VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHI
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO PHÁP LUẬT
ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN VÂN ĐỒN,
TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHI
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO PHÁP LUẬT
ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN VÂN ĐỒN,
TỈNH QUẢNG NINH
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8 38 01 07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ
HÀ NỘI, 2019
cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
......................................................................................................................... 60
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai và nâng
cao hiệu quả thi hành tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh .......................... 63
KẾT LUẬN .................................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Công tác GQTCĐĐ của UBND huyện và UBND các xã thị trấn
trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh .................................... 37
Bảng 2.2. Công tác GQTCĐĐ thông qua TAND huyện Vân Đồn,
Quảng Ninh .......................................................................................... 41
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
GQTCĐĐ
Giải quyết tranh chấp đất đai
HĐND
Hội đồng nhân dân
TAND
Tòa án nhân dân
cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về đất đai, thẩm quyền
GQTCĐĐ của các cơ quan có thẩm quyền (qua thực tiễn tại huyện Vân Đồn)
trong những năm gần đây, trên cơ sở đó nhằm đề xuất những kiến nghị, bổ
sung chính sách, pháp luật về đất đai và đưa ra hướng giải quyết các TCĐĐ
một cách hợp lý, có hiệu quả, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho công
dân là việc làm có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn hiện nay.
1
Với nhận thức như vậy, tôi đã lựa chọn đềtài:“Giải quyết tranh chấp đất đai
theo pháp luật đất đai ở Việt Nam từ thực tiễn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng
Ninh” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xoay quanh chủ đề giải quyết tranh chấp đất đai theo pháp luật Việt
Nam,trong quá trình nghiên cứu tác giả đã tìm thấy nhiều công trình nghiên
cứu, bài viết có liên quan, với nhiều cách viết và tiếp cận khác nhau, trong đó
có các công trình sau đây:
Luận văn Tiến sĩ Luật học, “TCĐĐ và GQTCĐĐ bằng tòa án ở nước
ta” của tác giả Mai Thị Tú Oanh, được thực hiện tại Học viện Khoa học xã
hội Việt Nam năm 2013 đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về
TCĐĐ và GQTCĐĐ thông qua tòa án, trên cơ sở phân tích và làm rõ những
vấn đề nghiên cứu của thực trạng, đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp
luật và tổ chức thực hiện pháp luật về GQTCĐĐ ở Việt Nam trong giai đoạn
05 năm tiếp theo [25].
Luận văn Thạc sĩ Luật học, “GQTCĐĐ theo thủ tục hành chính trong
vùng đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh An Giang” của tác giảNguyễn Thành
Đoàn, được thực hiện tại Trường Đại học Luật TP.HCM năm 2009, tác giả đã
trình bày được Cơ sở lí luận và pháp lí GQTCĐĐ theo thủ tục hành chính.
Thực trạng giải quyết ranh chấp đất đai theo thủ tục hành chính đối với đồng
bào dân tộc trên địa bàn tỉnh An Giang và một số giải pháp nâng cao hiệu quả.
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài luận văn đưa ra
những nhiệm vụ nghiên cứu cần thực hiện cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật GQTCĐĐ tham chiếu
với hoạt động GQTCĐĐ của các cơ quan hành chính và hoạt động xét xử của
TAND thông qua việc giải quyết những vấn đề cụ thể sau: Phân tích khái
3
niệm và đặc điểm của TCĐĐ; các dạng TCĐĐ; nguyên nhân của TCĐĐ.Phân
tích khái niệm GQTCĐĐ và pháp luật GQTCĐĐ; ý nghĩa của quan hệ pháp
luật vềGQTCĐĐ; các nguyên tắc GQTCĐĐ; cơ cấunội dung pháp luật về
GQTCĐĐ, các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật GQTCĐĐ.
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về GQTCĐĐ và thực tiễn
thực hiện của cơ quan quản lý hành chính và tại TAND huyện Vân Đồn,
tỉnh Quảng Ninh.
- Đề xuất và nghiên cứu định hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện
pháp luật về GQTCĐĐ và nâng cao hiệu quả thi hành từ thực tiễn huyện Vân
Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật Việt
Nam về GQTCĐĐ và kết quả thực hiện pháp luật về GQTCĐĐ thông qua cơ
quan hành chính và TAND huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
Việc GQTCĐĐ ở huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh hiện nay, tùy theo
loại vụ việc, thuộc thẩm quyền giải quyết tại cơ quan hành chính và cơ quan
tư pháp giải quyết.
