
Xác định mẫu bệnh án
Nghiên cứu giống nhau
Chẩn đoán xác định liệt nửa
người do TBMMN
Lượng giá chức năng
Điều trị nội khoa thần kinh và
60 -> 75 6 20,0 8 26,7 14 46,7
> 75 1 3,3 2 6,7 3 10,0
Tæng sè 16 53,3 14 46,7 30 100
NhËn xÐt: Trong sè 30 bÖnh nh©n: bÖnh nh©n tuæi thÊp nhÊt lµ 40; cao nhÊt lµ 80.
sè bÖnh nh©n trong nhãm tuæi 60 -> 75 chiÕm tØ lÖ cao nhÊt (46,7%).
6.7
3.3
23.3
10
20
26.7
3.3
6.7
0
5
10
15
20
25
30
16->44 45->59 60->75 > 75
Nam N÷
Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh nhân theo tuổi và
giới ở nhóm I
Bảng 3.2. Phân bố bệnh nhân theo tuổi và giới
ở nhóm II
Tuổi Nam Nữ Tổng số
n % n % n %
16 -> 44 1 3,1 0 0 1 3,1
45 -> 59 7 21,9 4 12,5 11 34,4
Tổng số 16 53,3 14 46,7 30 100
Nhận xét:
Số bệnh nhân liệt bên phải và liệt bên trái chiếm tỉ lệ tơng đơng nhau trong nhóm
nghiên cứu, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p > 0,05).
53.3
46.7
Bên phải
Bên trái
Biểu đồ 3.3. Phân bố bệnh nhân theo định khu tổn thơng bên liệt ở
nhóm I
Bảng 3.4. Phân bố bệnh nhân theo định khu tổn thơng bên liệt ở
nhóm II
Vị trí liệt Nam Nữ Tổng số
n % n % n %
Liệt bên phải 10 31,3 5 15,6 15 46,9
Liệt bên trái 9 28,1 8 25,0 17 53,1
Tổng số 19 59,4 13 40,6 32 100
Nhận xét:
Số bệnh nhân liệt bên phải và liệt bên trái chiếm tỉ lệ tơng đơng nhau trong nhóm
chứng, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
46.9
53.1
Bên phải
Bên trái
Biểu đồ 3.4. Phân bố bệnh nhân theo định khu tổn thơng bên liệt ở
nhóm II
Bảng 3.5. Phân bố bệnh nhân theo nguyên nhân liệt nửa ngời ở
nhóm I
71.9
28.1
Xuất huyết não
Nhồi máu não
Biểu đố 3.6. Phân bố bệnh nhân theo nguyên nhân liệt nửa ngời ở
nhóm II
Bảng 3.7 Phân bố bệnh nhân theo thời gian từ khi đột quỵ đến khi bắt đầu đ-
ợc tập luyện PHCN.
Thời gian bắt đầu
tập luyện PHCN
Xuất huyết não Nhồi máu não Tổng số
n % n % n %
1 -> 6 tuần 6 20,0 12 40,0 18 60,0
7 -> 12 tuần 1 3,3 6 20,0 7 23,3
Sau 12 tuần 1 3,4 4 13,3 5 16,7
tổng số 8 26,7 22 73,3 30 100
Nhận xét: trong số 30 bệnh nhân:
Có 18 bệnh nhân đợc tập luyện PHCN trong 6 tuần đầu chiếm 60,0%. Số bệnh
nhân đợc tập luyện PHCN sau 12 tuần chiếm tỉ lệ thấp (16,7%). Số bệnh nhân bắt
đầu đợc tập luyện PHCN từ 1 -> 6 tuần chiếm tỉ lệ cao nhất ở cả nhóm bệnh nhân
xuất huyết não nh nhóm bệnh nhân nhồi máu não.
20
3.3
3.4
40
20
13.3
0
5
10