luận văn khách sạn du lịch hoàn thiện chính sách giá của công ty cổ phần xúc tiến thương mại và du lịch apollo, hà nội - Pdf 59

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KHÁCH SẠN - DU LỊCH

NGUYỄN THỊ TRÚC LINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP


2

HÀ NỘI - 2019

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KHÁCH SẠN - DU LỊCH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH GIÁ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI VÀ DU LỊCH APOLLO, HÀ NỘI

Giáo viên hướng dẫn
ThS. Trần Minh Phương
Bộ môn: Marketing Du lịch

Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Trúc Linh
Lớp: K51B2LH

ĐIỂM KHÓA LUẬN

trang quý báu để em có thể bước vào cuộc sống một cách vững chắc và tự tin.
Em xin cảm ơn công ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Apollo, Hà
Nội đã tiếp nhận em vào thực tập trong thời gian qua để em có điều kiện tiếp xúc với
thực tiễn và áp dụng những kiến thức mình đã học vào thực tế. Em cũng xin cảm ơn tất
cả các anh chị trong các bộ phận đã tận tình chỉ bảo và tạo điều kiện cho em tìm hiểu,
học hỏi kinh nghiệm và cung cấp những thông tin cần thiết giúp em nghiên cứu, tổng
hợp và hoàn thành bài khoá luận tốt nghiệp với đề tài: “Hoàn thiện chính sách giá
của công ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Apollo, Hà Nội”.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 04 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Trúc Linh

MỤC LỤC


5


6

BẢNG BIỂU
STT
1
2
3
4
5
6


2
3
4
5

TÊN HÌNH VẼ
Hình 2.1: Logo của công ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và
Du lịch Apollo, Hà Nội
Hình 2.2: Cơ cấu tổ chức tại công ty cổ phần Xúc tiến Thương
mại và Du lịch Apollo, Hà Nội
Hình 2.3: Cơ cấu về mức giá mà khách hàng đã sử dụng dịch vụ du
lịch nội địa của công ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch
Apollo, Hà Nội
Hình 2.4: Mối liên hệ giữa các yếu tố của sản phẩm với mức độ
quan tâm của khách hàng
Hình 2.5: Cơ cấu về mức độ hài lòng của khách hàng khi công ty
giảm giá các tour du lịch quốc tế

TRANG
16
16
24
24
25


8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT

Văn hóa Thể Thao Du lịch


9

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành du lịch Việt Nam ngày càng phát triển và gặt hái được các thành quả
đáng kể, nâng cao vị thế của Việt Nam trên thi trường quốc tế. Bên cạnh đó với sự
ổn định về chính trị, Việt Nam đã, đang và sẽ luôn là điểm đến an toàn và hấp dẫn
với khách du lịch trên khắp thế giới. Du lịch là nguồn thu ngoại tệ quan trọng, đặc
biệt là trong những năm gần đây. Sở Du lịch Hà Nội cho biết 10 tháng đầu năm
2018, khách du lịch đến Hà Nội ước đạt trên 21 triệu lượt khách, trong đó khách du
lịch quốc tế đến Hà Nội ước đạt 4,8 triệu lượt khách, khách du lịch nội địa ước đạt
gần 17 triệu lượt khách. Tổng thu từ khách du lịch ước đạt 63.378 tỷ đồng, tăng
6,9% so với cùng kỳ năm trước.
Khi nhu cầu đi du lịch ngày một tăng, số lượng các doanh nghiệp kinh doanh
lữ hành cũng tăng lên nhanh chóng, khả năng cạnh tranh trên thị trường ngày càng
gay gắt. Theo số liệu báo cáo tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp kinh
doanh lữ hành tiêu biểu trên địa bàn Thành phố, những tháng vừa qua tình hình
phục vụ khách du lịch của một số đơn vị kinh doanh lữ hành trên địa bàn tăng
trưởng khá, trong đó công ty TNHH Vietran Tour là đối thủ cạnh tranh của công ty
cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Apollo, Hà Nội ước tính đón 82 nghìn
lượt khách. Như vậy, để có thể cạnh tranh cùng nhau, ngoài yếu tố về vị trí địa lý,
về cơ sở vật chất, về nguồn nhân lực,...các doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh
lữ hành cũng đã chú trọng vào chính sách giá. Giá cả một mặt là yếu tố chiến lược
chủ chốt của marketing - mix. Nhu cầu và mong muốn của khách du lịch có thực
hiện được hay không phụ thuộc vào khả năng thanh toán, trong đó giá cả là yếu tố
mà khách du lịch đặc biệt xem xét. Việc định giá sản phẩm có ảnh hưởng đến sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để xây