Khi khảo sát thực tiễn tổ chức thực hiện và thực tiễn vụ việc, luận văn
chỉ phân tích thực tiễn và các vụ việc TCĐĐ được giải quyết tại huyện Vân
Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
Các thông tin, số liệu thu thập trong luận văn là những thông tin, số liệu
Đề tài nghiên cứu này được thực hiện dựa trên cơ sở phân tích đánh giá
thực trạng về GQTCĐĐ ở huyện Vân Đồn. Trên cơ sở đó chỉ ra những bất
cập, tồn tại của pháp luật đất đai hiện hành về thẩm quyền và thủ tục
GQTCĐĐ; đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về GQTCĐĐ
nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của
Việt Nam.
5
Các kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn cũng như các giải pháp
được đề xuất của đề tài này có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ
sở đào tạo và nghiên cứu luật học tại Việt Nam. Một số kiến nghị được tác giả
đề xuất khi làm rõ các nguyên nhân của hạn chế đề tài có giá trị tham khảo
đối với cơ quan xây dựng và thực thi pháp luật về đất đai nói chung, pháp luật
về GQTCĐĐ nói riêng ở nước ta.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về GQTCĐĐ và về pháp luật
GQTCĐĐ;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về GQTCĐĐ và thực tiễn thực hiện tại
huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh;
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả thực hiện pháp luật về GQTCĐĐ từ thực tiễn tại huyện Vân Đồn,
tỉnh Quảng Ninh.
6
Chương 1
một cuộc cách mạng xã hội.
Theo quy định mới nhất tại Điều 3, Luật Đất đai năm 2013, khái
niệm TCĐĐ đã được kế thừa và phát triển và được hiểu là tranh chấp về
quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan
hệ đất đai [32].
Từ nội dung khái niệm và các quan điểm về TCĐĐ, chúng ta có thể
nhận định rằng khi các bên xảy ra tranh chấp mà không thể cùng nhau tự giải
quyết các tranh chấp đó mà phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phán xử
nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên trong tranh chấp. Trong phạm
vi luận văn, tác giả sử dụng khái niệm TCĐĐ của Luật Đất đai năm 2013 [6].
1.1.1.2. Đặc điểm tranh chấp đất đai
Là một dạng đặc biệt và phổ biến của tranh chấp dân sự, TCĐĐ vừa
chứa đựng những đặc điểm chung của một tranh chấp dân sự, đồng thời lại
vừa có những đặc điểm đặc trưng riêng khác với các tranh chấp dân sự, tranh
chấp lao động, tranh chấp kinh doanh, thương mại khác... mà những đặc điểm
này sẽ giúp các nhà làm luật, nhà nghiên cứu và những người quan tâm có thể
dễ dàng hơn trong tiếp cận và tiềm hiểu về TCĐĐ có thể chỉ ra những điểm
khác biệt chủ yếu sau đây:
Một là, xét về chủ thể tranh chấp, TCĐĐ chỉ xuất hiện giữa các chủ thể
có quyền quản lý và quyền sử dụng đất chứ không phải là các chủ thể của của
quyền sở hữu đất đai. Bởi lẽ, ở Việt Nam, quyền sở hữu đất thuộc về toàn dân
do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu. Các chủ thể được Nhà nước giao cho
quyền sử dụng đất được xác lập trên cơ sở được nhà nước trao quyền sử dụng
đất (thông qua quyết định giao đất, hợp đồng cho thuê đất của Nhà nước hoặc
được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất
đang sử dụng) hoặc được Nhà nước cho phép nhận chuyển nhượng từ các chủ
8
thể khác theo quy định của pháp luật về đất đai hiện hành. Vì thế, chủ thể của
đó bao chiếm quá nhiều diện tích đất nhưng sử dụng lại kém hiệu quả [49].
Đất nước ta trải qua thời gian chiến tranh kéo dài, gây xáo trộn lớn về
nơi cư trú cùng với những chính sách đất đai khác nhau áp dụng của từng thời
kỳ, đã dẫn đến những biến động lớn về chủ sử dụng đất. Mặc dù Luật Đất đai
năm 1993 và 2003 đã quy định, Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất
Nhà nước đã quản lý và giao cho người khác sử dụng nhưng nhiều trường hợp
vẫn tranh chấp, khiếu nại đòi lại đất cũ.
(2) Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, về hệ thống ván bản quản lý: Hệ thống chính sách, pháp luật
về đất đai thiếu đồng bộ, thiếu cụ thể phù hợp với địa phương này nhưng
không phù hợp với địa phương khác và thường xuyên thay đổi, từ đó dẫn đến
có một số trường hợp áp dụng pháp luật một cách tùy tiện hoặc thiếu khách
quan, không quan tâm đầy đủ đến quyền lợi của người sử dụng đất, gây nên
những bức xúc. Mặt khác, chính sách, pháp luật đất đai từng bước thay đổi
theo chiều hướng ngày càng quan tâm đến lợi ích chính đáng của người sử
dụng đất, từ đó tạo ra sự suy bì, nhất là trong chính sách bồi thường, giải
phóng mặt bằng. Hơn nữa, việc giao đất lại không được tiến hành theo một
quy trình chặt chẽ, nên hồ sơ đất đai không đồng bộ và bị thất lạc. Chưa kịp
thời ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành để cụ thể hóa các văn bản qui
phạm pháp luật đất đai đã giao quyền cho địa phương; chưa đầu tư kinh phí
thỏa đáng để xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính, đảm bảo quản lý chặt chẽ
đối với từng thửa đất; công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn
chậm, công tác thanh tra, kiểm tra về đất đai còn hạn chế, việc tuyên truyền,
phổ biến pháp luật về đất đai chưa kịp thời, thường xuyên.
