Pháp luật về xử lý vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, qua thực tiễn áp dụng tại các doanh nghiệp ở địa bàn thành phố hồ chí minh - Pdf 60

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

HỒ KHẢ NHÂN

PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐÓNG
BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC, QUA THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 838 01 07

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

THỪA THIÊN HUẾ, năm 2019


Công trình được hoàn thành tại:
Trƣờng Đại học Luật, Đại học Huế

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đoàn Đức Lƣơng

Phản biện 1: ........................................:..........................
Phản biện 2: ...................................................................

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ họp tại: Trường Đại học Luật
Vào lúc...........giờ...........ngày...........tháng .......... năm...........


MỤC LỤC

luật hành chính ........................................................................................... 9
1.2.3. Xử lý vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo pháp
luật dân sự ................................................................................................ 10
1.3. Các yếu tố tác động đến thực thi pháp luật về xử lý vi phạm đóng
bảo hiểm xã hội bắt buộc ............................................................................. 10
1.3.1. Yếu tố pháp luật .............................................................................. 10
1.3.2. Chính sách của Đảng về bảo hiểm xã hội và anh sinh xã hội .......... 11
1.3.3. Về năng lực quản lý nhà nước và nhận thức của các chủ thể........... 11
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .............................................................................. 13


CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM QUY
ĐỊNH ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ THỰC TIẾN ÁP
DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ................................................ 14
2.1. Thực trạng áp dụng các quy định về xử lý vi phạm quy định đóng
bảo hiểm xã hội bắt buộc ............................................................................. 14
2.1.1. Các quy định hiện hành về xử lý vi phạm quy định đóng bảo hiểm xã
hội bắt buộc .............................................................................................. 14
2.1.1.1. Xử lý hình sự đối với vi phạm quy định đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 14
2.1.1.2. Xử lý hành chính đối với vi phạm quy định đóng bảo hiểm xã hội bắt
buộc ................................................................................................................ 15
2.1.1.3. Xử lý dân sự đối với vi phạm quy định đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 16
2.1.2. Đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về xử lý hành vi vi
phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc .................................... 16
2.1.2.1. Về ưu điểm ........................................................................................ 16
2.1.2.2. Về hạn chế ......................................................................................... 17
2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về xử lý hành vi vi
phạm quy định đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của các doanh nghiệp ở
thành phố Hồ Chí Minh ............................................................................... 17
2.2.1. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về xử lý hành




PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đảng và nhà nước ta luôn xác định chính sách bảo hiểm xã hội là
chính sách quan trọng, có tính nhân văn sâu sắc, nhằm đảm bảo tốt hơn
đời sống người lao động, góp phần tích cực vào việc ổn định, an toàn xã
hội và sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội
nói chung và việc thực hiện công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại
các doanh nghiệp cũng bộc lộ những hạn chế, bất cập sau đó là việc mở
rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội còn chậm, số người tham gia
bảo hiểm xã hội còn thấp.Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng nợ đóng,
chậm đóng bảo hiểm xã hội nêu trên là việc chiếm dụng vốn của chủ sử
dụng lao động, hiện công tác khởi kiện doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội
ra Tòa án đối với doanh nghiệp của Liên đoàn lao động hiện nay đang
gặp khó khăn, vướng mắc. Mặt khác, mức xử phạt tiền đối với các hành
vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội của bảo hiểm xã hội các tỉnh
thành theo quy định còn thấp. Đó cũng là một trong những nguyên nhân
nhiều doanh nghiệp cố tình chây ì, nợ đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội
và chấp nhận chịu phạt để chiếm dụng tiền đóng bảo hiểm xã hội.
Ngoài ra, một số quy định trong chế độ bảo hiểm xã hội hiện hành
không còn phù hợp với thực tế, bộc lộ những hạn chế, bất cập, cụ thể: Đối
với bảo hiểm xã hội bắt buộc một số quy định trong pháp luật về bảo
hiểm xã hội hiện hành còn chưa phù hợp, như quy định cho phép người
lao động có dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội nhận trợ cấp bảo hiểm
xã hội một lần, chưa phù hợp với mục tiêu của bảo hiểm xã hội là nhằm
đảm bảo cuộc sống cho người lao động khi hết tuổi lao động; quy định