chính sách giá tại công ty cổ phần Du lịch Nữ hoàng, Hải Phòng.
- Sầm Thị Thúy Hiền (2013), Hoàn thiện chính sách giá trong chiến lược
marketing - mix của khách sạn Phương Đông, Nghệ An, Luận văn tốt nghiệp, Đại học
Kinh tế quốc dân. Khóa luận đã tiếp cận về giá và chính sách giá, thông qua việc tìm
hiểu, phân tích cơ sở lý luận và thực trạng chính sách giá tại khách sạn kết hợp với
quan điểm và mục tiêu về chính sách giá của khách sạn, từ đó đưa ra các giải pháp và
kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách giá tại khách sạn Phương Đông, Nghệ An.
Tóm lại, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu toàn
diện chính sách giá tại công ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Apollo, Hà
Nội. Do đó, đề tài khóa luận tốt nghiệp này không bị trùng lặp và cần thiết được
nghiên cứu.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách
giá của công ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Apollo, Hà Nội.
Để đạt được mục tiêu trên cần phải triển khai 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về chính sách giá trong kinh doanh
du lịch.
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng chính sách giá tại công ty cổ phần Xúc tiến
Thương mại và Du lịch Apollo, Hà Nội.


11

- Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách giá tại công ty cổ
phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Apollo, Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
a, Đối tượng nghiên cứu: Những lý luận cơ bản và thực trạng chính sách giá của
công ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Apollo, Hà Nội.
b, Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu một số vấn đề về chính sách giá của


12

Bước 3: Tiến hành điều tra: Tiến hành phát trực tiếp cho 120 khách hàng đã hoặc
chưa sử dụng dịch vụ của công ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Apollo, Hà Nội.
Bước 4: Tổng hợp kết quả điều tra: Thu về được 90 phiếu điều tra đạt yêu cầu.
Tập hợp, phân loại lại câu trả lời của tất cả khách hàng làm tiền đề cho quá trình phân
tích, tính toán và so sánh kết quả đã thu tập được.
5.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
- Phương pháp thống kê: Thống kê số phiếu điều tra, tỷ lệ số phiếu đạt, sau đó xử
lý số liệu từ phiếu khảo sát thu về để đánh giá ý kiến của các khách hàng đã sử dụng
dịch vụ của công ty.
- Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp các dữ liệu liên quan đến chính sách giá, kết
quả hoạt động kinh doanh,...của doanh nghiệp cần thiết cho quá trình nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp so sánh: So sánh tình hình kết quả hoạt động kinh doanh, chính
sách giá để thấy được sự hợp lý hay bất cập, từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá
chính xác về vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích: Thống kê và phân tích các dữ liệu thu thập được để lựa
chọn những thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu đồng thời loại bỏ những dữ liệu
không còn phù hợp với hiện tại.
- Phương pháp đánh giá: Đánh giá sự tăng, giảm của các dữ liệu thứ cấp qua các
năm. Từ đó rút ra kết luận về thành công và hạn chế về việc thực hiện chính sách giá
của công ty qua các năm.
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Nội dung chính của khóa luận được kết cấu bao gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về chính sách giá trong kinh doanh lữ hành
Chương 2: Thực trạng về chính sách giá trong kinh doanh lữ hành ở công ty cổ
phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Apollo, Hà Nội
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách giá
tại công ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Apollo, Hà Nội

