Chính sách đối ngoại của liên bang nga dưới thời tổng thống v putin giai đoạn 2012 2016 - Pdf 60

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------

TRẦN THỊ MAI DUYÊN

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA LIÊN BANG NGA
DƢỚI THỜI TỔNG THỐNG V. PUTIN
GIAI ĐOẠN 2012-2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

Hà Nội – 2019


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------

TRẦN THỊ MAI DUYÊN

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA LIÊN BANG NGA
DƢỚI THỜI TỔNG THỐNG V. PUTIN
GIAI ĐOẠN 2012-2016

Chuyên ngành: QUAN HỆ QUỐC TẾ
Mã số: 60 31 02 06

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN: PGS.TS. NGUYỄN CẢNH TOÀN

1.1.1. Những biến động trên thế giới .............................................................. 12
1.1.2. Cuộc khủng hoảng Ukraine .................................................................. 17
1.2. Tình hình nội bộ nƣớc Nga ...................................................................... 20
1.2.1. Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ........................................................ 20
1.2.2. Tình hình đối ngoại ............................................................................... 25
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1.................................................................................. 31
CHƢƠNG 2. NỘI DUNG VÀ THỰC TIỄN TRIỂN KHAI CHÍNH
SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NGA GIAI ĐOẠN 2012-2016 ......................... 32
2.1. Nội dung chính sách đối ngoại của Nga giai đoạn 2012-2016 ................ 32
2.2. Thực tiễn triển khai chính sách đối ngoại của Nga giai đoạn 2012-2016 36
2.2.1. Chính sách của Nga đối với các nước CIS ........................................... 36
2.2.2. Chính sách của Nga đối với EU và Mỹ ................................................. 39
2.2.3. Chính sách của Nga đối với các đối tác châu Á ................................... 46
2.2.4. Chính sách của Nga đối với khu vực Trung Đông-Bắc Phi và Mỹ Latin61
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2.................................................................................. 66

1


CHƢƠNG 3. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI
NGOẠI CỦA NGA GIAI ĐOẠN 2012-2016 VÀ MỘT SỐ TÁC ĐỘNG
TỚI VIỆT NAM ............................................................................................ 67
3.1. Những thành tựu và hạn chế .................................................................... 67
3.1.1. Thành tựu .............................................................................................. 67
3.1.2. Hạn chế ................................................................................................. 77
3.2. Một số nguyên nhân của thành tựu và hạn chế ........................................ 85
3.2.1. Nguyên nhân thành tựu ......................................................................... 85
3.2.2. Nguyên nhân hạn chế ............................................................................ 88
3.3. Một số tác động tới Việt Nam .................................................................. 90
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3.................................................................................. 97

European Union

EAEU

Liên minh kinh tế Á - Âu
Eurasia Economic Union

GDP

Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội

IS

Islamic State
Tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng

NATO

Tổ chức Hiệp ƣớc Bắc Đại Tây Dƣơng
North Atlantic Treaty Organization

SCO

Tổ chức hợp tác Thƣợng Hải
Shanghai Cooperation Organization

TBD

Thái Bình Dƣơng

chính sách đối ngoại mới của Liên bang Nga nhằm nâng cao vị thế và uy tín
của đất nƣớc trên trƣờng quốc tế. Trong các văn kiện nhƣ Chiến lƣợc An ninh
quốc gia, Thông điệp Liên bang hàng năm, Tổng thống V. Putin đều đƣa ra
một số điều chỉnh trong chính sách đối ngoại để phù hợp với đặc điểm tình
hình mới trong nƣớc và quốc tế.
Nga đã từng bƣớc khôi phục và khẳng định vị thế của mình ở các khu
vực ngoại vi và trên thế giới. Sự kiện Crimea vào tháng 3/2014 đã cho thấy