trình quản lý thu bảo hiểm xã hội, Chủ nhiệm Tiến sĩ Dương Xuân
Triệu, cấp Bộ LĐ-TBXH.
- Bài viết Lê Quang Thắng (2018), Bình luận tội trốn đóng bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
theo BLHS năm 2015, Tạp chí Kiểm sát số 9/2018.
- Bài viết của tác giả Phan Tiến Anh (2016) , Nhận diện một số
thủ đoạn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm
xã hội và biện pháp phòng ngừa. Tạp chí kiểm sát số 6.
Như vậy, trong nội dung hầu hết các đề tài đã đưa ra một số cơ sở
lý luận và chỉ ra một số vấn đề thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật
bảo hiểm xã hội bắt buộc. Luật văn kế thừa một số nội dung sau:
Một là, về lý luận pháp luật: Luận văn kế thừa một số nhận định,
khái niệm BHXH bắt buộc, một số định hướng và gợi ý về các giải pháp
hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm quy định đóng BHXH bắt buộc.
Hai là, về thực tiễn: Luận văn kế thừa một số nghiên cứu chỉ ra
những vướng mắc trong thực tiễn, các trường hợp điển hình được phân
tích.
Bên cạnh đó, luận văn phát trển và nghiên cứu sâu hơn qua việc
phân tích khung pháp lý, những vấn đề đặt ra xử lý vi phạm quy định
đóng BHXH bắt buộc, đặc biệt nghiên cứu quá trình áp dụng thực tiễn
trong việc xử lý vi phạm quy định BHXH bắt buộc tại các doanh nghiệp
ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Chính vì vậy, luận văn không trùng
lặp các công trình nghiên cứu trên.
2


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm góp phần hoàn thiện pháp
luật về xử lý vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộcvà nâng

+ Thời gian: Từ khi Luật bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 có hiệu
lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 cho đến nay, trong quá trình nghiên cứu
luận văn có đưa vào số liệu trước năm 2016 để so sánh, dẫn chứng.

3


5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu dựa trên cở sở phương pháp của
Chủ nghĩa duy vật biện chứng, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam
về bảo hiểm xã hội trong hội nhập quốc tế.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp diễn giải
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp nghiên cứu điển hình thông qua việc tìm những vụ
việc điển hình chứng minh cho các luận điểm đưa ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Về lý luận: Luận văn phân tích và diễn giải đưa ra các khái niệm
BHXH bắt buộc, khái niệm và các đặc điểm xử lý vi phạm quy định
BHXH bắt buộc; Luận văn đã đưa ra các nhóm giải pháp hoàn thiện
pháp luật và thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm quy định BHXH bắt
buộc. Các nhóm giải pháp có ý nghĩa hướng thi hành BLHS 2015, sửa
đổi Nghị định xử phạt hành chính và Luật BHXH về bảo hiểm xã hội bắt
buộc.
Về thực tiễn: Luận văn đã chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện
hành về xử lý vi phạm quy định BHXH bắt buộc; những vướng mắc
trong áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này.
7. Kết cấu cấu luận văn
Kết cấu của Luận văn thành 3 chương như sau:

để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, xã hội hình thành trong lĩnh vực bảo
đảm trợ cấp nhằm đảm bảo đời sống cho người lao độngkhi họ gặp
những rủi ro, hiểm nghèo trong quá trình lao động hoặc khi già yếu
không còn khả năng lao động.
Pháp luật về BHXH bắt buộc cho thấy, mặc dù BHXH bắt buộc
phụ thuộc vào điều kiện và quan niệm của mỗi quốc gia, nhưng nhìn
chung BHXH bắt buộc là một bộ phận quan trọng nhất của hệ thống
BHXH. Một chính sách BHXH phát triển bền vững đóng một vai trò qua
trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội của quốc gia đó.
1.1.1.2. Vai trò của bảo hiểm xã hội bắt buộc
Thứ nhất, vai trò của BHXH bắt buộc đối với người lao động
Mục đích chủ yếu của BHXH là đảm bảo nguồn thu nhập cho
NLĐ khi gặp những khó khăn trong cuộc sống lúc giảm hoặc mất nguồn
thu nhập. Thứ hai, vai trò của BHXH bắt buộc đối với người sử dụng lao
động
Thứ ba, vai trò của BHXH bắt buộc đối với Nhà nước
Tóm lại, BHXH bắt buộc luôn chứa đựng vai trò đan xen cả về
kinh tế và xã hội. Vai trò của pháp luật là xác lập được hình thức pháp
luật nhất định và đảm bảo thực hiện bởi các cơ chế pháp luật thích hợp
nhằm kết hợp hài hòa nội dung kinh tế và xã hội trong BHXH phù hợp
5


với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước, trên cơ sở quyền và lợi ích
hợp pháp, chính đáng của các bên trong quan hệ BHXH.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của xử lý vi phạm quy định về bảo
hiểm xã hội bắt buộc
1.1.2.1. Khái niệm xử lý vi phạm quy định về bảo hiểm xã hội bắt buộc
Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2014:“ Người lao
động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội


. Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2016), Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật. NXB Đại học
Quốc gia, tr.19.

6


Bốn là, đóng không đủ số người thuộc diện tham gia.
Hành vi không đóng BHXH bắt buộc là hành vi vi phạm pháp luật
và phải chịu trách nhiệm pháp lý. Trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi
do Nhà nước áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật,
theo đó cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật phải chịu những chế tài được
quy định tại phần chế tài của quy phạm pháp luật. Tùy theo tính chất,
mức độ của hành vi vi phạm pháp luật mà cá nhân, tổ chức vi phạm phải
gánh chịu những loại trách nhiệm pháp lý khác nhau như: trách nhiệm
hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính,… Đối với các chủ
thể kinh doanh theo quy định của pháp luật buộc phải đóng bảo hiểm xã
hội bắt buộc, trường hợp có hành vi vi vi phạm pháp luật phải chịu trách
nhiệm pháp lý mà pháp luật quy định. Trách nhiệm pháp lý tùy theo
mức độ vi phạm mà Nhà nước áp dụng tương ứng với hành vi vi phạm
các quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc như không đóng đủ số
người, chậm đóng bảo hiểm,... bao gồm:
Trách nhiệm pháp lý hình sự là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm
khắc nhất do Tòa án nhân danh Nhà nước áp dụng đối với những cá
nhân tổ chức trốn đóng BHXH bắt buộc được quy định trong Bộ luật
hình sự.
Trách nhiệm pháp lý hành chính là loại trách nhiệm pháp lý do cơ
quan quản lý nhà nước áp dụng đối với mọi chủ thể khi họ vi phạm pháp
luật hành chính. Trách nhiệm này được áp dụng khá phổ biến đối với
những hành vi vi phạm quy định về BHXH bắt buộc.