giá, tình hình kinh tế, chính trị - an ninh,...
- Khách mua sản phẩm du lịch thường ít trung thành với một nhãn hiệu, từ đó
gây ra những khó khăn trong dự đoán nhu cầu; nhu cầu sản phẩm du lịch thường mang
tính mùa vụ rõ rệt.
1.1.1.4. Lữ hành
Lữ hành (Travel): Theo nghĩa chung nhất là sự di chuyển từ nơi này đến nơi khác
của con người. Như vậy trong hoạt động du lịch có bao gồm yếu tố lữ hành nhưng không
phải tất cả các hoạt động lữ hành đều là du lịch. Ở Việt Nam, quan niệm lữ hành là một
lĩnh vực kinh doanh trong ngành du lịch liên quan đến việc tổ chức các chuyến đi (các
tour) cho du khách. Theo Điều 4, luật Du lịch năm 2005: Lữ hành là việc xây dựng, bán,
thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch.
1.1.1.5. Kinh doanh lữ hành
Theo Luật Du lịch năm 2017: Kinh doanh đại lý lữ hành là một tổ chức, cá nhân
bán chương trình du lịch của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành cho khách du lịch để


14

hưởng hoa hồng. Sản phẩm lữ hành được tạo ra theo một quy trình mang tính tổng hợp
cao và đa dạng, có những đặc điểm riêng có của dịch vụ. Vì thế kinh doanh lữ hành
cũng mang những dặc điểm đặc thù:
- Đặc điểm của sản phẩm lữ hành:
Sản phẩm lữ hành có tính chất tổng hợp: sản phẩm lữ hành là sự kết hợp của
nhiều dịch vụ như: dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống...của các nhà
sản xuất riêng lẻ thành một sản phẩm mới hoàn chỉnh. Sản phẩm lữ hành không đồng
nhất giữa các lần cung ứng do chất lượng dịch vụ cấu thành phụ thuộc vào tâm lý trạng
thái tình cảm của cả người phục vụ lẫn người cảm nhận. Không giống như ngành sản
xuất vật chất khác, sản phẩm lữ hành không bảo quản, lưu kho lưu bãi được.
- Đặc điểm khách hàng trong kinh doanh lữ hành:
Trong kinh doanh lữ hành, khách hàng là người trực tiếp tham gia vào quá trình

Cụ thể, giá là biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trong hoạt
động trao đổi, đồng thời biểu hiện tổng hợp các quan hệ kinh tế như cung - cầu hàng
hóa, tích lũy và tiêu dùng cạnh tranh,...
- Với người mua: Giá là khoản tiền phải trả cho người bán để được quyền sở hữu,
sử dụng một sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ nào đó.
- Với người bán: Giá của một loại hàng hóa, dịch vụ là khoản thu nhập mà người
bán nhận được từ việc tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ đó. Người bán coi mức giá tiêu thụ là
doanh thu tính cho một đơn vị sản phẩm, dịch vụ.
1.1.2.2. Khái niệm về chính sách giá
Người bán thường chào giá cao hơn mức mà họ hy vọng sẽ nhận được, còn
người mua thì trả giá thấp hơn giá mà họ có ý định chi. Sau khi mặc cả họ sẽ đi đến
giá mà có thể chấp nhận được. Giá đã tác động như một yếu tố quyết định việc lựa
chọn của người mua. “Chính sách giá đối với mỗi sản phẩm của các đơn vị sản xuất
kinh doanh là việc quy định mức giá bán cho phù hợp. Mức giá bán quy định có thể là
mức giá bán cho người tiêu dùng hoặc cho các tổ chức trung gian”.
1.2. Nội dung chính sách giá trong kinh doanh lữ hành
1.2.1. Mục tiêu định giá
- Tối đa hóa lợi nhuận: Nhiều doanh nghiệp muốn tănh nhanh lợi nhuận trước
mắt, trong trường hợp này doanh nghiệp thường ước tính nhu cầu thị trường theo giá
dựa trên kết quả phân tích thống kê trước đây, ước tính chi phí theo lượng sản phẩm
bán được. Trên cơ sở đó tìm ra mức giá có thể tối ưu hóa lợi nhuận. Tuy nhiên, trong
thực tế rất khó xác định được hàm của cầu theo giá. Nếu lấy mục tiêu lợi nhuận trước
mắt để định giá thì doanh nghiệp có thể kinh doanh không có hiệu quả lâu dài vì có thể
đã bỏ qua tác động của các yếu tố khác như cạnh tranh và các biến số còn lại của
marketing mix...
- Chiếm lĩnh thị phần: Nhiều doanh nghiệp lại muốn tăng tối đa mức tiêu thụ sản
phẩm, việc tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ sẽ làm chi phí đơn vị giảm xuống và
đảm bảo cho lợi nhuận lâu dài của doanh nghiệp. Khi đó, doanh nghiệp sẽ định giá
thấp để xâm nhập thị trường vì cho rằng thị trường rất nhạy cảm với giá và cố gắng
giành tối đa thị phần. Việc định giá để chiếm lĩnh thị phần được sử dụng khi có các

