Thực trạng giảng dạy tiếng Trung cho học sinh trung học phổ thông ở khu vực phía Nam đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân - Pdf 60

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
TẠP CHÍ KHOA HỌC
ĐẠI HỌC SÀI GÒN
Số 62 (02/2019)
Email: ;

SAIGON UNIVERSITY
SCIENTIFIC JOURNAL
OF SAIGON UNIVERSITY
No. 62 (02/2019)
Website:

THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY TIẾNG TRUNG CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở KHU VỰC PHÍA NAM ĐÁP ỨNG
YÊU CẦU ĐỔI MỚI DẠY VÀ HỌC NGOẠI NGỮ
TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN
The situation of teaching Chinese for high school students in the Southern
Vietnam to meet the requirements of foreign language teaching and learning
innovation in the national education system
TS. Nguyễn Thị Minh Hồng(1), TS. Nguyễn Phước Lộc(2), PGS.TS. Huỳnh Văn Sơn(3)
(1),(2),(3)Trường

Đại học Sư phạm TP.HCM

Tóm tắt
Kết quả nghiên cứu thực trạng giảng dạy tiếng Trung cho học sinh (HS) trung học phổ thông (THPT) đáp
ứng yêu cầu đổi mới dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân ở khu vực phía Nam cho
phép nhận định, việc thực hiện các yêu cầu về nội dung, phương pháp giảng dạy và công tác đánh giá của
đội ngũ giáo viên tiếng Trung thời gian qua đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Kết quả này có
được từ việc so sánh mức độ đánh giá của giáo viên và học sinh về các tiêu chí: kiến thức cơ bản, kỹ năng,
thực hiện các yêu cầu về nội dung, phương pháp giảng dạy. Tuy nhiên để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao

ngoại ngữ 2020) [2], với mục tiêu chung là
thực hiện đổi mới toàn diện việc dạy và học
ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục, nhằm
đảm bảo đến năm 2015 đạt được bước tiến
rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại
ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một
số lĩnh vực ưu tiên. Thể hiện quyết tâm thực
thi Đề án Ngoại ngữ 2020, ngày 8/4/2011
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục
ký Quyết định số 1400/QĐ-BGDĐT thành
lập Ban Quản lý Đề án “Dạy và học ngoại
ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai
đoạn 2008-2020” [1]. Trên tinh thần của Đề
án, có thể nhận thấy, ngoài tiếng Anh là
ngoại ngữ chính thức và bên cạnh tiếng Hàn,
Pháp, Nga, tiếng Trung cũng được khuyến
khích đưa vào giảng dạy và học tập như là
ngoại ngữ thứ hai tại các trường phổ thông,
cao đẳng và đại học.
Trước yêu cầu đổi mới toàn diện và
trong bối cảnh hiện nay của đất nước, ngoại
ngữ trong đó có tiếng Trung là công cụ,
phương tiện đắc lực và hữu hiệu cho tiến
trình hội nhập cũng như phát triển. Thực tế

cho thấy, việc dạy học tiếng Trung hiện nay
ở nước ta đang ngày càng phát triển [10].
Tuy nhiên, còn tồn tại một số khó khăn, bất
cập gây ảnh hưởng không tốt tới chất lượng
giảng dạy tiếng Trung. Việc nghiên cứu


Tỷ lệ phần
trăm (%)

Tp. Hồ Chí Minh

33

38,37

Tiền Giang

22

25,58

Bình Dương

17

19,77

Đồng Nai

14

16,28

Nam



Hiệu trưởng

28

32,56

Phó Hiệu trưởng

16

18,6

Giáo viên

42

48,84

Dưới 10 năm

46

53,49

Từ 11 - 15 năm

29

33,72


Bình Dương

34

17

Đồng Nai

31

15,5

Nam

84

42

Nữ

116

58

Lớp 10

80

40

Tiền Giang có 22 CB-GV (chiếm 25,58%),
Bình Dương có 17 CB-GV (chiếm 19,77%)
và Đồng Nai có 14 CB-GV (chiếm 16,28%).
+ Tiêu chí về giới tính: 49 CB-GV nam
(chiếm 56,98%); CB-GV nữ (chiếm 43,02%).
+ Tiêu chí về vị trí đảm nhận: hiệu
trưởng có 28 (chiếm 32,56%); phó hiệu
trưởng có 16 (chiếm 18,6%); giáo viên có
42 (chiếm 48,84%).
+ Tiêu chí về trình độ: cử nhân có 64
(chiếm 74,42%); thạc sĩ có 22 (chiếm
25,58%).

