(Luận văn thạc sĩ) Bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp theo pháp luật đất đai ở Việt Nam từ thực tiễn huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam - Pdf 60

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN TIẾN DŨNG

BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
NÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI Ở
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BẮC TRÀ MY,
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN TIẾN DŨNG

BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
NÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI Ở
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BẮC TRÀ MY,
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành

: Luật Kinh tế

Mã số


nghiệp tại huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam .......................................................47
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI
NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BẮC
TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM ............................................................................61
3.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ...................................................61
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp ........................................................................................................................65
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp .............................................................................................68
KẾT LUẬN ..............................................................................................................75
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT

Nghĩa đầy đủ

Từ viết tắt

1

CNH – HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

2


UBND

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG

Tên bảng

STT
2.1
2.2
2.3

So sánh mật độ và đơn giá cây trồng tại tỉnh Quảng Nam và
Quảng Ngãi
Tình hình sử dụng đất huyện Bắc Trà My năm 2018
Thống kê về các dự án bồi thường trên địa bàn huyện Bắc Trà
My từ năm 2014 - 2018

Trang
39
48
51


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một đất nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống bằng nghề

hội học, kinh tế… Ở góc độ pháp lý có một số bài viết, luận án, luận văn sau:
Bài viết “Vấn đề lý luận xung quanh khái niệm khi Nhà nước THĐ nông
nghiệp” của TS Nguyễn Quang Tuyến – Tạp chí Luật học, số 01/2009. Bài viết đã
đưa ra những cơ sở lý luận cho việc xây dựng khái niệm khi Nhà nước THĐ. Từ đó,
cung cấp cho người đọc những vấn đề lý luận về bồi thường khi Nhà nước THĐ.
Luận án tiến sĩ “Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp”
của tác giả Phạm Thu Thủy. Luận án đã hệ thống được những cơ sở pháp lý của
việc Nhà nước THĐ nông nghiệp, đánh giá được thực trạng pháp luật và đưa ra
những giải pháp hoàn thiện pháp luật. Luận án đã được thực hiện năm 2014 có liên
hệ với những quy định của LĐĐ 2013 vì vậy luận án chưa đánh giá được hết thực
trạng của LĐĐ 2013 qua hơn 4 năm có hiệu lực.
Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp
và thực tiễn thi hành tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” của tác giả Dương Đức Sinh.
Luận văn đã giải quyết được một số vấn đề lý luận của đề tài nghiên cứu. Đồng
thời, luận văn cũng đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ có giá trị tham khảo.
Luận văn thạc sĩ “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp theo
pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định” của tác giả Trần Nhật Quân. Trên
cơ sở phân tích nội dung các quy định về bồi thường đất nông nghiệp và thực tiễn
thi hành tại tỉnh Bình Định, luận văn đã đưa ra những phương hướng, giải pháp
hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp. Tuy nhiên,
một số giải pháp của luận văn chưa mang tính cụ thể.
Liên quan đến thực tiễn bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp tại
huyện Bắc Trà My chưa có công trình nghiên cứu về vấn đề này. Chính vì vậy, kế
thừa những thành tựu của những nghiên cứu trên, luận văn tập trung làm rõ những
vấn đề lý luận về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp theo pháp luật đất đai
và thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp từ
thực tiễn huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam

2

dụng ở chương 1 để nghiên cứu những vấn đề lý luận về bồi thường khi Nhà nước

3


THĐ nông nghiệp theo pháp luật đất đai Việt Nam.
Phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp đối chiếu,
phương pháp đánh giá được sử dụng ở chương 2 để phân tích, đánh giá, bình luận
về thực trạng pháp luật bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp và thực tiễn thi
hành tại huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam.
Phương pháp tổng hợp, phương pháp diễn giải được sử dụng ở chương 3 để
khái quát hóa và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi
Nhà nước THĐ nông nghiệp từ thực tiễn huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Luận văn cung cấp tri thức nhận thức lý luận về bồi thường khi Nhà nước
THĐ nông nghiệp và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp. Căn
cứ luận cứ đánh giá thực trạng pháp luật và luận cứ hoàn thiện pháp luật. Nâng cao
hiệu quả thực hiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp.
Tác giả mong muốn kết quả của luận văn là tài liệu trong nghiên cứu, đào
tạo, nội dung thực thi chính sách pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông
nghiệp.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn được thực hiện trong 3 chương sau đây:
* Chương 1: Những vấn đề lý luận về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông
nghiệp theo pháp luật đất đai Việt Nam.
* Chương 2: Thực trạng pháp luật bồi thường khi Nhà nước THĐ nông
nghiệp và thực tiễn thi hành tại huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam.
* Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thực hiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiêp từ thực tiễn