các mức giá khác nhau tùy theo thu nhập và biến đổi của các đối tượng dân cư khác nhau...
1.2.2. Các phương pháp định giá
1.2.2.1. Phương pháp định giá theo cách cộng lời vào chi phí
Phương pháp định giá cộng lời vào chi phí là phương pháp đơn giản nhất, hay
được dùng nhất trong kinh doanh dịch vụ du lịch:
+ mức lãi dự kiến cho một đơn vị
(Các mức lời dự kiến thay đổi tùy theo các loại sản phẩm khác nhau)
Nếu lãi theo tỷ suất lợi nhuận trên chi phí (m):
= AC × (1+m)
Nếu lãi theo tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (n):
= AC / (1 – n)
Trong đó: là giá dự kiến, AC là giá thành đơn vị
Phương pháp định giá này có ưu điểm sau: Đơn giản, dễ tính; khi các doanh
nghiệp kinh doanh du lịch đều tính theo cách này thì giá của họ có xu hướng tương tự
nhau; công bằng cho cả người mua và người bán, ngay cả khi nhu cầu cao, người bán
không thể ép giá người mua vì họ vẫn đạt được mức lời dự kiến trên vốn đầu tư của
họ. Tuy nhiên phương pháp này cũng có nhược điểm: Không chú ý đến nhu cầu hiện


17

tại, giá trị nhận thức được của khách hàng và tình hình sự cạnh tranh trên thị trường.
1.2.2.2. Phương pháp định giá theo lợi nhuận mục tiêu
Doanh nghiệp xác định mức giá sao cho đảm bảo được tỷ suất lợi nhuận mục tiêu
trên vốn đầu tư (ROI) theo công thức sau:
Phương pháp này có ưu điểm là cho phép doanh nghiệp xem xét các mức giá
khác nhau và ước tính những ảnh hưởng có thể có của chúng đến khối lượng tiêu thụ
và lợi nhuận. Cho phép dự báo khoảng thời gian để đạt được ‘điểm hòa vốn’ và thực
hiện được mức lợi nhuận mục tiêu, xác suất sẽ xảy ra của từng mức giá có thể. Tuy
nhiên phương pháp này cũng có nhược điểm như xem nhẹ ảnh hưởng của giá sản