+ Tiêu chí về thâm niên công tác: công
tác dưới 10 năm có 46 (chiếm 53,49%); từ 11
- 15 năm có 29 (chiếm 33,72%); trên 15 năm
có 11 (chiếm 12,79%).
- Nhóm khách thể là HS:
+ Tiêu chí về tỉnh/thành phố: Tp. Hồ
Chí Minh có 88 HS (chiếm 44%); Tiền
Giang có 47 HS (chiếm 23,5%); Bình
Dương có 34 HS (chiếm 17%); Đồng Nai có
31 HS (chiếm 15,5%).
+ Tiêu chí về giới tính: HS nam có 84
(chiếm 42%); HS nữ có 116 (chiếm 58%).
+ Tiêu chí về khối học: khối 10 có 80 HS
(chiếm 40%); khối 11 có 53 HS (chiếm
26,5%); khối 12 có 67 HS (chiếm 33,5%).
5


những kiến thức cơ bản và một số kỹ năng
của giáo viên, mức độ thực hiện các yêu cầu
về nội dung giảng dạy, mức độ thực hiện các
yêu cầu về phương pháp giảng dạy, mức độ
thực hiện các yêu cầu liên quan đến công tác
đánh giá học sinh.
Người được khảo sát trả lời các câu hỏi
bằng cách cho điểm từ việc lựa chọn 1 trong
5 mức: điểm 5 cho mức Tốt; điểm 4 cho
mức Khá; điểm 3 cho mức Trung bình; điểm
2 cho mức Yếu; điểm 1 cho mức Kém. Điểm
trung bình (ĐTB) của câu = Tổng điểm của
các lựa chọn trả lời của câu hỏi chia cho số
trả lời của câu hỏi. Tiến hành đánh giá các
mức độ cho thang đo: 1 ≤ ĐTB ≤ 1,8 ứng
với mức kém, rất thấp; 1,8 < ĐTB ≤ 2,6 ứng
với mức yếu, thấp; 2,6 < ĐTB ≤ 3,4 ứng với
mức trung bình; 3,4 < ĐTB ≤ 4,2 ứng với
mức khá, cao; 4,2 < ĐTB ≤ 5 ứng với mức
tốt, rất cao.

2.2. Kết quả nghiên cứu
2.2.1. Các kiến thức cơ bản của đội ngũ giảng viên tiếng Trung ở khu vực phía Nam
Bảng 2: Thực trạng về những kiến thức cơ bản của ĐNGV tiếng Trung
Tỷ lệ % (CB-GV)
TT

NỘI DUNG
Tốt Khá
2,3

4,7 58,1
tiếng Trung cho HS

37,2

0,0

0,0

3,7

3,3

3

Hiểu biết mục tiêu, nội dung dạy
2,3 27,9
tiếng Trung cho HS

69,8

0,0

0,0

3,3

3,4

4


2,4

3,5

6


NGUYỄN THỊ MINH HỒNG và cộng sự

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN

Tỷ lệ % (CB-GV)
TT

NỘI DUNG
Tốt Khá

Trung
Yếu Kém
bình

ĐTB
(CBGV)

ĐTB
(HS)

6


8

Các kỹ thuật dạy học tiếng Trung
0,0
cho HS

32,6

62,8

4,7

2,3

3,3

3,05

3,45

ĐTB chung

ĐTB chung về đánh giá của CB-GV và
HS lần lượt là 3,05 ở mức “trung bình” và
3,45 ở mức “khá” theo thang đo đã xác lập
(độ chênh giữa hai nhóm là 0.40). Như vậy,
có sự khác biệt về mức độ đánh giá giữa hai
nhóm khách thể.
Phân tích đánh giá của nhóm khách thể
CB-GV cho thấy, nổi bật lên và đứng đầu là

HS” và “Có hiểu biết tổ chức hoạt động học
tiếng Trung qua trò chơi” với ĐTB lần lượt
là 3,8; 3,8; 3,5. Sự khác biệt trong đánh giá
giữa hai nhóm khách thể cũng chủ yếu là ở
ba nội dung này. Các nội dung còn lại đều
rơi vào mức “trung bình” với ĐTB dao động
từ 3,2 đến 3,4. Liệu rằng, vốn kiến thức cơ
bản hạn chế thế này sẽ ảnh hưởng như thế
nào đến hiệu quả quá trình dạy và học ngoại
ngữ? Kết quả này cũng cho phép đòi hỏi
người lãnh đạo cần quan tâm hơn nữa đến
công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho
đội ngũ giáo viên tham gia giảng dạy tiếng
Trung ở đơn vị mình một cách sâu sắc và
liên tục.