10
Thứ hai, về công tác cán bộ thực hiện công vụ liên quan đến đất đai
Đất đai là vấn đề phức tạp, đã và đang phát sinh nhiều khiếu kiện, giải
nhau trên cùng địa bàn, không chấp hành đúng hoặc chưa đầy đủ qui định về
trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, tái định cư. Bên cạnh đó, một số bộ
phận làm công tác bồi thường, cán bộ địa chính không nắm vững chính sách,
pháp luật đất đai nên quá trình thực hiện các bước trong công tác bồi thường,
giải phóng mặt bằng người dân chưa thỏa mãn, còn nghi ngờ dẫn đến phát
đơn khiếu kiện [49].
Thứ tư, về công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật về đất
đai: Công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật đất đai hiện nay
mặc dù đã được triển khai nhưng chưa được coi trọng, làm cho nhiều văn bản
pháp luật đất đai của Nhà nước chưa được phổ biến sâu rộng trong nhân dân
để giúp cán bộ, nhân dân nhanh chóng cập nhật kiến thức về pháp luật liên
quan.
1.1.1.4. Phân loại tranh chấp đất đai
Theo Khoản 24, Điều 3, Luật Đất đai 2013 thì TCĐĐ là tranh chấp về
quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ
đất đai. Trong khái niệm này chúng ta cần lưu ý: đối tượng của TCĐĐ không
phải là quyền sở hữu đất, các chủ thể tham gia tranh chấp không phải là các chủ
thể có quyền sở hữu đối với đất. Đây là điều không phải bàn cãi vì Điều 53, Hiến
pháp 2013 hay điều 4, Luật đất đai 2013 quy định rất rõ đất đai thuộc sở hữu
toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý [32].
Trên thực tế, TCĐĐ không chỉ là hiện tượng phổ biến mà trong đó còn
hết sức đa dạng về chủ thể cũng như nội dung tranh chấp. Tuy nhiên, về cơ
bản TCĐĐ được chia thành ba dạng như sau:
Tranh chấp về quyền sử dụng đất: là những tranh chấp giữa các bên với
nhau về việc ai có quyền sử dụng hợp pháp đối với một mảnh đất nào đó.
12
Tranh chấp về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất:
dạng tranh chấp này thường xảy ra khi các chủ thể có những giao dịch dân sự
- Giải quyết tranh chấp đất đai là hoạt động của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền. Để giải quyết một tranh chấp, các chủ thể có thể sử dụng nhiều
biện pháp như tự thương lượng, thỏa thuận với nhau. Pháp luật đất đai không
quan tâm cách thức họ thỏa thuận thế nào, thương lượng ra sao mà chỉ đưa ra
các quy định điều chỉnh hoạt động giải quyết tranh chấp khi có sự tham gia
của cơ quan nhà nước vào việc giải quyết đó mà thôi. Điều này nhằm thể hiện
sự tôn trọng của Nhà nước với tự do ý chí, tự do định đoạt của các chủ thể và
Nhà nước sẽ cung cấp một công cụ giải quyết tranh chấp cho họ nếu như họ
không có được sự thống nhất. Một khi đã có sự tham gia của cơ quan nhà
nước thì các quy phạm pháp luật về giải quyết tranh chấp là cần thiết, bởi lẽ
có những quy phạm pháp luật này thì người dân cũng như chính cơ quan nhà
nước mới biết chủ thể nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và giải quyết
theo trình tự, thủ tục gì.
- Đối tượng của hoạt động giải quyết tranh chấp là tranh chấp đất đai,
trong đó các đương sự yêu cầu cơ quan nhà nước xác định rõ những quyền và
nghĩa vụ của các bên đối với khu đất đang bị tranh chấp.
- Hệ quả pháp lý của việc giải quyết tranh chấp là quyền và nghĩa vụ
của các chủ thể trong quan hệ đất đai sẽ được làm rõ bằng bản án hoặc quyết
định có hiệu lực pháp luật.
- Đề cao hòa giải, huy động đoàn thể địa phương tham gia.
- Liên quan đến nhiều lĩnh vực khác, như: nhà, xây dựng...
