luận văn kinh doanh quốc tế nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần giáo dục nhân việt - Pdf 59

i
TÓM LƯỢC
Trong nền kinh tế thị trường việc các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong sự
cạnh tranh gay gắt là điều tất yếu. Cạnh tranh không chỉ được coi là môi trường và
động lực mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa các mối quan hệ xã hội.
Cạnh tranh không chỉ đo lường bằng năng lực nội tại của doanh nghiệp mà còn được
đo bằng sự so sánh giữa các chủ thể với nhau. Để đạt được vị thế cạnh tranh mạnh của
mình là yêu cầu sống còn của mỗi doanh nghiệp đồng nghĩa với nó doanh nghiệp phải
nhanh chóng thay đổi một cách cơ bản những suy nghĩ của mình về công việc kinh
doanh. Song song với việc kinh doanh hiệu quả còn phải làm thế nào để gia tăng thế
mạnh hạn chế điểm yếu nhằm nâng cao vị thế của mình so với các doanh nghiệp khác.
Một trong những phương thức để doanh nghiệp có thể làm được điều đó chính là việc
nhận thức đúng đắn và tìm ra cho mình những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp mình.
Năng lực cạnh tranh là sức mạnh của doanh nghiệp được thể hiện trên thương
trường. Sự tồn tại và sức sống của một doanh nghiệp thể hiện trước hết ở năng lực
cạnh tranh. Để từng bước vươn lên giành thế chủ động trong quá trình hội nhập, nâng
cao năng lực cạnh tranh chính là tiêu chí phấn đấu của các doanh nghiệp hiện nay.
Ngày nay, Du học trở thành một hiện tượng kinh tế, xã hội phổ biến trên toàn thế
giới, dịch vụ du học phát triền song song với: sự phát triển của nền kinh tế nói chung,
việc tăng thu nhập của người dân, tạo công ăn việc làm sau khi học tập trở về nước …
dẫn tới xu thế phát triển của ngành kinh doanh tư vấn du học.
Dựa trên cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, khóa luận đánh
giá thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty trên thị trường bằng việc so sánh với
hai đối thủ cạnh tranh chính là: Công ty du học NewOcean, Công ty KEI Việt Nam. Từ
đó rút ra những kết luận về thực trạng năng lực cạnh tranh về dịch vụ du học Nhật
Bản, Hàn Quốc trên thị trường hiện nay. Nêu lên những ưu điểm, nhược điểm đồng
thời tìm ra nguyên nhân của những nhược điểm, qua đó đề xuất và kiến nghị các giải
pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần giáo dục Nhân Việt.
Do thời gian nghiên cứu hạn chế, kiến thức hiểu biết chưa nhiều nên việc giải
quyết đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần giáo dục Nhân Việt”

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần giáo dục Nhân Việt từ
2015 đến 2017
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế ( GDP) Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2017

Bảng 2.3: Chỉ số lạm phát (CPI) Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2017
Bảng 2.4: Chất lượng lao động tại công ty cổ phần giáo dục Nhân Việt
Bảng 2.5: Cơ cấu lao động của công ty cổ phần giáo dục Nhân Việt
Bảng 2.6: Tổng mức và cơ cấu vốn kinh doanh của công ty cổ phần giáo dục Nhân Việt
Bảng 2.7: Tổng mức và cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của công ty cổ phần giáo dục
Nhân Việt
Bảng 2.8: Chỉ tiêu thị phần tuyệt đối của công ty và một số đối thủ cạnh tranh chủ yếu

Bảng 2.9: Năng suất lao động của công ty cổ phần giáo dục Nhân Việt
Bảng 2.10: Kết quả khảo sát đánh giá Năng lực cạnh tranh của công ty và đối thủ cạnh
tranh