4


Tổng thống V. Putin đang khẳng định quyền của Nga ở khu vực từng là sân
sau. Chiến dịch quân sự của Nga ở Syria năm 2015 cũng là một trong những
ví dụ khẳng định Nga đã và đang khôi phục vị thế trong việc tham gia các nỗ
lực giải quyết các “điểm nóng” trên thế giới. Trên thực tế, Nga đã và đang là
một trong những nhân tố cân bằng sự ổn định trong quan hệ quốc tế. Vị thế
quốc tế gia tăng với những thành tựu nhất định về ngoại giao là những thành
công trong thực hiện chính sách đối ngoại của Nga, để từ đó góp phần hỗ trợ
Nga giải quyết các vấn đề trong nƣớc, đƣa nƣớc Nga ngày càng phát triển trên
các mặt nhƣ kinh tế, chính trị-đối ngoại, quân sự-quốc phòng.
Là một nƣớc lớn, chính sách đối ngoại của Nga tác động tới tất cả các
nƣớc, các khu vực, các tổ chức quốc tế, các mối quan hệ quốc tế, nhất là các
trục quan hệ lớn nhƣ Nga - Mỹ, Nga - EU, Nga - Trung, tác động trực tiếp
đến lợi ích của các nƣớc khác, đặc biệt là các nƣớc nhỏ, đồng thời cũng ảnh
hƣởng đến xu hƣớng giải quyết các điểm nóng trên thế giới nhƣ Syria,
Ukraine hay cuộc chiến chống khủng bố… Kể từ sau cuộc khủng hoảng
Ukraine (2014), Nga đã có những điều chỉnh chính sách đối ngoại trong quan
hệ với Mỹ, phƣơng Tây và các nƣớc khu vực châu Á. Tuy coi trọng mối quan
hệ với phƣơng Tây, nhƣng Nga đang thực hiện chiến lƣợc hƣớng Đông, trong
đó có thúc đẩy quan hệ với Đông Nam Á và Việt Nam. Việc Nga ngày càng

nhiều quốc gia. Cho đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu về V. Putin và
chính sách đối ngoại trong các nhiệm kỳ ông làm Tổng thống nƣớc Nga. Các
tài liệu này phân tích về V. Putin và chính sách đối ngoại của Nga dƣới các
góc độ khác nhau, nhƣng tất cả đều thừa nhận sức ảnh hƣởng của Nga trên
trƣờng quốc tế đang ngày càng tăng lên và vai trò quan trọng của Tổng thống
V. Putin đối với sự lớn mạnh của nƣớc Nga.
Ở Việt Nam, có nhiều ấn phẩm dịch hoặc tài liệu viết về V. Putin tiêu
biểu nhƣ Dƣơng Minh Hào-Triệu Anh Ba (2015), Bản lĩnh Putin; Trƣơng Dự
(2013), Putin - Sự trỗi dậy của một con người (dịch giả Hồng Phƣợng);… Các
tác phẩm đều cho thấy đƣợc về con ngƣời V. Putin, qua đó giúp lý giải đƣợc
phần nào về những quyết sách mà V. Putin đƣa ra khi làm Tổng thống Nga.

6


Ngoài ra, ở trong nƣớc, nhiều học giả đã viết về sự thay đổi của nƣớc Nga
cũng nhƣ các chính sách của Nga trong những năm qua, nhƣ Nguyễn An Hà
(2011), Liên bang Nga những năm đầu thế kỷ 21; Hà Mỹ Hƣơng (2006),
Nước Nga trên trường quốc tế hôm qua, hôm nay và ngày mai… Bên cạnh đó,
nhiều tài liệu, bài nghiên cứu khác đƣợc đăng trên các báo, tạp chí của Việt
Nam, nhƣ các bài viết của các tác giả Bùi Huy Khoát (2008), Nga tiếp tục
chính sách đối ngoại cứng rắn trong quan hệ với phương Tây?, Tạp chí
Nghiên cứu châu Âu; Nhữ Quang Nam (2010), Nga thúc đẩy mục tiêu khôi
phục vị thế cường quốc, Tạp chí Kiến thức Quốc phòng hiện đại; Nguyễn
Cảnh Toàn (2012), Sự điều chỉnh chiến lược của Nga ở khu vực châu Á-Thái
Bình Dương, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu;…
Chính sách đối ngoại của Nga cũng là một đề tài thu hút sự quan tâm
nghiên cứu của nhiều học giả nhƣ Nguyễn Hải Vân Anh (2008), Luận văn
Thạc sỹ “Chính sách đối ngoại của Liên bang Nga dưới thời Tổng thống V.
Putin”; Phan Thị Bích Hạnh (2014), Luận văn Thạc sỹ “Cải cách năng lượng