về xử lý vi phạm quy định đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hay nói cách
khác là các hình thức trách nhiệm pháp lý mà chủ thể vi phạm phải gánh
chịu.
1.2.1. Xử lý vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
theo pháp luật hình sự
Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) đã bổ sung thêm 4
tội danh liên quan đến lĩnh vực BHXH, đó là: tội gian lận trong kinh
doanh bảo hiểm (Điều 213); tội gian lận BHXH, BHTN (Điều 214); tội
gian lận BHYT (Điều 215) và tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho
người lao động (Điều 216) và các điều luật có hiệu lực thi hành từ ngày
1/1/2018. Bộ luật Hình sự năm 2015, lần đầu tiên có quy định xử lý hình
sự các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN, tạo cơ sở
pháp lý nghiêm khắc hơn đối với các hành vi đang gây bức xúc xã hội.
Trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế
cho người lao động là hành vi của người sử dụng lao động không tham
gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao
động từ 6 tháng trở lên, đã từng xử phạt vi phạm hành chính, gây thiệt
hại đến quyền lợi của người lao động và quỹ bảo hiểm xã hội.
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 216 BLHS 2015, chủ thể thực hiện tội
phạm là người có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo
hiểm thất nghiệp cho người lao động.
Qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng chủ thể phải đóng bảo hiểm xã
hội bắt buộc bao gồm pháp nhân nhân thương mại và pháp nhân phi
thương mại. Tại Điều 75, 76 Bộ luật Dân sự có quy định về pháp nhân
thương mại và phi thương mại.
Điểm khác biệt về pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương
mại là (1) về mục đích khi thành lập: Đối với pháp nhân thương mại thì
8



Nguyên tắc 5: Việc xử phạt vi phạm hành chính hành vi vi phạm
quy định đóng BHXH bắt buộc phải căn cứ vào nhân thân, căn cứ tính
chất, mức độ vi phạm, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
Về nguyên tắc chủ thể vi phạm phải bị xử phạt hành chính bao
gồm các hình thứ phạt chính và phạt bổ sung. Phạt chính bao gồm cảnh
cáo, phạt tiền, phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng giấy phép, tịch thu
tang vật phương tiện vi phạm.
Ngoài những nguyên tắc chung, cơ sở pháp lý để xử lý hành chính
căn cứ Nghị định 95/2013/NĐ-CP và năm 2015 đã có Nghị định số
9


88/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao
động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
1.2.3. Xử lý vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
theo pháp luật dân sự
Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm của các chủ thể trong việc vi
phạm quy định về đóng BHXH bắt buộc và gây thiệt hại cho người lao
động. Đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Cơ sở
của trách nhiệm bồi thường là những quy định của pháp luật (quy định
những hậu quả pháp lý ngoài mong muốn của các chủ thể) không có sự
thỏa thuận trước của các bên và chỉ phát sinh khi đảm bảo các điều kiện
luật định.
Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 về nguyên tắc chung thì
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy
đủ các yếu tố sau đây:
Phải có thiệt hại xảy ra: Thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng phải là thiệt hại thực tế về tài sản hoặc tổn thất
về tinh thần dẫn đến thiệt hại về tài sản. Thiệt hại cho người lao động

quản lý, cơ chế tài chính. Cụ thể là: Đã hình thành hệ thống chính sách
BHXH khá đồng bộ, bao quát hầu hết các chế độ BHXH theo thông lệ
quốc tế: Gồm cả loại hình BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện; đối với
cả người có quan hệ lao động và người không có quan hệ lao động; cho
cả khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức. Hệ thống chính sách
BHXH, các quan hệ BHXH được thiết kế, điều chỉnh và vận hành ngày
càng phù hợp hơn.
1.3.3. Về năng lực quản lý nhà nước và nhận thức của các chủ
thể
Về năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực
BHXH bắt buộc: Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội còn
nhiều lúng túng, hiệu quả quản lý còn thấp do chưa phân định rạch ròi
chức năng bảo hiểm xã hội và chức năng quản lý nhà nước nên người
đứng đầu cơ quan bảo hiểm vừa với vai trò Bộ chủ quản vừa với vai trò
thu chi bảo hiểm và những lĩnh vực khác ngoài bảo hiểm. Vì thế công
tác thanh tra kiểm tra rất khó khăn do vướng Bộ chủ quản tham gia làm
cho tính hiệu quả của BHXH bắt buộc thấp.
Về phía doanh nghiệp: Thực hiện các quy định về BHXH, bên
cạnh các doanh nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quyền lợi đối với
người lao động, vẫn còn một số doanh nghiệp không thực hiện đầy đủ
việc đóng BHXH cho người lao động, khiến không ít người lao động
gặp khó khăn khi cần giải quyết các chế độ, như: Trợ cấp thất nghiệp,
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, hưu trí,… Hiện
nay còn nhiều trường hợp doanh nghiệp cố tình lách luật, không ký hợp
đồng lao động cho người lao động để trốn đóng BHXH hoặc ký hợp
đồng vụ việc để trì hoãn việc tham gia BHXH cho người lao động, làm
ảnh hưởng tới việc thụ hưởng các chính sách an sinh của người lao
động.
Về phía người lao động: Người lao động, một mặt do sức ép việc
làm, một mặt do chưa hiểu biết đầy đủ về chính sách cho nên chưa chủ

DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1. Thực trạng áp dụng các quy định về xử lý vi phạm quy
định đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
2.1.1. Các quy định hiện hành về xử lý vi phạm quy định đóng
bảo hiểm xã hội bắt buộc
2.1.1.1. Xử lý hình sự đối với vi phạm quy định đóng bảo hiểm xã hội
bắt buộc
Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung thêm bốn tội danh liên quan
đến lĩnh vực BHXH. Đó là: tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm
(Điều 213); tội gian lận BHXH, BHTN (Điều 214); tội gian lận BHYT
(Điều 215) và tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động
(Điều 216). Như vậy, việc vi phạm hành vi đóng và hưởng được cụ thể
hóa trong BLHS thể hiện tính nghiêm trọng của các hành vi vi phạm.
Tại Điều 216 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
có quy định về tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm
thất nghiệp cho người lao động2.
Khách thể của tội phạm:
Khách thể của tội phạm này là trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là
trật tự quản lý trong lĩnh vực bảo hiểm. Việc không tuân thủ nghĩa vụ
đóng BHXH, BHYT, BHTN của người sử dụng lao động dẫn tới sự
thâm hụt các quỹ BHXH, BHYT, BHTN.
Đối tượng tác động của tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN là các
quỹ BHXH, BHYT, BHTN. Khách thể của tội phạm ở đây có thể bị xâm
hại làm thâm hụt các quỹ BHXH, BHYT, BHTN.
Mặt khách quan của tội phạm
Về dấu hiệu hành vi khách quan: Tội phạm thể hiện ở hành vi của
người có nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động mà
gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy
đủ theo quy định.
Hành vi vi phạm trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao

vấn đề đóng/không đóng BHXH cho người lao động nên cần phải chú ý
với quy định này.Theo quy định, người sử dụng lao động có trách nhiệm
đóng BHXH, BHYT, BHTN bắt buộc cho người lao động và người lao
động cũng có trách nhiệm đóng BHXH, BHYT, BHTN cho chính mình
(Điều 19 Luật BHXH, Điều 13 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
luật BHYT).
Mặt chủ quan của tội phạm:
Người thực hiện hành vi trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho
người lao động là do cố ý (cố ý trực tiếp), tức là nhận thức rõ về hành vi
của mình là hành vi gian dối trong việc thực hiện nghĩa vụ đóng bảo
hiểm, thấy trước được hậu quả của hành vi gian dối trong việc thực hiện
nghĩa vụ đóng bảo hiểm và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra.
Về hình phạt: Các hình phạt đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm xã
hội bắt buộc cho người lao động bao gồm phạt tiền và phạt tù. Tùy từng
trường hợp cụ thể theo các khoản từ khoản 1 đến khoản 5 Điều 216 Bộ
luật hình sự 2015 thì mức phạt sẽ khác nhau.
2.1.1.2. Xử lý hành chính đối với vi phạm quy định đóng bảo hiểm xã
hội bắt buộc
Theo Nghị định 95/2013/NĐ-CP, nếu doanh nghiệp không đóng
bảo hiểm xã hội cho người lao động sẽ chịu mức phạt nghiêm khắc.
15