Theo định nghĩa của Từ điển luật học của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư
pháp) thì: “Đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất được xác định là TLSX chủ yếu
phục vụ cho việc trồng trọt và chăn nuôi, nghiên cứu thí nghiệm về trồng trọt và
chăn nuôi, bảo vệ môi trường sinh thái, cung ứng sản phẩm cho các ngành công
5


nghiệp và dịch vụ” [43, tr. 237-238].
Dưới góc độ pháp lý, trải qua các giai đoạn khác nhau đất nông nghiệp được
pháp luật quy định khác nhau.
Theo quy định tại Luật Đất đai 1993 thì giai đoạn này chúng ta có sáu loại
đất. Đó là đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị, đất
chuyên dùng, đất chưa sử dụng. Theo quy định tại LĐĐ 1993 thì đất nông nghiệp là
đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt,
chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Như
vậy, giai đoạn này đất lâm nghiệp được tách ra khỏi đất nông nghiệp.
Theo quy định tại Điều 13 LĐĐ 2003 thì căn cứ vào mục đích sử dụng đất
đai được phân loại thành nhóm đất nông nghiệp và nhóm đất phi nông nghiệp và
nhóm đất chưa sử dụng. Theo đó, đất nông nghiệp gồm các loại sau đây: đất trồng
cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây
hàng năm khác; đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất
rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thuỷ sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác theo
quy định của Chính phủ. Như vậy, bằng cách liệt kê các loại đất được sử dụng vào
mục đích nông nghiệp thành nhóm đất nông nghiệp, LĐĐ 2003 đã có cái nhìn khái
quát hơn về đất nông nghiệp.
Kế thừa những quy định của LĐĐ 2003, LĐĐ 2013 cũng căn cứ vào mục
đích sử dụng vào mục đích nông nghiệp để liệt kê một số loại đất vào nhóm đất
nông nghiệp. Trên thực tế, người nông dân vừa có thể là người nông dân, vừa là
ngư dân, vừa là diêm dân vì họ đồng thời sở hữu các loại đất khác nhau. Việc quy
định các loại đất được sử dụng vào mục đích nông nghiệp thành nhóm đất nông

chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này. Khái niệm
này chỉ đề cập đến hai chủ thể đó là tổ chức và UBND xã, phường, thị trấn và đã bỏ
qua hai chủ thể phổ biến khi bị THĐ đó là hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất.
Dựa trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở
hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước tuy là chủ sở hữu toàn bộ đất đai nhưng không
trực tiếp khai thác, sử dụng toàn bộ đất đai mà chuyển giao từng thửa đất cho người
sử dụng đất để trực tiếp sử dụng. Việc chuyển giao này được thực hiện thông qua
các hình thức phân phối đất đai theo quy định của pháp luật. Mỗi một giai đoạn
kinh tế - xã hội nhất định, Nhà nước có thể điều chỉnh về mục đích, về chủ thể sử

7


dụng đất để đảm bảo đất đai được sử dụng có hiệu quả nhất, phục vụ lợi ích chung
của toàn xã hội thông qua hoạt động điều phối đất đai. THĐ là một trong những
hoạt động điều phối đất đai của cơ quan Nhà nước. LĐĐ 2013 quy định: Nhà nước
THĐ là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà
nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp
luật về đất đai. Như vậy, bằng quyết định hành chính Nhà nước có thể giao đất, cho
thuê đất thì bằng quyết định hành chính Nhà nước cũng có thể THĐ.
Với những nghiên cứu trên có thể rút ra khái niệm THĐ như sau: THĐ là
việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất và quyền sử dụng đất đã giao
cho chủ thể sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai. Như vậy, THĐ nông
nghiệp là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất nông nghiệp và
quyền sử dụng đất nông nghiệp đã giao cho chủ thể sử dụng đất theo quy định của
pháp luật đất đai.
Nhà nước THĐ để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; lợi ích quốc
gia; lợi ích công cộng…Sở dĩ, Nhà nước THĐ nông nghiệp là vì:
Thứ nhất, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định:
Phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng

lợi ích quốc gia, công cộng thì Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường. Trách
nhiệm bồi thường này phát sinh không phải do lỗi của Nhà nước hay người sử dụng
đất mà phát sinh do nhu cầu sử dụng vào các mục đích do pháp luật đất đai quy
định.
Theo Từ điển Tiếng việt: Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra [45,
tr.79].
Trong lĩnh vực pháp lý, trách nhiệm bồi thường được đề cập khi một chủ thể
có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho chủ thể khác trong xã hội. Theo đó,
đây là một dạng trách nhiệm pháp lý. Trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi (Sự
trừng phạt) đối với chủ thể vi phạm pháp luật, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa
Nhà nước với chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và
điều chỉnh, trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi,
những biện pháp cưỡng chế được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật [33,
tr.508]. Trách nhiệm pháp lý được đề cập ở đây có thể là trách nhiệm bồi thường
Nhà nước, trách nhiệm vật chất do hành vi của người lao động gây ra trong lĩnh vực

9


pháp luật lao động, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong lĩnh vực
pháp luật dân sự.
Trong lĩnh vực đất đai, thuật ngữ bồi thường hay đền bù khi Nhà nước THĐ
được đặt ra từ rất sớm. Nghị định số 151/TTg ngày 14/01/1959 của Hội đồng Chính
phủ quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất, tại chương II đã đề cập việc
“Bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng dụng”. Thông tư số 1792/TTg ngày
11/01/1970 của Thủ tướng Chính phủ về quy định một số điểm tạm thời về bồi
thường nhà cửa, đất đai, cây cối lâu niên, các hoa mầu cho nhân dân ở vùng xây
dựng kinh tế mở rộng thành phố cũng đề cập đến vấn đề bồi thường khi Nhà nước
THĐ. Đặc biệt, sau khi LĐĐ 1987 được ban hành, Hội đồng bộ trưởng đã ban hành
Quyết định số 186/ HĐBT ngày 31/5/1990 quy định về đền bù thiệt hại đất nông

dụng. Đối với khái niệm đền bù thiệt hại dưới góc độ pháp lý, khái niệm đền bù
thiệt hại khi Nhà nước THĐ chưa được giải thích rõ ràng tại văn bản nào. Tuy nhiên
theo Từ điển Tiếng việt thì đền bù là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao
[45, tr.261]. Như vậy, chúng ta có thể hiểu đền bù khi Nhà nước THĐ là trả lại
những thiệt hại do việc THĐ gây ra tương xứng với giá trị và công lao mà người sử
dụng đã đầu tư vào trong quá trình sử dụng. Giữa hai khái niệm này có những điểm
giống nhau sau đây:
Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường hay đền bù khi Nhà nước THĐ phát sinh
do hành vi THĐ Nhà nước gây ra.
Thứ hai, bồi thường hoặc đền bù khi Nhà nước THĐ đều là trách nhiệm của
Nhà nước nhằm bù đắp về tổn thất về quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Thứ ba, chủ thể của quan hệ pháp luật về bồi thường hoặc đền bù khi Nhà
nước THĐ một bên là Nhà nước (Chủ thể có hành vi THĐ) và một bên là người sử
dụng đất bị thu hồi (Người chịu tổn hại về quyền và lợi ích hợp pháp do hành vi
THĐ gây ra).
Thứ tư, căn cứ để xác định bồi thường hoặc đền bù thiệt hại là diện tích đất
thực tế bị thu hồi và thiệt hại về tài sản, cây cối, hoa màu trên đất và khung giá đất
do Nhà nước quy định tại thời điểm bồi thường.
Thứ năm, người sử dụng đất khi bị Nhà nước THĐ muốn được bồi thường
hoặc đền bù phải thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định.
Sự khác nhau giữa khái niệm bồi thường khi Nhà nước THĐ và đền bù thiệt