(2006), Russia and its neighbors in crisis về chính sách của Nga đối với
Trung Á; Ivan Safranchuk (2016), Russia in Reconnecting Eurasia về chính
sách của Nga đối với CIS... Trong đó, phần lớn những tài liệu trong một số
năm trở lại đây tập trung nghiên cứu về những điều chỉnh chính sách đối
ngoại của Nga sau cuộc khủng hoảng ở Ukraine (2014).
Những tài liệu này đều có sự nghiên cứu rất kỹ và đƣa ra những đánh
giá khác nhau về chính sách đối ngoại của Nga, là những thông tin bổ ích
giúp hiểu thêm về chính sách đối ngoại của Nga dƣới các góc độ phân tích
khác nhau. Bên cạnh đó, luận văn cũng tham khảo các bài viết học thuật, các
bài nghiên cứu trên các trang báo điện tử, giúp việc tìm hiểu, nghiên cứu về
chính sách đối ngoại của Nga dƣới thời Tổng thống V. Putin đƣợc đầy đủ,
toàn diện.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Chính sách đối ngoại của Nga.
Phạm vi nghiên cứu:

8


- Về không gian: Nga và một số đối tác, khu vực chủ yếu có quan hệ
với Nga. Do giới hạn nghiên cứu, nên luận văn chỉ tập trung vào phân tích
những nét chính nhất trong việc thực hiện chính sách đối ngoại của Nga với
một số đối tác và khu vực có quan hệ chủ yếu với Nga nhƣ CIS, EU, Mỹ,
Trung Quốc và một số đối tác châu Á khác gồm Ấn Độ, Nhật Bản, Việt Nam,
ASEAN; khu vực Trung Đông-Bắc Phi và Mỹ Latin.
- Về thời gian: Giai đoạn 2012-2016, trong đó: từ 2012 đến 2014 là thời
điểm Tổng thống V. Putin bắt đầu trở lại lãnh đạo nƣớc Nga (2012) đến trƣớc
cuộc khủng hoảng Ukraine (2014); từ 2014 đến 2016: Nga có những điều
chỉnh chính sách sau khi quan hệ với Mỹ, EU bị suy giảm nghiêm trọng sau
sự kiện Crimea trở thành một phần lãnh thổ Nga.

trị và quan hệ quốc tế giai đoạn 2012-2016, làm rõ thực tiễn mối quan hệ giữa
Nga với các nƣớc, khu vực.
- Góp phần cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn đối với việc hoạch
định chính sách đối ngoại của Việt Nam trƣớc tình hình triển khai chính sách
đối ngoại của Nga.
- Đề tài có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc
học tập và nghiên cứu các vấn đề về chính sách đối ngoại, quan hệ quốc tế.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của đề tài gồm có 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Những nhân tố tác động tới chính sách đối ngoại của Nga
giai đoạn 2012-2016. Chƣơng này phân tích về tình hình thế giới và trong
nƣớc tác động tới việc hình thành và triển khai chính sách đối ngoại của Nga.
Chƣơng 2: Nội dung và thực tiễn triển khai chính sách đối ngoại của
Nga giai đoạn 2012-2016. Chƣơng này trình bày về quan điểm, mục tiêu và
quá trình triển khai chính sách đối ngoại của Nga với một số đối tác chính
gồm CIS, EU và Mỹ, Trung Quốc và các đối tác châu Á khác, khu vực Trung
Đông-Bắc Phi và Mỹ Latin.

10


Chƣơng 3: Đánh giá kết quả thực hiện chính sách đối ngoại của Nga
giai đoạn 2012-2016 và một số tác động tới Việt Nam. Chƣơng này phân tích
về những kết quả, thành tựu cũng nhƣ hạn chế trong chính sách đối ngoại của
Nga, tìm hiểu nguyên nhân, nhân tố tác động tới các kết quả đó. Đồng thời,
đƣa ra nhận định về một số tác động đối với Việt Nam.