iv
Bảng 2.11:Chi phí du học của công ty và đối thủ cạnh tranh


v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT

TÊN ĐẦY ĐỦ

TÊN VIẾT TẮT


THPT
TP


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cạnh tranh xuất hiện cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá. Cạnh tranh
không chỉ là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa những người sản xuất kinh doanh
mà còn là sự cạnh tranh giữa người bán hàng, giữa khách hàng với người bán hay giữa
chính các khách hàng với nhau. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh vừa là môi
trường, vừa là động lực của sự phát triển, không chỉ của mỗi cá nhân, mỗi doanh
nghiệp mà cả nền kinh tế nói chung, nó góp phần xóa bỏ những độc quyền, bất hợp lí,
bất bình đẳng trong kinh doanh.
Kết quả của quá trình cạnh tranh sẽ quyết định doanh nghiệp nào tiếp tục tồn tại,
phát triển và doanh nghiệp nào sẽ bị đào thải. Do đó vấn đề nâng cao năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp đã trở thành một vấn đề quan trọng hàng đầu mà bất cứ doanh
nghiệp nào cũng cần quan tâm.
Trở thành thành viên chính thức của WTO, các doanh nghiệp phải tự mình vận
động để tồn tại và phát triển trong cơ chế mới. Bên cạnh việc được hưởng các ưu đãi
thuế quan từ các quốc gia thành viên trong tổ chức WTO thì Việt Nam cũng phải thực
hiện việc cắt giảm mức thuế quan đồng thời dỡ bỏ các hàng rào phi thuế. Điều này mở
cho các doanh nghiệp Việt rất nhiều cơ hội, song song với đó cũng là không ít các khó
khăn khi mà phải cạnh tranh trong một sân chơi bình đẳng. Nếu doanh nghiệp không
có ý thức nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ bị rơi vào nguy cơ tụt hậu và bị đào thải
khỏi thị trường. Chính vì vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có ý
nghĩa quyết định đối với sự tồn tại sống còn của mỗi doanh nghiệp nói riêng và sự
tăng trưởng kinh tế nói chung.
Nhận thấy vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh tại doanh nghiệp là một vấn đề
hết sức quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Vì vậy, trải qua quá trình học tập lý

cạnh tranh và những phương pháp xác định năng lực cạnh tranh, qua đó là cơ sở hình
thành hệ thống lý thuyết trong bài khóa luận.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Các thành tựu trong nước có liên quan đến nội dung đề tài tiêu biểu như:
(1) PGS.TS Nguyễn Hoàng Long – PGS.TS Nguyễn Hoàng Việt, “Giáo trình
Quản trị chiến lược”, Trường Đại học Thương Mại, NXB Thống kê. Cuốn sách đã
cung cấp lý thuyết về các yếu tố có liên quan đến quá trình quản trị chiến lược và bản
thân các hoạt động của quá trình này; đồng thời cũng nghiên cứu những đặc điểm môi
trường, thị trường trong nước và quốc tế giúp các nhà quản trị có thể xác định vị thế
cạnh tranh của doanh nghiệp trong dài hạn.


3
(2) PGS.TS Nguyễn Bách Khoa, “Chiến lược kinh doanh quốc tế”, NXB Thống
Kê. Cuốn sách nêu bật bản chất và vai trò của quản trị chiến lược quốc tế, tư duy và
các loại hình chiến lược kinh doanh quốc tế, phân tích môi trường, vận dụng triển khai
và đánh giá chiến lược kinh doanh của các công ty có liên quan đến môi trường kinh
doanh quốc tế.
Và Các đề tài luận văn tốt nghiệp khóa trước cuả trường Đại học Thương mại
cùng đề tài nâng cao nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp.
(1) Sinh viên thực hiện: Cao Thị Phương Thảo (2013), đề tài: “Nâng cao năng
lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Thụy Việt”, Khóa luận tốt
nghiệp, ĐHTM.
(2) Sinh viên thực hiện: Lê Thị Yến (2014), đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh
tranh bằng chất lượng sản phẩm và dịch vụ của Công ty cổ phần Tân Phong”, Khóa
luận tốt nghiệp, ĐHTM.
(3) Sinh viên thực hiện: Dương Thị Quỳnh (2015), đề tài: “Nâng cao khả năng
cạnh tranh của chi nhánh Công ty Cổ phần tập đoàn quốc tế Năm Sao trên thị trường
miền Bắc”, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHTM.
(4) Sinh viên thực hiện: Vũ Duy Cơ (2017), đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh

- Phạm vi về thời gian: Thu thập các dữ liệu trong giai đoạn 2015 – 2017 và xây
dựng giải phấp đến 2023.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
a, Phương pháp thu nhập và xử lý dữ diệu sơ cấp
- Quan sát thực tế tại doanh nghiệp về biểu tượng, logo, nội thất, ngoại thất của
công ty.
- Sử dụng phiếu khảo sát: đây là phương pháp thu thập dữ liệu dựa trên các phiếu
khảo sát dành cho Ban giám đốc trong công ty và khách hàng của công ty. Các câu hỏi
được thiết kế dưới dạng câu hỏi có trả lời sẵn để thu thập thông tin về hoạt động chung
và thực trạng khả năng cạnh tranh của công ty như tình hình kinh doanh tại công ty,
các công cụ cạnh tranh của công ty.
b, Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp được sử dụng trong bài được lấy từ các nguồn sau:
- Nguồn thông tin bên trong: Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty trong 3
năm 2015, 2016, 2017 (doanh thu, lợi nhuận, chi phí, thu nhập bình quân của nhân
viên…); Báo cáo tài chính trong 3 năm, cơ cấu sử dụng lao động, Website công ty,
giấy phép đăng ký kinh doanh của công ty.