nhưng vẫn không làm nản lòng khách tiêu thụ. Mục tiêu là bán được sản phầm với mức
lãi cao nhất. Chiến lược này thường được thực hiện với sản phẩm hoàn toàn mới và có
khách hàng sẵn sàng trả giá cao cho sản phẩm đó. Chiến lược này sẽ lôi cuốn các nhà
cạnh tranh vào thị trường vì lợi nhuận cao, khi đó họ sẽ bán sản phẩm với giá thấp hơn,
khi khách hàng có sự lựa chọn, doanh nghiệp hạ dần giá xuống. Chiến lược này thích
hợp với sản phẩm độc đáo, nhu cầu ít co giãn vì giá và không có sản phẩm thay thế, có
nhóm khách hàng chấp nhận giá cao, chi phí sản xuất quy mô nhỏ không quá cao, giá lúc
đầu cao không thu hút đối thủ cạnh tranh, giá cao duy trì hình ảnh chất lượng sản phẩm cao.
- Định giá thâm nhập thị trường, là phương pháp định giá ngược lại phương pháp
định giá trên. Doanh nghiệp định giá cho sản phẩm thấp có thể để dễ dàng chiếm đoạt
phần tối đa của thị trường, hay dốc sức xâm lấn vào thị trường. Tuy nhiên sau đó sẽ rất
khó nâng giá, mức lãi trên một sản phẩm thấp. Định giá thâm nhập thị trường khi nhu
cầu rất co giãn theo giá, chi phí thấp khi mua số lượng lớn với các yếu tố đầu vào, nhu
cầu cho sản phẩm, dịch vụ đó cao, giá thấp không hấp dẫn đối thủ cạnh tranh.
1.2.3.1. Định giá cho toàn danh mục sản phẩm
Các doanh nghiệp cần phải xây dựng được một cơ cấu giá đảm bảo lợi nhuận tối
đa của danh mục sản phẩm. Việc định giá danh mục sản phẩm khá phức tạp, vì trong
danh mục sản phẩm có nhiều loại sản phẩm liên quan đến nhau về nhu câu, chi phí và
phụ thuộc vào nhau theo những mức độ cạnh tranh khác nhau. Các doanh nghiệp
thường bán nhiều chủng loại sản phẩm khác nhau, do đó cần định giá cho những sản
phẩm có cùng chức năng. Đối với một số sản phẩm, dịch vụ để có thể sử dụng được,
người mua phải mua thêm các sản phẩm hay phụ tùng bắt buộc. Hay có thể định giá 2
phần, các công ty kinh doanh dịch vụ giải trí hay các công ty cung cấp dịch vụ điện
thoại thường dùng cách định giá hai phần, với 2 mức giá khác nhau. Các doanh nghiệp
dịch vụ cũng phải lựa chọn định giá bao nhiêu cho dịch vụ cơ bản và giá bao nhiêu cho
dịch vụ khách tự chọn như việc định giá sản phẩm bắt buộc.
1.2.4. Điều chỉnh giá và thay đổi giá
1.2.4.1. Điều chỉnh giá
- Định giá theo nguyên tắc địa lý: Do các khách hàng ở các khu vực địa lý khác

(thực chất là hình thức tài trợ chính của người bán cho khách hàng với mức lãi suất
thấp), bán hàng theo phiếu mua hàng (giảm giá cho những khách hàng có phiếu mua
hàng được phát trong những lần sử dụng dịch vụ trước) và chiết giá về tâm lý (đầu tiên
đưa ra giá bán cao sau đó bán với giá thấp thấp hơn nhiều để thu hút khách).
- Định giá trọn gói: Doanh nghiệp lữ hành thường kết hợp các sản phẩm, dịch vụ
của mình lại với nhau rồi bán với giá trọn gói để thu hút những khách hàng có ý định
mua cả gói và cả những khách hàng không có ý định mua cả gói. Nguyên tắc chung
của định giá trọn gói là: Giá bán trọn gói phải nhỏ hơn tổng số tiền mua từng sản phẩm
dịch vụ trong gói theo cách mua riêng lẻ từng sản phẩm một. Vì khách hàng có thể
không có ý định mua tất cả các phần trong gói đó, nên khoản tiết kiệm được do giá
trọn gói mang lại phải đủ lớn để thu hút khách hàng thích mua cả gói. Phương pháp
định giá này được sử dụng rất phổ biến trong kinh doanh dịch vụ.
- Định giá phân biệt: Các doanh nghiệp cũng có thể điều chỉnh mức giá cơ bản để
phù hợp hơn với những điểm khác biệt của sản phẩm, hay điều kiện của khách hàng,
hay vì các điều kiện khác. Doanh nghiệp có thể bán sản phẩm của mình với các mức
giá khác nhau cho các nhóm khách hàng mà không phải là do chi phí khác nhau. Một
số dạng của định giá phân biệt: Định giá theo nhóm khách hàng, định giá theo dạng
sản phẩm, định giá theo hình ảnh, định giá theo địa điểm, định giá theo thời gian.
1.2.4.2. Thay đổi giá