11




Hai là, cục diện thế giới tiếp tục có những thay đổi sâu sắc. Bên cạnh vị
trí siêu cƣờng của Mỹ với sức mạnh vƣợt trội về kinh tế, quân sự và khoa học
công nghệ, sự trỗi dậy và vƣơn lên của các nƣớc lớn khác nhƣ Trung Quốc,
Nga, Nhật Bản, Ấn Độ, Brazil… ngày càng chứng tỏ vai trò, vị thế trên bàn
cờ chính trị không chỉ tầm khu vực mà cả trên phạm vi toàn cầu [56]. Xu
hƣớng đa cực hóa, đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế phát triển; quan hệ giữa
các nƣớc lớn ngày càng đan xen và ảnh hƣởng lẫn nhau trong khuôn khổ vừa
hợp tác, vừa đấu tranh, vừa kiềm chế lẫn nhau; hợp tác nhƣng không dẫn tới
liên minh mới, đấu tranh, nhƣng tránh đối đầu quân sự trực tiếp [19, tr.108].
Trong đó, xu thế đa cực định hình rõ nét hơn và yếu tố cạnh tranh có xu
hƣớng gia tăng. Các nƣớc lớn vừa kiềm chế nhau, vừa lợi dụng lẫn nhau, vừa
va chạm vừa điều chỉnh vì lợi ích quốc gia, nhất là về phạm vi ảnh hƣởng
kinh tế - thƣơng mại, những vấn đề lợi ích chiến lƣợc sống còn, nhƣ không
gian tự do hành động, khu vực ảnh hƣởng, tài nguyên năng lƣợng, thƣơng
mại… Những điều này dẫn tới sự điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hƣớng
chủ động, linh hoạt, thực dụng ở các nƣớc, trong đó có Nga.
Ba là, trong năm 2012, không chỉ có sự thay đổi lãnh đạo ở Nga với
việc Tổng thống V. Putin lên nắm quyền, mà ở Mỹ Tổng thống B.Obama tái
cử nhiệm kỳ 2, tại Trung Quốc, nhà lãnh đạo Tập Cận Bình trở thành Tổng Bí
thƣ Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Trung Quốc, là lãnh đạo cấp
cao nhất với quyết tâm chấn hƣng dân tộc Trung Hoa, cũng nhƣ các nƣớc lớn
khác điều chỉnh và đẩy mạnh triển khai chiến lƣợc theo hƣớng chi phối quan
hệ quốc tế và cạnh tranh ảnh hƣởng toàn cầu. Mỹ tiếp tục điều chỉnh chiến
lƣợc nhằm duy trì ảnh hƣởng và đảm bảo lợi ích tại các khu vực trọng điểm,
thực hiện chính sách can dự toàn cầu nhằm duy trì vị thế, vai trò lãnh đạo thế
giới, thu hẹp không gian chiến lƣợc của các nƣớc lớn khác; tiếp tục coi châu
Âu là “đối tác cốt yếu”, triển khai các hệ thống phòng thủ tên lửa ở châu Âu
nhằm hạn chế khả năng răn đe của Nga, thể hiện rõ bản chấ t của khẩ u hiê ̣u

tại khu vực Trung Á, duy trì vùng đệm an ninh với Afganistan, Pakistan xung
quanh Nga. Trung Quốc viện trợ tài chính để tăng cƣờng kết nối với các nƣớc
CIS ở Trung Á thông qua Sáng kiến Vành đai và con đƣờng. Ấn Độ cũng
tăng cƣờng các mối quan hệ song phƣơng với các nƣớc Trung Á. Trong khi
đó, khu vực Trung Đông-Bắc Phi, Mỹ Latin tiếp tục chịu sự cạnh tranh ảnh