7


SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY

No. 62 (02/2019)

2.2.2. Kỹ năng của đội ngũ giảng viên tiếng Trung ở khu vực phía Nam
Bảng 3: Thực trạng về một số kỹ năng cơ bản của ĐNGV tiếng Trung
TT

NỘI DUNG

Tốt


Soạn giáo án

65,1 34,9

0,0

0,0

0,0

4,7

4,2

3

Quản lý lớp học

9,3

23,3

67,4

0,0

0,0

3,4


3,1

6

Quản lý cảm xúc trong dạy học

4,7

25,6

65,1

4,7

0,0

3,3

2,8

7

Quản lý công việc

9,3

37,2

51,2


2,3

32,6

51,2

14,0

0,0

3,2

2,9

3,77

3,39

ĐTB chung
ĐTB chung về đánh giá của CB-GV và
HS lần lượt là 3,77 và 3,39, ứng với mức
“khá” và mức “trung bình” theo thang đo đã
xác lập. Như vậy, sự đánh giá của hai nhóm
khách thể có sự khác biệt rất rõ nét.
Phân tích sự đánh giá của nhóm khách
thể CB-GV cho thấy, kỹ năng “Soạn giáo
án” được đánh giá là tốt nhất với ĐTB = 4,7
và kỹ năng kế đến “Lập kế hoạch dạy học”
có ĐTB = 4,6; cả hai đều ở mức “tốt”. Tính

bản đã có kỹ năng soạn giáo án, lập kế
hoạch bài dạy và giao tiếp ứng xử khá tốt.
Các kỹ năng còn lại được đánh giá ở mức
“trung bình” với ĐTB dao động từ 2,8 đến
8


NGUYỄN THỊ MINH HỒNG và cộng sự

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN

3,1. Trong đó, các kỹ năng “Quản lý cảm
xúc trong dạy học”, “Nắm bắt tâm lý HS
THPT” và “Tư duy sáng tạo trong dạy học”
có số liệu đánh giá tương đồng với nhóm

khách thể CB-GV. Đây là những kỹ năng
còn hạn chế trong năng lực của đội ngũ
giáo viên tiếng Trung, đòi hỏi phải có biện
pháp tác động để cải thiện.

2.2.3. Việc thực hiện các yêu cầu về nội dung giảng dạy tiếng Trung cho học sinh trung học
phổ thông
Bảng 4: Thực trạng thực hiện các yêu cầu về nội dung giảng dạy Tiếng Trung
Tỷ lệ HS (%)
TT

NỘI DUNG

Khá Trung

4,8

2

Các kỹ năng của ngôn ngữ
28,0 71,5
Trung: nghe, nói, đọc, viết

0,5

0

0

4,3

3,8

3

Cách học ngoại ngữ hiệu quả,
40,0 60,0
chiến lược học tiếng Trung

0

0

0


0

4,4

3,4

4,36

4,16

ĐTB chung
ĐTB chung về đánh giá của CB-GV và
HS lần lượt là 4,36 đạt mức “cao” và 4,16 ở
mức “khá cao” theo thang đo đã xác lập.
Nhưng một lần nữa cho thấy có sự khác
nhau về điểm số đánh giá giữa hai nhóm
khách thể. Điều này có thể lý giải là do sự
tiếp cận và nhìn nhận dưới góc độ khác nhau
nên đã không có tương đồng trong đánh giá.
Phân tích sự đánh giá của nhóm khách
thể HS cho thấy, có 3/5 nội dung đưa ra
khảo sát có ĐTB = 4,4 và 2/5 nội dung có
ĐTB = 4,3 đều đạt mức “cao”. Cách biệt về
điểm số giữa các nội dung đưa ra khảo sát
không đáng kể (0,1 điểm). Như vậy, nhóm

khách thể HS có sự tương đồng khá cao về
mức độ đánh giá tất cả các yêu cầu về thực
hiện nội dung giảng dạy của đội ngũ giáo
viên tiếng Trung.


2.2.4. Việc thực hiện các yêu cầu về phương pháp giảng dạy tiếng Trung cho học sinh trung
học phổ thông
Bảng 5: Thực trạng thực hiện các yêu cầu về phương pháp giảng dạy tiếng Trung
Tỷ lệ HS (%)
TT

NỘI DUNG

Cao

Khá Trung
Rất
Thấp
cao bình
thấp

ĐTB
(HS)

ĐTB
(CBGV)

Phương pháp nghe - nói: dạy HS
khả năng dùng ngoại ngữ để giao
1
32,0 68,0
tiếp nhưng nghe - nói được ưu tiên
hơn đọc - viết