11


hại khi Nhà nước THĐ.
Thứ nhất, thuật ngữ đền bù thiệt hại khi Nhà nước THĐ khiến người ta nghĩ
ngay đến việc đền bù 100% giá trị của mảnh đất bị thu hồi trong khi giá trị ban đầu
của đất đai không do con người tạo ra mà họ chỉ tạo ra giá trị tăng thêm của đất đai
(Do người sử dụng đất đầu tư vào đất). Trong khi đó, thuật ngữ bồi thường khi Nhà

thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp là hành vi THĐ nông nghiệp của Nhà nước
vì mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hay vì mục tiêu
phát triển kinh tế. Hành vi này không mang yếu tố lỗi của Nhà nước mà nó là kết
quả của một trong những hoạt động điều phối đất đai của Nhà nước.
Thứ hai, đối tượng được bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp. Đối
tượng được bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp là người sử dụng đất nông
nghiệp bị thu hồi đáp ứng được các điều kiện bồi thường do pháp luật quy định.
Điều kiện được bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp: quyền sử dụng đất
phải được công nhận là tài sản của người sử dụng đất và thuộc loại được phép giao
dịch; có căn cứ chứng minh quyền sử dụng đất; việc THĐ không phải do vi phạm
pháp luật đất đai.
Thứ ba, về phạm vi bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp. Đất nông
nghiệp là TLSX quan trọng của người nông dân. Con người đã dùng đất nông
nghiệp kết hợp với sức lao động đã tạo ra nhiều sản phẩm cho ngành chăn nuôi,
trồng trọt, lâm nghiệp… Người nông dân qua quá trình sản xuất đã gắn bó với đất
đai vì vậy đất đai không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa tinh thần đối
với họ. Vì vậy, việc bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp không chỉ bồi
thường về đất, chi phí đầu tư vào đất mà còn bao gồm các chi phí về hỗ trợ đào tạo,
chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước THĐ.
Thực hiện tốt công tác bồi thường sẽ giúp người dân thích nghi nhanh với việc bị
THĐ, ổn định sản xuất và cuộc sống.
1.1.3. Lý do Nhà nước bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Việc THĐ nông nghiệp vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là một trong những xu thế tất yếu khách quan.
Đi liền với công tác THĐ là công tác bồi thường khi Nhà nước THĐ. Sở dĩ, Nhà
nước phải bồi thường cho người sử dụng đất bị thu hồi vì những lí do sau đây:

13


Thứ nhất, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một Nhà nước



nước có quyền đơn phương ra quyết định hành chính để THĐ, song Nhà nước phải
thể hiện trách nhiệm của mình trong việc bù đắp những thiệt hại, những tổn thất về
vật chất cho người dân do việc THĐ gây nên. Đối với đất ở khi bị thu hồi Nhà nước
có thể bồi thường bằng một mảnh đất khác hoặc nhà ở tái định cư hoặc bằng tiền.
Nhưng đối với đất nông nghiệp phương thức bồi thường bằng đất nông nghiệp khác
trở nên không khả thi vì quỹ đất công ích tại các địa phương trên thực tế không
nhiều. Đối với phương thức bồi thường bằng tiền khó có thể giành được sự đồng
thuận nhất trí của người dân vì sự chênh lệch giữa giá đất nông nghiệp với giá đất
phi nông nghiệp và giá đất trên thị trường. Khi bị THĐ nông nghiệp người dân sẽ
phải đối mặt với việc mất đi nguồn sống, nguồn làm việc vì mất đi TLSX chính.
Hơn nữa bên cạnh việc ảnh hưởng đến thu nhập, việc làm của người dân thì việc
THĐ còn ảnh hưởng đến tình cảm, cảm xúc, sinh hoạt, cuộc sống hằng ngày của
người dân. Chính vì vậy, Nhà nước phải thực hiện tốt chính sách bồi thường, hỗ trợ
để ổn định sinh kế và cuộc sống người có đất bị thu hồi. Có như vậy mới tạo được
sự đồng thuận, thống nhất của người sử dụng đất bị thu hồi, góp phần ổn định tình
hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Thứ tư, hiện nay Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa. Đây là động lực hàng đầu thúc đẩy hội nhập quốc tế phát triển đặc
biệt là hội nhập kinh tế quốc tế. Để tận dụng được những thời cơ và vượt qua thách
thức của quá trình hội nhập quốc tế đem lại, chúng ta phải phát huy nội lực, tinh
thần đoàn kết dân tộc và lòng yêu nước, tính năng động, chủ động, sáng tạo của mỗi
người dân. Để làm được điều này chúng ta phải ghi nhận và bảo hộ các quyền và lợi
ích chính đáng của người dân.
1.1.4. Ý nghĩa của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Đối với người nông dân, đất nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong
cuộc sống của họ. Đất là TLSX chủ yếu và tham gia vào hầu hết các quá trình sản
xuất của người nông dân. Chính vì vậy, việc THĐ nông nghiệp của người sử dụng
đất phải đảm bảo được lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất bị thu