14


hƣởng mạnh mẽ của các nƣớc lớn. Ở khu vực Trung Đông-Bắc Phi, Mỹ thông
qua khoản viện trợ 70 triệu USD cho các phe đối lập Syria chống lại Chính
phủ của Tổng thống B. al-Assad. Một số nƣớc EU cũng phối hợp với Mỹ
trong các hoạt động quân sự ở Trung Đông-Bắc Phi. Hành động can thiệp
quân sự của Pháp tại Mali năm 2013 cho thấy Pháp đang tìm cách khôi phục
ảnh hƣởng ở châu Phi. Trung Quốc tiến hành viện trợ, cho vay và cam kết đầu
tƣ hàng tỷ USD đối với các nƣớc đang phát triển ở châu Phi và Trung Mỹ,
nâng cấp quan hệ song phƣơng với nhiều nƣớc nhƣ thiết lập quan hệ đối tác
chiến lƣợc với Sri Lanka (2013), quan hệ đối tác chiến lƣợc toàn diện với
Peru, Mexico (2013). Tháng 7/2014, Chủ tịch Tập Cận Bình đã có chuyến
thăm khu vực Mỹ Latin, với hàng loạt thỏa thuận hợp tác đƣợc ký kết với các
nƣớc nhƣ Brazil, Argentina, Venezuel, Cuba ở nhiều lĩnh vực, cùng với quyết
định thành lập Quỹ đầu tƣ vào cơ sở hạ tầng ở Mỹ Latin trị giá 20 tỷ USD, thể
hiện sự quan tâm lớn của Trung Quốc đối với khu vực này. Mỹ tuyên bố bình
thƣờng hóa và tái thiết lập quan hệ với Cuba (2016) thể hiện mong muốn
giành lại niềm tin và ảnh hƣởng ở khu vực Mỹ Latin. Nhật Bản cũng đẩy
mạnh can dự vào khu vực Mỹ Latin, thể hiện rõ qua chuyến thăm của Thủ
tƣớng S. Abe tới khu vực này vào tháng 7-8/2014 với các trạm dừng chân ở
Mexico, Trinigat, Tobago, Colombia, Chile, Brazi. Những điều chỉnh chiến lƣợc
này khiến cho sự cạnh tranh giữa các nƣớc lớn ở khu vực Mỹ Latin gia tăng.
Năm là, vai trò địa kinh tế và địa chính trị của châu Á-TBD ngày càng

biệt là IS… ngày càng diễn biến phức tạp, trở thành vấn đề toàn cầu, đe dọa
mọi quốc gia. Mặt khác, các vấn đề an ninh truyền thống nhƣ chiến tranh,
xung đột vũ trang... kéo dài, diễn biến phức tạp và có dấu hiệu gia tăng nhƣ
vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, vấn đề hạt nhân Iran, tranh chấp chủ
quyền lãnh thổ, lãnh hải ở Biển Đông, biển Hoa Đông và Bắc Cực, nội chiến
ở Syria, xung đột phe phái ở Yemen, Lybia, Nigeria... tiềm ẩn nhiều nguy cơ,
hiểm họa khó lƣờng, đe dọa đến sự ổn định, hòa bình và phát triển của thế
giới. Những điều này đòi hỏi sự tham gia và phối hợp giải quyết của các nƣớc
lớn nhƣ Mỹ, Nga, Trung Quốc... Ngƣợc lại, các cƣờng quốc cũng tìm cách

16


can dự vào các vấn đề có quy mô khu vực, toàn cầu để khẳng định tầm ảnh
hƣởng và vị thế quốc tế.
Tình hình thế giới biến động khó lƣờng với những thay đổi sâu sắc, tạo
ra cơ hội và thách thức cho các nƣớc, trong đó có Nga trong quá trình lấy lại
vị thế cƣờng quốc toàn cầu, qua đó tác động tới sự hình thành và triển khai
chính sách đối ngoại. Vì vậy, Nga cần phải có sự điều chỉnh linh hoạt các mối
quan hệ quốc tế, trên cơ sở đảm bảo các lợi ích cốt lõi.
1.1.2. Cuộc khủng hoảng Ukraine
Cuộc khủng hoảng Ukraine xảy ra năm 2014, xuất phát từ những mâu
thuẫn trƣớc đó. Do không đồng tình với quyết định hủy ký thỏa thuận thƣơng
mại liên kết châu Âu để quay lại đàm phán gia nhập Liên minh Hải quan với
Nga của Tổng thống V. Yanukovych, phe đối lập ở Ukraine với sự giúp đỡ
của các thế lực bên ngoài, từ tháng 11/2013 đã tiến hành các phong trào biểu
tình phản đối chống Chính phủ và tiến hành đảo chính lập pháp lật đổ Chính
phủ của Tổng thống hợp pháp V. Yanukovych vào tháng 2/2014, đƣa O.
Turchynov lên làm Tổng thống tạm quyền, tháng 5/2014 tổ chức bầu Petro
Poroshenko - ngƣời có tƣ tƣởng thân phƣơng Tây làm Tổng thống. Những