5
- Nguồn thông tin bên ngoài: Chủ yếu là các tài liệu liên quan đến lý luận về
Năng lực cạnh tranh (tham khảo các giáo trình, sách nghiên cứu khoa học, các luận
văn khóa trước); Báo cáo ngành, các trang báo điện tử.
5.2. Phương pháp phân tích
- Phương pháp phân tích tổng hợp: là phương pháp dựa trên các dữ liệu đã thu
thập được, tiến hành tổng hợp và rút ra nhận xét, đánh giá. Thông qua kết quả thu thập
nhập dữ liệu ở các bộ phận đó là các dữ liệu sơ cấp và các dữ liệu thứ cấp, các dữ liệu
này sẽ được đi sâu nghiên cứu để tìm ra các yếu tố còn tồn tại tiềm ẩn mà chỉ quan sát
thì không thể thấy được. Từ đó có những nhận định đánh giá thông qua phương pháp

với đối thủ cạnh tranh.
Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ
nghĩa Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật
điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị
trường. Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả
năng có thể bán hành hoá dưới giá trị của nó nhưng vân thu đựơc lợi nhuận.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập1): Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt
động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân,các nhà
kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các
điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất.
Từ điển thuật ngữ Kinh tế học (NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội 2001): Cạnh
tranh là sự đấu tranh giữa các cá nhân, tập đoàn, hay quốc gia. Cạnh tranh xuất hiện
khi hai bên hay giữa các bên cố giành lấy những thứ mà không phải ai cũng có thể
giành lấy được.
Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn kinh tế học
(xuất bản lần thứ 12) cho rằng cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các


7
doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường. Hai tác giả này
cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo.
Ba tác giả Mỹ khác là D.Begg, S. Fischer và R. Dornbusch cũng cho cạnh tranh
là cạnh tranh hoàn hảo, các tác giả này viết. Một cạnh tranh hoàn hảo, là ngành trong
đó mọi người đều tin rằng hành động của họ không gây ảnh hưởng tới giá cả thị
trường, phải có nhiều người bán và nhiều người mua.
Qua các khái niệm cho thấy các cách hiểu không giống nhau ở trong nước cũng
như ở ngoài nước, có thể rút ra được điểm chung :
Cạnh tranh là sự ganh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế có chức
năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành phần thắng
trong cuộc đua, để thoả mãn các mục tiêu của mình. Các mục tiêu này có thể là thị

Năng lực cạnh tranh thể hiện ở việc làm tốt hơn với các công ty so sánh (các đối
thủ) về doanh thu, thị phần, khả năng sinh lời và đạt được thông qua các hành vi chiến
lược, được định nghĩa như là một tập hợp các hành động tiến hành để tác động tới môi
trường nhờ đó làm tăng lợi nhuận công ty, cũng như bằng những công cụ marketing
khác. Nó cũng đạt được thông qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm mà sự sáng tạo
sản phẩm là những khía cạnh rất quan trọng của quá trình cạnh tranh.
Nguyễn Bách Khoa (2011), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tích hợp
với các khả năng và các nguồn lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định
vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ với đối thủ cạnh
tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định.
PGS.TS Nguyễn Hoàng Long (2015) Giáo trình Quản trị chiến lược "NLCT là
những năng lực mà DN thực hiện đặc biệt tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Đó là
những thế mạnh mà các đối thủ cạnh tranh không thể dễ dàng thích ứng và sao chép".
Ngoài ra không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với
năng lực kinh doanh. Từ đó có thể đưa ra năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả
năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng
mạng lưới tiêu thụm thu hút và sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích
kinh tế cao và bền vững. Năng lực cạnh tranh mang tính tổng hợp, gồm nhiều chỉ tiêu
cấu thành và có thể xác định được cho nhóm doanh nghiệp và từng doanh nghiệp.
1.2. Các nội dung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.1. Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện năng lực và lợi thế của doanh
nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách
hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Đây là yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp bao
gồm:


9
1.2.1.1 Nhân lực
Nhân lực: Bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã



10
nghiệp nào có tiềm lực tài chính tốt, phát huy tốt tiềm lực đó tất yếu sẽ thu được nguồn
lợi nhuận cao, làm tăng thêm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.2.1.3 Cơ sở vật chất
Cơ sở vật chất của doanh nghiệp là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động của
mỗi doanh nghiệp, là nền tảng cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Cùng với thời gian và sự phát triển mạnh mẽ của nền khoa học kĩ thuật hiện đại, cơ sở
vật chất của doanh nghiệp cũng ngày càng bị mài mòn, hỏng hóc hoặc không phù hợp
để chế tạo ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thời đại. Do đó, doanh nghiệp
muốn mở rộng sản xuất và hiện đại hoá sản phẩm của doanh nghiệp mình thì trong
chiến lược đầu tư phải chú trọng cả việc hiện đại hoá và mở rộng cơ sở vật chất kĩ
thuật phù hợp với định hướng sản xuất kinh doanh.
Cơ sở vật chất tốt sẽ tạo ra những sản phẩm tốt, chất lượng tốt, năng suất cao,…
Điều đó giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và giảm giá
thành sản phẩm góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
• Thị phần doanh nghiệp trên thị trường
Thị phần phản ánh thế mạnh của doanh nghiệp trong ngành, là chỉ tiêu được
doanh nghiệp hay dùng để đánh giá mức độ chiếm lĩnh thị trường của mình so với đối
thủ cạnh tranh. Thị phần lớn sẽ tạo lợi thế cho doanh nghiệp chi phối và hạ thấp chi
phí sản xuất do lợi thế về quy mô một thời kỳ là tỷ lệ phần trăm thị trường mà doanh
nghiệp đã chiếm lĩnh được trong thời kỳ đó. Có các loại thị phần sau:
- Thị phần tuyệt đối: Thị phần của doanh nghiệp đối với một số loại hàng hóa,
dịch vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với
tổng doanh thu của tất cả doanh nghiệp kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vu đó trên
thị trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này
với tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch
vụ đó trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm.

phẩm đó.
Công thức tính:
Lượng sản phẩm đảm bảo chất lượng
Năng suất lao động =

* 100%
Số lượng lao động làm ra sản phẩm đó

Năng suất lao động của doanh nghiệp càng cao bao nhiêu thì năng lực cạnh tranh
càng cao bấy nhiêu so với các doanh nghiệp cùng lĩnh vực.
• Thương hiệu của doanh nghiệp
Đây là chỉ tiêu có tính chất rất khái quát, nó bao gồm rất nhiều yếu tố như: chất
lượng sản phẩm, các hoạt động dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp, hoạt động
marketing, quan hệ của doanh nghiệp với các tổ chức tài chính, mức độ ảnh hưởng của
doanh nghiệp với chính quyền. Đó là tài sản vô hình vô giá mà doanh nghiệp nào cũng
coi trọng, nếu mất uy tín thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ không có khả năng cạnh tranh


12
trên thị trường. Có uy tín doanh nghiệp có thể huy động được rất nhiều nguồn lực như:
vốn, nguyên vật liệu, và đặc biệt là sư an tâm, gắn bó của người lao động với doanh
nghiệp hay sự ủng hộ của chính quyền địa phương với công ty.
Xây dựng thương hiệu là vấn đề đòi hỏi thời gian, khả năng tài chính và ý chí
không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ. Một doanh nghiệp có năng lực
cạnh tranh cao cũng có nghĩa là họ đã xây dựng được thương hiệu mạnh, thương hiệu
đó luôn được khách hàng nhớ và nhận biết rõ ràng. Một thương hiệu mạnh là một
thương hiệu có thể tạo được sư ấn tượng tò mò cho khách hàng, kích thích họ sử dụng
sản phẩm. Nếu khách hàng đã thích một thương hiệu họ sẽ trung thành với thương
hiệu đó.
1.2.3 Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp

chuyền sản xuất, nguyên vật liệu, trình độ tay nghề lao động, trình độ quản lý.. Chất
lượng sản phẩm có thể được đọc hiểu là mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn kinh tế kỹ
thuật hoặc là khả năng thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Nâng cao chất lượng thì
phải giải quyết được hai vấn đề trên.
Xuất phát từ quan điểm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng, khi đời sống con
người ngày càng cao thì việc cải thiện chất lượng sản phẩm trở thành vấn đề cấp bách
đối với mỗi doanh nghiệp. Làm ngược lại, doanh nghiệp đã tự từ chối khách hàng, đẩy
lùi hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác, cải tiến sản phẩm còn giúp doanh nghiệp
hội nhập tốt hơn với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế.
Hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, một quan điểm mới về chất lượng
sản phẩm đã xuất hiện: chất lượng sản phẩm không chỉ là tốt, bền, đẹp mà nó còn do
khách hàng quyết định. Quản lý chất lượng sản phẩm là yếu tố chủ quan còn sự đánh
giá của khách hàng mang tính khách quan. Quan điểm này xuât phát từ thực tế là mức
độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên quyết liệt hơn.
Chất lượng sản phẩm thể hiện tính quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp ở
chỗ:
- Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối
lượng hàng hóa bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm.
- Sản phẩm chất lượng cao sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp, kích thích khách
hàng mua hàng và mở rộng thị trường.
- Chất lượng sản phẩm cao làm tăng khả năng sinh lời, cải thiện tình hình tài
chính của doanh nghiệp.
1.2.3.2. Giá cả
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì giá bán sản phẩm là một trong những
công cụ quan trọng thường được sử dụng. Bởi giá bán sản phẩm có ảnh hưởng trực


14
tiếp đến sự hấp dẫn của sản phẩm và sản lượng tiêu thụ. Hai hàng hóa có cùng công
dụng chất lượng như nhau, khách hàng sẽ mua hàng hóa nào có giá thấp hơn. Có nhiều


15
- Chính sách phân biệt giá: là chính sách đưa ra những mức giá khác nhau đối với
cùng một loại sản phẩm khi bán cho những đối tượng khách nhau, cho những khu vực
thị trường khác nhau, hoặc khách hàng mua với số lượng khác nhau hoặc trong những
thời điểm khác nhau. Chính sách này giúp doanh nghiệp thỏa mãn được nhiều đối
tượng khách hàng có nhu cầu và khả năng thanh toán khác nhau, tạo nên sư linh hoạt
về giá để hấp dẫn khách hàng đồng thời vẫn đảm bảo bù đắp được những chi phí phát
sinh do sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao hơn hoặc do vận chuyển sản phẩm
đến những địa điểm khác nhau.
Như vậy, việc nghiên cứu và vận dụng chính sách định giá là một vấn đề khá
phức tạp đòi hỏi mỗi donh nghiệp phải luôn linh hoạt và sáng tạo bởi giá cả không
phải chỉ được quyết định bởi giá trị hàng hóa mà còn phụ thuộc vào khả năng thanh
toán của khsch hàng.
1.2.3.3. Hệ thống phân phối
Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường bao gồm cả chức năng sản xuât và tiêu
thụ. Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, đây cũng
là giai đoạn thực hiện bù đắp chi phí và thu lợi nhuận.
Trước hết là phải lựa chọn các kênh phân phối để sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ
nhanh chóng, hợp lý và đạt hiệu quả cao. Tiêu thụ nhanh với số lượng nhiều sẽ tăng
nhanh vòng quay của vốn, tăng lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Xây dựng
một hệ thống mạng lưới tiêu thụ sản phẩm đòi hỏi tính toán nhiều yếu tố, phải mất
nhiều năm và không dễ gì thay đổi được nó. Bù lại, doanh nghiệp có một nền móng
vững chắc để phát triển thị trường, bảo vệ thị phần của doanh nghiệp có được.
Bên cạnh việc tổ chức mạng lưới bán hàng, doanh nghiệp cũng cần đẩy mạnh các
hoạt động hỗ trợ bán hàng như quảng cáo, khuyến mại, một số chính sách phục vụ
khách hàng như chính sách thanh toán, các dịch vụ trước và sau bán hàng. Đây là một
hình thức cạnh tranh phi giá, gây sự chú ý và thu hút của khách hàng.
Công tác tổ chức tiêu thụ tốt cũng là một trong những yếu tố làm tăng uy tín của
doanh nghiệp trên thị trường. Các hoạt động giao tiếp khuếch trương như quảng cáo,

trọng ảnh hưởng đến doanh nghiệp.
+ Hệ thống thuế và mức thuế suất là những căn cứ cơ sở để Nhà nước điều khiển
mối quan hệ cung cầu các sản phẩm hàng hóa khác nhau trong nền kinh tế. Nó có ảnh
hưởng lớn và trực tiếp đến thu nhập của các doanh nghiệp, hay tổ chức tạo ra những
nguy cơ hay triển vọng phát triển của doanh nghiệp.
- Môi trường chính trị - pháp luật
Các nhân tố này tác động đến doanh nghiệp theo những hướng khác nhau. Chúng
có thể tạo ra cơ hội hay trở ngại, thậm chí là rủi ro thực sự cho doanh nghiệp, tổ chức.