hội nào cũng được điều chỉnh bởi pháp luật. Chỉ những quan hệ xã hội phổ biến,
quan trọng mà Nhà nước thấy cần thiết mới được điều chỉnh bằng pháp luật. Trong
lĩnh vực đất đai, đối với những quan hệ bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp
cũng được điều chỉnh bởi những quy phạm pháp luật. Tập hợp những quy phạm

16


pháp luật này tạo thành chế định pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông
nghiệp. Chế định pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp cùng với
những chế định pháp luật khác như đăng ký đất đai, THĐ … tạo nên ngành LĐĐ.
Có thể hiểu về chế định pháp luật bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp như
sau: Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp là tổng hợp các quy
phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
trong quá trình bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp, nhằm giải quyết hài
hòa lợi ích của Nhà nước, của nhà đầu tư và người sử dụng đất bị thu hồi.
Những quy định về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp nếu phù hợp
với thực tiễn khách quan thì sẽ thúc đẩy những quan hệ pháp luật về bồi thường khi
Nhà nước THĐ nông nghiệp phát triển. Ngược lại sẽ kìm hãm những quan hệ này
phát triển, tạo ra sự không đồng thuận trong nhân dân gây ra khiếu nại, khiếu kiện
về lĩnh vực bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp.
1.2.2. Đặc điểm pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp
Thứ nhất, bồi thường khi Nhà nước THĐ là mang tính chất tư. Nếu như THĐ
mang yếu tính chất công vì hành vi THĐ thông qua quyết định hành chính thì bồi
thường khi Nhà nước đất mang tính chất tư vì dựa trên sự thỏa thuận giữa Nhà nước
và người sử dụng đất.
Thứ hai, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp chịu sự
ảnh hưởng và chi phối về sở hữu toàn dân về đất đai. Đặc điểm này được thể hiện ở
những khía cạnh sau đây:

sử dụng đất nông nghiệp bị thu hồi.
1.2.3. Nội dung pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp
Thứ nhất, nhóm quy phạm quy định về nguyên tắc và điều kiện bồi thường
khi Nhà nước THĐ nông nghiệp.
Nguyên tắc là những quan điểm, tư tưởng mang tính chủ đạo. Nguyên tắc bồi
thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp là những quan điểm, tư tưởng mang tính
nền tảng, làm định hướng và tạo cơ sở cho việc thực hiện và áp dụng các quy định
của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp. Hiện nay, việc THĐ
nông nghiệp dựa trên một số nguyên tắc sau đây: Người sử dụng đất khi bị Nhà

18


nước THĐ nếu có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định của pháp luật thì
được bồi thường; việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục
đích sử dụng với loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định THĐ; việc bồi
thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công
khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật. Việc thực hiện tốt các nguyên tắc khi
Nhà nước THĐ nông nghiệp sẽ giúp cho công tác bồi thường khi Nhà nước thu đất
nông nghiệp diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, giải quyết hài hòa lợi ích của
Nhà nước và người sử dụng đất bị THĐ nông nghiệp.
Điều kiện được bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp là những yếu tố
mà người sử dụng đất cần phải có để được bồi thường khi Nhà nước THĐ nông
nghiệp.
Một là, quyền sử dụng đất phải được công nhận là tài sản của người sử dụng
đất và thuộc loại được phép giao dịch. Có những trường hợp người sử dụng đất có
quyền sử dụng đất hợp pháp nhưng họ chỉ được phép sử dụng mà không được bồi
thường (Như trường hợp tổ chức được giao đất không thu tiền sử dụng đất; các chủ
thể thuê đất của Nhà nước mà trả tiền thuê đất hàng năm).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status