Bài giảng: Chấn thương - Pdf 60

Thương tớch học y phỏp
--------------------
CHẤN THƯƠNG
I. ĐẠI CƯƠNG:
Chấn thương bao gồm mọi tổn thương do các vật từ bên ngoài tác động
vào cơ thể. Hình thái tổn thương nặng, nhẹ, nông, sâu phụ thuộc vào các vật tác
động, trọng lượng và áp lực của vật ấy.
Thương tích do các vật gây nên là bằng chứng thực thể tồn tại khá dài mà
giám định viên dựa vào để đánh giá mức độ tác hại đối với cơ thể nạn nhân, giúp
cho cơ quan pháp luật định mức án đúng đắn đối với hung thủ.
II. TỔN THƯƠNG CƠ BẢN CỦA THƯƠNG TÍCH VÀ PHÂN LOẠI:
1. Thương tích phần mềm:
Mức độ thương tích của phần mềm phụ thuộc vào lực tác động lớn hay
nhỏ của vật. Do đó tổn thương phần mềm có nhiều mức độ khác nhau.
1.1. Sây sát tổn thương này có thể thấy ngoài da hay trong nội tạng, dựa vào
hình thái vết hoặc mảng sây sát mà tổn thương làm mất một phần biểu bì
da, thanh mạc hoặc vỏ bao của các phủ tạng (khoảng 7 ngày thì bong
vẩy).
1.2. Bầm máu: tổn thương làm vỡ các mạch máu nhỏ, thường gặp ở dưới da
hay trong các tạng (tổn thương này phân biệt với vết hoen tử thi hoặc vết
xuất huyết của một số bệnh về máu...).
Dựa vào màu sắc mà ta xác định được thời gian chấn thương: màu tím
(vài giờ), màu đen (2-3 ngày), màu xanh (3-6 ngày), màu xanh lá mạ (7-12
ngày), màu vàng (12-25 ngày), sau 25 ngày mất dấu vết.
1.3. Tụ máu: thương tổn vỡ các mạch máu to hoặc nhỏ. Do áp lực của vật
cứng trên phần mềm làm vỡ các mạch máu trên vài tổ chức tạo ra cục
máu đông tại chỗ (tụ máu dưới MC; tụ máu ngoài MC).
1.4. Vết thủng: Tổn thương thủng là sự mất liên tục của tổ chức gây ra bởi
nhiều loại hung khí khác nhau - Đặc điểm của vết thương là hình khe hoặc
tròn (dao găm, dùi).
1.5. Vết cắt: Cũng là tổn thương mất liên tục của tổ chức như vết thương

trong chấn thương sọ).
2.3. Thủng xương: Là tổn thương làm xương mát tổ chức liên tục. Thủng
xương ít khi đơn độc, có khi kèm theo vụn xương và vỡ xương (do đạn
hoặc tô vít).
2.4. Gãy xương: Là sự tách rời xương làm hai hoặc nhiều mảnh, có khi còn
dính vào nhau. Trong chấn thương học y pháp, người ta phân biệt gẫy
xương trực tiếp và gián tiếp.
Gẫy xương gián tiếp là lực tác động của vật 1 nơi, xương gẫy nơi khác
(bẻ, vặn, hoặc đè mạnh của vật nặng).
2.5. Vỡ xương: Do áp lực mạnh làm xương rời ra nhiều mảnh, thương tích này
thường thấy ở xe hỏa, xe điện v.v...
2.6. Trật khớp: đầu xương bị đẩy ra khỏi ổ khớp (xương dài), mép xương chèn
lên nhau (xương sọ).
III.VẬT GÂY THƯƠNG TÍCH:
Tất cả những tổn thương cơ bản của phần mềm và phần xương đều do các
vật tày, sắc, nhọn gây ra. Mỗi vật tạo nên trên cơ thể những tổn thương có đặc
điểm riêng, giúp cho giám định viên phán đoán được dạng hung khí gây thương
tích.
1. Vật tày:
Là vật rất đa dạng trong các loại hung khí, tác động trên cơ thể bằng sức,
va đập, chèn ép, xô đẩy hay cọ sát. Bản thân 1 vật tày có thể gây nên nhiều hình
thái tổn thương khác nhau. Những hình thái ấy có thể kết hợp với nhau trên 1
nạn nhân như: bầm tím, dập nát, rạn xương, gẫy xương... Những vật tày thường
gặp như: nắm tay, khuỷu tay, gót chân, gậy gộc, hòn đá, bánh xe, mặt đường
.v.v...
Khi giám định y pháp thương tích do vật tày, cần tìm các dấu hiệu để xác
định tính chất của vật tày và xác định hướng tác động. Trường hợp nhiều thương
tích cần xác định thứ tự thương tích xảy ra và nêu rõ thương tích do nhiều vật
tác động hay chỉ 1 vật gây nên. Trên cơ sở những dấu tích trên nạn nhân, phán
đoán tương quan giữa nạn nhân và vật, mức độ thương tích gây nên tác hại đối