20

- Chủ động cắt giảm giá:
+ Doanh nghiệp có thể từ bỏ mức giá bám sát người dẫn đầu và chủ động giảm
giá để tăng mức tiêu thụ, tuy nhiên việc giảm giá này có thể làm cho đối thủ cạnh tranh
cũng giảm giá, hay khi thừa năng lực sản xuất, doanh nghiệp không thể tạo ra việc làm
bằng cách khác như cố gắng tăng mức tiêu thụ hay cải tiến dịch vụ.
+ Khi thị phần giảm sút do các đối thủ cạnh tranh tiến công mạnh mà doanh
nghiệp buộc phải định giá thấp hơn để tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm của mình.



21

- Nhà cung ứng: Doanh nghiệp cần phải giữ mối quan hệ tốt với nhà cung ứng để
có thể đảm bảo được nguồn cung của mình trong suốt quá trình cung ứng dịch vụ.
- Đối thủ cạnh tranh: Việc thay đổi giá của đối thủ cạnh tranh sẽ khiến doanh
nghiệp ấy đau đầu. Nếu giá mặt hàng của đối thủ cạnh tranh đột ngột giảm, doanh
nghiệp ấy buộc phải giảm giá sản phẩm của mình để giữ chân khách hàng.
- Trung gian marketing: Có thể có các doanh nghiệp lớn tự tổ chức lấy quá trình
phân phối, tức là thực hiện kênh phân phối trực tiếp mà không qua trung gian, hoặc tự
tổ chức nghiên cứu thị trường... Tuy nhiên, cạnh tranh buộc doanh nghiệp phải nghĩ tới
việc chuyên môn hoá mọi hoạt động của mình. Do vậy, các trung gian Marketing có
vai trò rất quan trọng. Họ giúp cho công ty tiết kiệm được chi phí, nâng cao chất lượng
sản phẩm dịch vụ, triển khai nhanh chóng hoạt động kinh doanh, và mở rộng thị trường.
- Khách hàng: Thu nhập của khách hàng được xem là yếu tố lớn nhất tác động
đến cầu thị trường, và kéo theo đó là sự ảnh hưởng đến việc định giá sản phẩm. Khi
thu nhập của khách hàng tăng doanh nghiệp có thể tăng giá sản phẩm và ngược lại.
1.3.2. Các nhân tố môi trường bên trong
- Mục tiêu marketing: Các doanh nghiệp cần phải xác định rõ các mục tiêu
marketing trước khi định giá sản phẩm, dịch vụ. Một số mục tiêu marketing: Đảm bảo
sự tồn tại của doanh nghiệp: mục tiêu đầu tiên của các doanh nghiệp là cần phải tồn
tại, mục tiêu này đảm bảo doanh thu bù đắp chi phí để các hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp có thể vận hành liên tục, tồn tại và phát triển; tăng thị phần: một số
doanh nghiệp muốn tăng tối đa mức tiêu thụ đơn vị sản phẩm, dịch vụ, khối lượng tiêu
thụ nâng cao dẫn đến chi phí càng thấp và lợi nhuận lâu dài cao, với mục tiêu này, giá
thường thấp và phù hợp với thị trường nhạy cảm về giá; tối đa hóa lợi nhuận: khi đã đạt
được lượng thị phần mục tiêu nhất định, doanh nghiệp sẽ chuyển sang mục tiêu tối đa
hóa lợi nhuận, củng cố năng lực cạnh tranh và uy tín của doanh nghiệp; dẫn đầu về
chất lượng: doanh nghiệp có thể đặt ra mục tiêu trở thành người dẫn đầu thị trường về

2.1.1. Tổng quan về công ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Apollo, Hà Nội
2.1.1.1. Giới thiệu chung về công ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Apollo, Hà Nội
* Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phẩn Xúc tiến Thương mại
và Du lịch Apollo, Hà Nội
Tên Công ty: Công ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Apollo