- Cần phải hiểu phong tục, tập quán địa phương để có cách giải quyết
thỏa đáng.
14
1.1.2.3. Mục đích và yêu cầu của giải quyết tranh chấp đất đai
Giải quyết tranh chấp kịp thời và hiệu quả các tranh chấp cho phép hạn
chế đến mức tối thiểu sự gián đoạn của sản xuất kinh doanh cũng như đặt ở
quy phạm pháp luật đất đai điều chỉnh, biểu hiện thành quyền và nghĩa vụ
pháp lý cụ thể của các bên, được đảm bảo bằng cưỡng chế Nhà nước.
Trên cơ sở quan niệm như vậy, quan hệ pháp luật đất đai có các đặc
điểm sau:
- Quan pháp luật đất đai là quan hệ giữa người với người (các quan hệ
xã hội). Quan hệ này có thể là quan hệ phát sinh giữa các cơ quan quản lý nhà
nước với người sử dụng đất, quan hệ giữa những người sử dụng đất với nhau,
quan hệ giữa các cơ quan nhà nước khi thực hiện chức năng đại diện chủ sở
hữu và quản lý nhà nước về đất đai;
- Quan hệ pháp luật đất đai phải là loại quan hệ được các quy phạm
pháp luật đất đai điều chỉnh, quy định cho các bên trong quan hệ có những
quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định;
- Quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên được đảm bảo thực hiện bằng
cưỡng chế Nhà nước.
Sự cần thiết điều chỉnh quan hệ GQTCĐĐ bằng pháp luật
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình trên tất cả các phương
diện của đời sống xã hội, các vấn đề trong quá trình phát triển kinh tế đất
nước sẽ không thể tránh được những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh giữa chủ
thể quản lý nhà nước và đối tượng quản lý và trong lĩnh vực đất đai cũng
không ngoại lệ. Quá trình quản lý và sử dụng đất đai cũng sẽ không thể tránh
khỏi việc phát sinh mâu thuẫn, bất đồng giữa cá nhân, tổ chức với tư cách là
những người quản lý, sử dụng đất đai với cơ quan thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về đất đai, tranh chấp giữa cá nhân và tổ chức về đất đai. Đó
chính là tranh chấp trong lĩnh vực đất đai. Đã từ lâu ở nước ta, để giải quyết
16
loại tranh chấp này, Nhà nước đã thiết lập con đường giải quyết hành chính,
tòa án, theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện khiếu nại đến các cơ quan
quản lý nhà nước về đất đai để được giải quyết theo thủ tục tố tụng theo quy
vào các mục đích công cộng và phát triển kinh tế - xã hội. Việc thu hồi đất gặp
rất nhiều khó khăn, phức tạp, dẫn đến nhiều vụ khiếu kiện liên quan đến việc
thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư... [41].
(2) Nguyên tắc bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất, nhất là lợi ích
kinh tế, khuyến khích việc tự thương lượng, tự hòa giải trong nội bộ nhân dân
Để bảo vệ một cách tốt nhất những lợi ích thiết thân đó, trước hết các
bên tranh chấp phải gặp nhau để bàn bạc, thảo luận và thương lượng. Đó cũng là
cơ sở quan trọng đảm bảo quyền tự do định đoạt cho các đương sự. Cơ quan nhà
nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai chỉ thụ lý đơn khi các bên đã
tiến hành qua thủ tục này mà không đạt được sự nhất trí cần thiết [41].
(3) Việc GQTCĐĐ phải nhằm mục đích ổn định tình hình kinh tế - xã
hội của đất nước, địa phương, gắn việc GQTCĐĐ với việc tổ chức lại sản
xuất, kinh doanh, tạo điều kiện cho người bị thu hồi đất có việc làm phù hợp
với quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng trong quá trình triển khai các chính sách
về nông nghiệp, nông thôn. Do ảnh hưởng tiêu cực của TCĐĐ đến mọi mặt
của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội nên việc giải quyết các TCĐĐ phải nhằm
vào mục đích bình ổn các quan hệ xã hội. [41].
(4) Nguyên tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa
Mọi hoạt động trong đời sống kinh tế, xã hội đều hoạt động theo Hiến
pháp và pháp luật, việc giải quyết các tranh chấp dân sự nối chung và giải
quyết tranh chấp đất đai nói riêng cũng phải chú ý và tuân thủ các nguyên tắc,
trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà hiến pháp, pháp luật của Nhà nước đã quy
định nói chung và phát luật về tố tụng, pháp luật về đất đai nói riêng. Đồng
18
thời, việc giải quyết các tranh chấp đất đai phải được các cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền phát hiện và giải quyết kịp thời các vụ tranh chấp theo
đúng quy trình nhằm giảm thiểu các vi phạm pháp luật về đất đai, tránh tình