17
Sự ổn định về an ninh chính trị, nhất quán về quan điểm các chính sách lớn luôn là
môi trường tốt và sự hấp dẫn với các nhà đầu tư. Hệ thống luật pháp được ban hành và
xây dựng hoàn thiện sẽ là cơ sở để các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh ổn định.
- Môi trường khoa học công nghệ
Đây là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến chiến lược kinh doanh trong các lĩnh vực
kinh tế của ngành cũng như nhiều doanh nghiệp, tổ chức. Sự phát triển khoa học công
nghệ sẽ tạo ra những cơ hội cũng như nguy cơ cho các doanh nghiệp. Cho phép những
doanh nghiệp ứng dụng những khoa học hiện đại để tạo ra các sản phẩm có sức cạnh
tranh lớn và ngược lại nó cũng có thể làm cho công nghệ hiện tại trở nên lỗi thời.
- Môi trường văn hóa - xã hội
Do những lối sống luôn thích ứng và tự thay đổi nhanh chóng theo hướng du
nhập những lối sống văn hóa mới, nên có thể làm nảy sinh ra những cơ hội kinh doanh
hoặc ngược lại. Vì vậy, doanh nghiệp cần phải xác định rõ mục tiêu và tính đến các
khả năng này thông qua thái độ tiêu dùng, sự thay đổi của tháp tuổi, xu hướng tiêu
dùng,..
Sự xuất hiện của hiệp hội những người tiêu dùng là một cản trở đòi hỏi các doanh
nghiệp phải quan tâm, đặc biệt là chất lượng sản phẩm phải đảm bảo lợi ích của người
tiêu dùng.
Các yếu tố văn hóa – xã hội như: phong tục tập quán, lối sống, thói quen đều có

được tất cả nhu cầu của các loại khách hàng. Cho nên các doanh nghiệp cần phải phân
loại khách hàng thành các nhóm khác nhau, trên cơ sở đó tiến hành phân tích và đưa ra
các chính sách thích hợp để thu hút ngày càng nhiều khách hàng về phía mình.
- Đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành: các đối thủ cạnh tranh trong ngành
quyết định tính chất và mức độ tranh đua giành giật lợi thế trong ngành, mà mục đích
cuối cùng là giữ vững và phát triển thị phần hiện có, đảm bảo thu được lợi nhuận cao
nhất. Cạnh tranh trở nên khốc liệt khi ngành ở giai đoạn bão hòa hoặc suy thoái hoặc
có đối thủ cạnh tranh cùng năng lực. Đây là đối tượng ảnh hưởng rất lớn đến doanh
nghiệp. Do vậy doanh nghiệp cần phải tìm hiểu mọi thông tin về đối thủ như: điểm
mạnh, điểm yếu, chiến lược,... của đối thủ cạnh tranh. Trên cơ sở đó hoàn thiện những
mặt còn yếu kém, phát huy những thế mạnh của doanh nghiệp từng bước nâng cao
năng lực cạnh tranh hơn đối thủ.
- Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: Khi một ngành có sự gia tăng thêm đối thủ cạnh
tranh mới thì hệ quả là tỷ suất lợi nhuận giảm và tăng thêm mức độ cạnh tranh. Các
đối thủ cạnh tranh mới tham gia vào thị trường sau nên họ có lợi thế trong ứng dụng
những thành tựu mới của khoa học công nghệ. Không phải lúc nào cũng gặp phải đối
thủ cạnh tranh tiềm ẩn, nhưng khi đối thủ mới xuất hiện thì vị thế cạnh tranh của
doanh nghiệp sẽ thay đổi. Vì vậy, doanh nghiệp cần phải tạo ra cho mình một hàng rào


19
ngăn cản sự xâm nhập của đối thủ mới. Những hàng rào này là lợi thế sản xuất theo
quy mô, đa dạng hóa sản phẩm, sự đòi hỏi có nguồn tài chính lớn, chi phí chuyển đổi
mặt hàng cao, khả năng hạn chế xâm nhập các kênh tiêu thụ.
- Sản phẩm thay thế: Khi giá cả mặt hàng mà doanh nghiệp cung ứng cao thì
khách hàng có xu hướng sử dụng các sản phẩm thay thế. Nó có thể làm giảm thị phần
và làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, và ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status