chặn xu hƣớng quan hệ Nga - Trung gia tăng sau khủng hoảng Ukraine, Mỹ
tìm cách cải thiện mối quan hệ với Trung Quốc thông qua cam kết thúc đẩy
quan hệ nƣớc lớn “kiểu mới”.
Hai là, EU tăng cƣờng quan hệ với Mỹ, điều chỉnh chính sách trong
quan hệ với Nga và thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc. Đối với Mỹ, chủ
trƣơng chung của EU là tăng cƣờng quan hệ toàn diện với Mỹ, tiếp tục ủng
hộ quan điểm của Mỹ về các biện pháp trừng phạt, làm suy yếu và ngăn
chặn Nga, đồng thời tăng cƣờng giúp đỡ Ukraine. Trong quan hệ với Nga,
EU liên tiếp thực hiện các lệnh trừng phạt Nga bất chấp những tổn hại lớn về
kinh tế đối với khối này. Trong quan hệ với Trung Quốc, do khủng hoảng
Ukraine dẫn đến mất thị trƣờng tại Nga, nên EU đẩy mạnh quan hệ nhiều
mặt với Trung Quốc, nhất là về kinh tế.

18


Ba là, Trung Quốc xác định tận dụng lợi thế để điều chỉnh sách lƣợc
quan hệ với các nƣớc lớn theo hƣớng có lợi cho nƣớc này, vì Nga, Mỹ, EU
đều cần đến Trung Quốc cả về chính trị, kinh tế và quốc phòng - an ninh. Đối
với Nga, trƣớc việc nƣớc này đẩy mạnh thực hiện chiến lƣợc “hƣớng Đông”,
Trung Quốc chủ trƣơng thúc đẩy “Quan hệ hợp tác cùng thắng, đƣa quan hệ
đối tác hợp tác chiến lƣợc toàn diện đi vào chiều sâu” (3/2013) để tăng cƣờng
quan hệ với Nga. Đối với Mỹ, mặc dù giữa hai bên còn nhiều mâu thuẫn về
mặt lợi ích, đặc biệt là sự cạnh tranh vị thế quốc tế và ảnh hƣởng tại khu vực
châu Á-TBD, nhƣng Trung Quốc xác định tăng cƣờng quan hệ với Mỹ trên
nguyên tắc đồng thuận và cùng có lợi, thực hiện mục tiêu xây dựng quan hệ
nƣớc lớn “kiểu mới” với Mỹ. Với EU, trong bối cảnh EU có những bất đồng
nội bộ, phải đối mặt với nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế cũng nhƣ
chịu sức ép từ Mỹ và Nga, Trung Quốc chủ trƣơng tăng cƣờng thúc đẩy quan
hệ nhiều mặt với EU để thâm nhập sâu vào khu vực này.