23

Tên tiếng Anh: APOLLO TRAVEL AND TRADE PROMOTION JOINT
STOCK COMPANY.
Tên giao dịch: APOLLO TRAVEL SERVICE
Giấy phép kinh doanh và Mã số thuế: 0105329923.
Giấy phép lữ hành Quốc tế: 01-1162/2018/TCDL-GPLHQT.
Vốn pháp định: 1.900.000.000 VNĐ
Vốn đầu tư: 1.500.000.000 VNĐ
Địa chỉ: Số 101, ngách 187/49, Hồng Mai - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội.
Văn phòng kinh doanh Hà Nội: 89 Thụy Khuê, Tây Hồ , Hà Nội
Số điện thoại: 024 3622 9052
Website: www.apollotravel.vn
Ngày 26/05/2011 công ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Apollo, Hà
Nội được ra đời với mục đích và tôn chỉ hàng đầu là xây dựng một phong cách phục
vụ đẳng cấp, đáp ứng càng ngày càng nhiều nhu cầu của khách hàng với thời gian
ngày càng rút ngắn và hiệu quả ngày càng nâng cao.
Năm 2011-2013, Apollo Travel mở rộng thị trường ở các tỉnh phía Bắc và bước
đầu thu hút được khách hàng. Năm 2013-2015, Apollo Travel mở rộng thị trường
thêm các tỉnh phía Bắc và mở rộng việc tổ chức ghép khách lẻ trong nước và quốc tế
hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng. Đây là khoảng thời gian công ty tập trung khai thác
tập khách hàng mục tiêu là khách hàng có thu nhập trung bình và thấp.
Năm 2016-2018, Apollo Travel tiếp tục triển khai mở rộng một số tour tuyến

Phòng Dịch Vụ

Phòng kinh doanh

Phòng Kế toán – Tổng hợp

Phòng Vé Máy Bay

Phòng SEO/Web

Phòng Hành chính – Nhân sự

Phòng Hướng Dẫn

Bộ phận Chăm sóc KH

Hình 2.2. Cơ cấu tổ chức tại công ty cổ phần Xúc tiến
Thương mại
và Du lịch Apollo, Hà Nội
(Nguồn: Công ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Apollo, Hà Nội)
Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần
Xúc tiến Thương mại và Du lịch Apollo, Hà Nội :
Ban Giám Đốc: là người đại diện cho công ty trong các giao dịch với các tổ chức
kinh tế và chịu trách nhiệm trước các cơ quan quản lý của Nhà nước Việt Nam; tổ
chức và quản lý các hoạt động kinh doanh của công ty; giải quyết khó khăn; thiết lập
mở rộng và duy trì các mối quan hệ đối tác.
Phòng Dịch vụ: Sản xuất, cung cấp và tư vấn các dịch vụ du lịch nội địa, du lịch
quốc tế, làm visa, hộ chiếu, đặt phòng khách sạn, đặt vé máy bay, vé tàu và cho thuê xe
du lịch; liên kết với các đối tác khác trong nước để hợp tác và bán các sản phẩm du lịch.


lược do Ban Giám đốc đề ra với phương châm “Đơn giản – Hiệu quả”, công ty chú
trọng vào chuyên môn hóa và sự phối hợp chặt chẽ giữa các trung tâm chức năng và
phòng ban hỗ trợ.
Về ưu điểm:
- Cơ cấu tổ chức quản lý không bị vướng mắc, chồng chéo, cản trở lẫn nhau giữa
các bộ phận. Các bộ phận chịu có thể hỗ trợ lẫn nhau trong công việc, tránh việc đùn
đẩy trách nhiệm cũng như bỏ sót công việc.
- Hệ thống đội ngũ nhân viên và lãnh đạo chuyên nghiệp hóa, gồm nhiều thành
viên đã có kinh nghiệm, trẻ trung nhiệt huyết. Phát huy sự chuyên môn hóa chất lượng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status