như: đặc điểm của vật sắc, phương thức gây nên thương tích và đặc điểm giải
phẫu khu vực của cơ thể.
- Vết cắt: Dao chém nghiêng, thương tích sẽ có mảnh hoặc vạt da.
- Đầu của vết thương có khia da (đuôi), chứng tỏ lưỡi dao đưa đi đưa lại nhiều
lần trên một diện (tự tử).
- Thương tích thẳng hay cong do nơi bị thương phẳng hay tròn hoặc do nạn
nhân đổi tư thế.
- Lưỡi dao còn hoặc mẻ khiến thương tích nham nhở.
2.3. Tình huống xảy ra thương tích do vật sắc:
- Do nạn nhân gây ra: Thường thấy thương tích ở những vùng mà tay nạn nhân
dễ dàng tạo ra được như cổ, ngực, bụng, cổ tay. Đặc điểm thương tích tự gây
ra thường nhiều vết thương song song và nông.
- Do người khác gây ra: Thương tích có thể thấy ở bất kỳ nơi nào trên cơ thể.
Các vết thương do nạn nhân tự bảo vệ thấy ở bàn tay, cánh tay (động tác
chống đỡ, né tránh hung khí).
3. Thương tích do vật nhọn:
Vật nhọn thường có 1 đầu nhọn hay mũi nhọn. Vật nhọn có mũi nhọn
thân tròn và dài như dùi, kim, đinh... Mũi nhọn thân có cạnh như các loại dũa,
dùi mở nút chai...
3.1. Mũi nhọn không có lưỡi sắc:
3.1.1. Đặc điểm của thương tích do vật nhọn:
- Miệng hẹp, hình bầu, hình khe, thường rất sâu, có rãnh xuyên có lỗ vào và
đôi khi có lỗ ra.
- Kích thước của vết thương trên da nhỏ hơn kích thước của hung khí do sự
đàn hồi của da.
- Xung quanh của lỗ đâm có thể thấy vòng sước da, nếu bề mặt của vật thô ráp
và thường ít tụ máu.
3.1.2. Biến dạng thương tích do vật nhọn:
- Hung khí nhọn, tròn: Vết đâm hình trám do lớp chun của hạ bì chi phối.
- Hung khí nhọn có góc: Vết thương có hình sao.

B. Phân biệt thương tích có trước hay sau chết:
1. Rửa vết thương (ngấm máu thì có khi còn sống và ngược lại).
2. Quan sát miệng vết thương (sống thì há miệng - chết thì khép miệng).
3. Nhuộm các sợi chun của tổ chức dưới da.
C. Phân biệt hoen tử thi với bầm máu.
D. Phân biệt côn trùng - súc vật ăn tử thi với thương tích do vật gây nên.
E. Đối với rạn xương (xương sọ) - nhìn qua ánh sáng.
F. Xác định nhóm máu: - Hung thủ
- Nạn nhân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status