cũng có xu hƣớng coi trọng hơn việc lấy lại vị thế siêu cƣờng của Mỹ khi
những chính sách của Mỹ ở các khu vực chƣa đem lại nhiều kết quả nhƣ kỳ
vọng. Những điều này là cơ hội để Nga khẳng định mình và từng bƣớc vƣợt
qua đƣợc những lệnh trừng phạt của Mỹ và EU. Tuy nhiên, bối cảnh này
cũng khiến EU và Mỹ đều có xu hƣớng kiềm chế vị thế quốc tế đang lên của
Nga, dẫn tới cạnh tranh chiến lƣợc giữa Nga với Mỹ và phƣơng Tây không
những không giảm đi, mà tiếp tục diễn ra quyết liệt ở nhiều khu vực trên thế
giới. Mặc dù Nga đã có những thỏa thuận hợp tác với Mỹ và sự ủng hộ của
EU để cùng phối hợp giải quyết các vấn đề nóng của thế giới nhƣ cuộc chiến
chống IS, vấn đề hạt nhân Iran, cuộc khủng hoảng di cƣ…, nhƣng chiến lƣợc
tập hợp lực lƣợng bao vây, cô lập, làm suy yếu Nga của Mỹ và phƣơng Tây
vẫn không thay đổi.
1.2. Tình hình nội bộ nƣớc Nga
1.2.1. Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội
Năm 2012, Tổng thống V. Putin trở lại lãnh đạo Liên bang Nga với
nhiều yếu tố thuận lợi khi nƣớc Nga có sự phát triển kinh tế khá ổn định, cùng

20


với sự ủng hộ của ngƣời dân đối với Tổng thống V. Putin và Đảng nƣớc Nga
thống nhất cầm quyền. Tuy nhiên, bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị, xã hội
trong nƣớc chứa đựng nhiều yếu tố phức tạp cũng là những khó khăn, thách
thức không nhỏ đối với Tổng thống V. Putin.
Tình hình kinh tế nƣớc Nga có sự thuận lợi khi Nga đã thực sự trở lại vị
thế cƣờng quốc, vƣợt qua đƣợc cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu.
Tốc độ tăng trƣởng GDP của Nga trong nhiều năm duy trì ở mức 4%/năm.
Năm 2011, nền kinh tế Nga tăng trƣởng 4,3%, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống
mức thấp còn 6,3%, trong khi lạm phát chỉ ở mức 4,2% là mức thấp kỷ lục,
chƣa từng có trong lịch sử hiện đại của nƣớc Nga. Dự trữ vàng và ngoại tệ lớn

hoảng kinh tế nghiêm trọng khi giá dầu thế giới sụt giảm. Sự lao dốc của giá
dầu thô thế giới bắt đầu từ tháng 6/2014, cộng với các biện pháp trừng phạt
kinh tế của phƣơng Tây, đã giáng một đòn nặng nề vào kinh tế Nga. GDP của
Nga năm 2014 chỉ tăng ở mức thấp, 0,6% so với mức tăng 1,3% trong năm
2013 [74] và 2,4% của các năm trƣớc đó; đồng Rúp mất giá 9%, trong khi các
doanh nghiệp nƣớc ngoài rút vốn, bán tháo cổ phiếu, dự trữ ngoại hối của Nga
giảm hơn 70 tỷ USD, xuống còn 440 tỷ USD, mức thấp nhất trong 4 năm kể
từ năm 2010. Những khó khăn của nền kinh tế Nga đƣợc thể hiện rõ hơn trong
năm 2015. Theo đó, năm 2015, các số liệu kinh tế chủ yếu của Nga đều giảm
mạnh: GDP giảm 3,7% so với năm 2014, lạm phát ở mức 12,05%; dòng vốn
đầu tƣ rút khỏi Nga khoảng 70 tỷ USD; thâm hụt ngân sách liên bang khoảng
3% GDP [9, tr.11]. Từ tháng 03/2014 - 12/2015, đồng Rúp mất giá 72,7% so
với USD, 51,7% so với Euro. Đồng Rúp mất giá đẩy lạm phát tăng cao, sức
mua của ngƣời dân giảm, tỷ lệ lạm phát/năm lên đến 15,9%, thậm chí là 39%
trong nửa cuối năm 2015, thu nhập ngƣời dân giảm 4%, trên cả mức giảm của
GDP (là lần đầu tiên xuất hiện ở Nga kể từ sau năm 2000), lƣơng hƣu bị cắt
giảm 3,8%. Tại Diễn đàn kinh tế Gaida (01/2016), Thủ tƣớng Nga
D.Medvedev thừa nhận, “tình hình kinh tế Nga đang phải gánh chịu những
thách thức nghiêm trọng nhất trong gần 1 thập kỷ qua”, mặc dù mọi việc vẫn
“nằm trong tầm kiểm soát” [5, tr.22].

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status