Văn bản hợp nhất 4756/VBHN-BLĐTBXH ngày 19/11/2015 hợp
nhất Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao
động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng.
Thứ nhất, về mức xử lý vi phạm
Đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
chậm đóng, đóng không đúng mức, không đủ số người sẽ bị phạt tiền

trốn đóng BHXH bắt buộc, mức phạt cao nhất là 75.000.000 đồng. Đây
là cơ sở xử phạt những chủ thể vi phạm pháp luật đống BHXH bắt buộc.
16


Pháp luật dân sự quy định trình tự, thẩm quyền khởi kiện ra tòa án
đòi các khoản nợ BHXH bắt buộc. Xuất phát từ sự yếu thế của người lao
động trong doanh nghiệp, pháp luật quy định Công đoàn đại diện khởi
kiện ra Tòa án thay cho người lao động. Trình tự giải quyết theo quy
định của pháp luật tss tụng dân sự.
2.1.2.2. Về hạn chế
Thứ nhất, những hạn chế của pháp luật hình sự về xử lý hành vi vi
phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
Thứ hai, những hạn chế của pháp luật hành chính về xử lý hành vi
vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
Thứ ba, những hạn chế của pháp luật dân sự về xử lý hành vi vi
phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về xử lý
hành vi vi phạm quy định đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của các
doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về
xử lý hành vi vi phạm quy định đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
Theo thống kê của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, giai
đoạn 2015- 2018 và quý 1 năm 2019 chưa có vụ nào xử lý hình sự3
Theo BLHS 1999 chỉ có các nhóm hành vi vi phạm quyền hưởng
thụ BHXH hay trong quản lý thực hiện BHXH chứ chưa có quy định
riêng như BLHS 2015. Vì vậy, từ khi BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung
2017) thì chưa khởi tố hình sự vụ án nào. Mặc dù Cơ quan BHXH thành
phố Hồ Chí Minh đã lập danhsachs đề nghị khởi tố các vụ án hình sự
nhưng các cơ quan tến hành tố tụng đang chờ hướng dẫn thi hành BLHS

Hai là, tình trạng doanh nghiệp nợ BHXH bắt buộc bỏ trốn hoặc
chuyển địa bàn hoạt động
2.2.3. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật dân sự sự
về xử lý hành vi vi phạm quy định đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
Theo thống kê của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, giai
đoạn 2015- 2018 Tòa án đã thụ lý vụ khởi kiện đòi BHXH bắt buộc như
sau:
Năm 2015: Có số đơn là 1.905 và số nợ theo đơn là
530,246,602,059 đồng. Số bản án của Tòa án đã xét xử dân sự là 03 và
số vụ Tòa án hòa giải thành là 45, số vụ đang giải quyết là 414.
Năm 2016: Có số đơn là 513 và số nợ theo đơn là 114,545,532,311
đồng. Số bản án của Tòa án đã xét xử dân sự là 0 và số vụ Tòa án hòa
giải thành là 3 và số vụ đang giải quyết 133.
Năm 2017: Có số đơn là 840 và số nợ theo đơn là 162,585,532,300
đồng. Số bản án của Tòa án đã xét xử dân sự là 0 và số vụ Tòa án hòa
giải thành là 5 và số vụ đang giải quyết 33.
Năm 2018: Có số đơn là 720 và số nợ theo đơn là 147,235,592,221
đồng. Số bản án của Tòa án đã xét xử dân sự là 0 và số vụ Tòa án hòa
giải thành là 4 và số vụ đang giải quyết 135.
Như vậy, số vụ tranh chấp dân sự tại Tòa án, cụ thể là kiện đòi các
doanh nghiệp nợ BHXH bắt buộc tài Tòa án ngày cảng giảm. Đây không
phải do các doanh nghiệp chấp hành tốt các quy định của pháp luật mà
do những vướng mắc về quy định của pháp luật, nhất là chủ thể có
quyền khởi kiện tại Tòa án.

4
5

Báo cáo hàng năm của Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh.
Các báo cáo thống kê của Tòa án thành phố Hồ Chí Minh các năm 2015, 2016,2017 và 2018.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status