0,5

0

0

4,4

3,7

Phương pháp ngữ pháp - dịch: tập
trung chủ yếu vào phát triển kỹ
năng đọc hiểu, học thuộc từ vựng,
4
42,5 57,5
dịch văn bản, viết luận và phân
tích ngôn ngữ (học để nắm quy tắc
ngôn ngữ)

0

0

0

4,4

4,9

Phương pháp giao tiếp: coi mục tiêu



NGUYỄN THỊ MINH HỒNG và cộng sự

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN

Phân tích sự đánh giá của nhóm khách
thể HS cho thấy, các yêu cầu về phương
pháp giảng dạy tiếng Trung được giáo viên
THPT thực hiện ở mức “cao” với ĐTB từ
4,3 đến 4,4. Kết quả đánh giá này nói lên
rằng, phản hồi của HS cho đội ngũ giảng
viên tiếng Trung ở khu vực phía Nam đã
thực hiện khá tốt các yêu cầu về phương
pháp dạy học.
Phân tích kết quả khảo sát CB-GV cho
thấy phương pháp ngữ pháp - dịch được
đánh giá ở mức cao nhất với ĐTB = 4,9, tiếp
đến phương pháp nghe - nói với ĐTB là 4,5.
Đây được xem là “điểm sáng” trong việc

thực hiện các yêu cầu về phương pháp của
đội ngũ giảng viên tiếng Trung. Việc thực
hiện các yêu cầu của phương pháp giúp HS
phát huy tính tích cực, tự giác thông qua
việc tự phát hiện và tự nhận thức được đánh
giá với ĐTB = 3,7, ở mức “khá cao”. Hai
phương pháp còn lại có ĐTB lần lượt là 3,4
và 3,1 đều đạt mức “trung bình”. Đây là
những nội dung liên quan đến việc trang bị


4

31,0

4

2

Đánh giá để xây dựng kế hoạch giảng dạy và
kịp thời điều chỉnh kế hoạch giảng dạy phù
hợp với học tập của HS

20,9

5

18,5

5

3

Đánh giá có sự phối hợp nhiều cách thức
đánh giá HS

79,1

1


đồng về thứ hạng đánh giá giữa CB-GV và
HS về việc thực hiện các yêu cầu liên quan
đến công tác đánh giá.
Tiến hành phân tích cụ thể cho thấy, nội
dung “Đánh giá có sự phối hợp nhiều cách
thức đánh giá HS” nhận được sự lựa chọn
cao nhất từ CB-GV và HS với tỷ lệ lần lượt
là 79,1% và 61,5%. Kết quả này nói lên
rằng, đa số GV đã có sự phối hợp nhiều cách
thức đánh giá HS.

Tiếp theo là nội dung “Đánh giá HS
thường xuyên trong tiết dạy” với tỷ lệ lựa
chọn của hai nhóm lần lượt là 58,1% và
55,5%. Kết quả trên cho thấy, có hơn ½ GV
tiếng Trung ở THPT thực hiện đánh giá HS
thường xuyên trong tiết dạy và điều này chỉ
làm chúng ta yên tâm phần nào song chưa
đạt mức mong đợi.
Đứng vị trí thứ 3 là nội dung “Coi trọng
đánh giá sự tiến bộ trong quá trình học của
HS” với tỷ lệ lựa chọn lần lượt là 41,9% và
11


SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY

No. 62 (02/2019)

46,5%. Kết quả này thật sự khiến chúng tôi

tiếng Trung; phương pháp giao tiếp và
phương pháp hồi đáp bằng cử chỉ điệu bộ;
đánh giá HS theo các loại điểm số quy định
và đánh giá để xây dựng kế hoạch giảng dạy
và kịp thời điều chỉnh kế hoạch giảng dạy
phù hợp với học tập của HS. Kết quả nghiên
cứu còn cho thấy cần khắc phục một số hạn
chế về kiến thức tổ chức hoạt động học tiếng
Trung qua trò chơi, đánh giá hoạt động học
Ngày nhận bài: 17/01/2019

và các kỹ thuật dạy học tiếng Trung cho HS
và kỹ năng nắm bắt tâm lý HS THPT, quản
lý cảm xúc trong dạy học và tư duy sáng tạo
trong dạy học. Đây là cơ sở quan trọng để đề
xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giáo
viên tiếng Trung nhằm đáp ứng nhu cầu từ
thực tiễn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quyết định số
1400/QĐ-BGDĐT ngày 08/4/2011 về thành
lập Ban Quản lý Đề án “Dạy và học ngoại
ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai
đoạn 2008-2020”, 2011.
2. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số
1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008 về phê duyệt
Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống
giáo dục quốc dân” (gọi tắt là đề án ngoại
ngữ 2020), 2008.
3. Đặng Quốc Bảo, Một số khái niệm về quản




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status