VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MINH CƯỜNG
ĐĂNG KÝ KINH DOANH CỦA CÁC HỘ KINH DOANH
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MINH CƯỜNG
ĐĂNG KÝ KINH DOANH CỦA CÁC HỘ KINH DOANH
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8 38 01 07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT
HÀ NỘI, 2019
doanh từ thực tiễn thực hiện tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh ............ 39
Chương 3. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH
CỦA CÁC HỘ KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN
NAY TỪ THỰC TIỄN HUYỆN VÂN ĐỒN TỈNH QUẢNG NINH........ 48
3.1. Một số kiến nghị chung về cơ chế, thủ tục .......................................... 48
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về đăng ký kinh doanh của các hộ
kinh doanh .................................................................................................... 49
KẾT LUẬN .................................................................................................... 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 64
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CPTPP
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
ĐKKD
Đăng ký kinh doanh
FTA
Hiệp định thương mại tự do
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
TNHH
trưởng về số lượng cũng như ngành nghề kinh doanh. Hộ kinh doanh giữ
vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta, đã và đang đạt được những
thành tựu đáng kể: Sử dụng nguồn lực lao động xã hội một cách tối ưu,
góp phần giải quyết việc làm, an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo. Sản
xuất kinh doanh của hộ kinh doanh đa dạng đủ mọi ngành nghề, nhiều mặt
hàng sản phẩm truyền thống của nước ta đang được hộ kinh doanh giữ gìn
và phát triển. Do hộ kinh doanh với quy mô nhỏ, gọn mang tính chất gia
đình, hoặc liên kết nhóm nên không phát sinh nhiều thủ tục hành chính
trong quá trình khởi nghiệp, áp dụng hình thức nộp thuế theo tỉ lệ trên
doanh thu nên đơn giản và thuận tiện. Khuôn khổ pháp luật hiện hành đã
cụ thể hóa quyền tự do kinh doanh của công dân theo quy định của Hiến
pháp năm 2013. Pháp luật về đăng ký kinh doanh luôn hướng tới mục tiêu
đơn giản hóa tối đa về trình tự, thủ tục, giảm bớt về thủ tục hành chính
cho các chủ thể kinh doanh. Do đó, sớm nhận thức rõ vai trò của hộ kinh
doanh trong quá trình đổi mới phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước đã
có những chủ trương, chính sách tạo điều kiện phát triển kinh tế ở khu
vực hộ kinh doanh.
1
Tuy nhiên từ thực tiễn hiện nay cho thấy từ khái niệm cho tới địa vị,
trách nhiệm pháp lý của hộ kinh doanh đều không rõ ràng. Mặt khác, các
hộ kinh doanh chịu nhiều hạn chế như chỉ được kinh doanh ở một địa
điểm, không được mở chi nhánh, văn phòng đại diện, không có quy định
về thủ tục giải thể, phá sản và không được hỗ trợ theo Luật Hỗ trợ doanh
nghiệp nhỏ và vừa… Pháp luật hiện hành đã có các quy định khuyến
khích, tạo thuận lợi cho các hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh
nghiệp. Nhưng thực tế khi áp dụng những quy định trên còn gặp nhiều
lúng túng và khó khăn, chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng
Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật kinh tế năm 2017 của tác giả Phạm
Thị Minh Phương. Các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên đã đi sâu
phân tích khái niệm đăng ký kinh doanh, đặc điểm, bản chất và vai trò của
hộ kinh doanh trong nền kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Nghiên cứu vấn đề
về đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh, luận văn mong muốn tìm ra
các vấn đề bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời
đưa ra các giải pháp hoàn thiện các qui định của pháp luật và nâng cao vị
trí pháp lý của hộ kinh doanh so với các loại hình đăng ký kinh doanh
khác.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là đề xuất một số kiến nghị và giải pháp sửa đổi,
bổ sung các quy định pháp luật hỗ trợ hoạt động đăng ký kinh doanh của
các hộ kinh doanh và góp phần hoàn thiện pháp luật. Luận văn có những
nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
Thứ nhất: Phân tích các vấn đề lý luận của pháp luật về đăng ký kinh
doanh của các hộ kinh doanh theo hướng việc đăng ký kinh doanh là
quyền của các hộ kinh doanh và được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng
các quy định của pháp luật, cụ thể như sau: Khái niệm, đặc điểm và ý
3
nghĩa, giá trị pháp lý của hộ kinh doanh, những điều kiện để thực hiện
việc đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh.
Thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về đăng ký kinh
doanh của các hộ kinh doanh qua thực tiễn tại huyện Vân Đồn, tỉnh
Quảng Ninh.
Thứ ba: Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực trạng của pháp luật
về đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh, luận văn tập trung đưa ra
những phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đăng ký kinh
doanh của các hộ kinh doanh ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường hiện
thực tiễn tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
Chương 3. Luận văn sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp,
phương pháp luật học so sánh, phương pháp hệ thống để đề ra các giải
pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đăng ký
kinh doanh của các hộ kinh doanh từ thực tiễn tại huyện Vân Đồn, tỉnh
Quảng Ninh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về ý nghĩa khoa học, luận văn đóng góp về phương diện lý luận cho
việc nghiên cứu pháp luật, quá trình xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp
luật về đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh, tìm kiếm mô hình
đăng ký kinh doanh nào cho phù hợp. Luận văn cũng làm rõ vai trò, chức
năng của pháp luật về đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh, sự tác
động của hệ thống pháp luật về hộ kinh doanh tới quá trình phát triển kinh
tế - xã hội.
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham
khảo có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu cũng như áp dụng pháp
luật về đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh ở Việt Nam.
5
7. Kết cấu của luận văn
Với cách tiếp cận và nội dung nghiên cứu trên, luận văn này gồm ba
phần chính sau:
Chương 1. Pháp luật về đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh.
Chương 2. Thực trạng pháp luật về đăng ký kinh doanh của các hộ
kinh doanh theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn huyện Vân Đồn, tỉnh
Quảng Ninh
Chương 3. Hoàn thiện pháp luật về đăng ký kinh doanh của các hộ
kinh doanh theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn huyện Vân
(năm 1990), hộ kinh doanh tồn tại dưới hình thức hộ cá thể. Hộ cá thể do
Uỷ ban nhân dân phường, xã xét cấp đăng ký kinh doanh và hộ tiểu công
7
nghiệp. Hộ tiểu công nghiệp (xưởng, cửa hàng,...) có tư liệu sản xuất và
các vốn khác thuộc sở hữu của chủ hộ; được thuê mướn lao động theo hợp
đồng thoả thuận giữa chủ và người làm thuê; chủ hộ là người lao động
trực tiếp hoặc đóng vai trò chính về kỹ thuật sản xuất và tự điều hành sản
xuất kinh doanh; thu nhập sau khi đóng thuế và trả công cho người làm
thuê thuộc sở hữu của chủ hộ [37]. Hộ tiểu thủ công nghiệp do Uỷ ban
nhân dân quận, huyện xét cấp đăng ký kinh doanh và được chính thức
công nhận bằng Nghị định số 27-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ).
Trong giai đoạn này, do điều kiện lịch sử và bối cảnh kinh tế - xã hội
cùng với danh mục cấm kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện theo
quy định của pháp luật rất rộng nên sự phát triển của các hộ cá thể, hộ tiểu
công nghiệp còn chậm.
Thứ hai, trong giai đoạn từ khi ban hành Luật Doanh nghiệp tư nhân
và Luật Công ty (năm 1990) đến trước khi ban hành Luật Doanh nghiệp
1999, hộ kinh doanh tồn tại dưới hình thức người kinh doanh (gồm các cá
nhân, nhóm người kinh doanh dưới vốn pháp định) theo quy định tại Nghị
định số 66/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Nghị định
này quy định về quyền, nghĩa vụ của người kinh doanh; về nội dung, trình
tự, thủ tục đăng ký, thay đổi, tạm ngừng, chấm dứt kinh doanh của loại
hình này. Điểm đáng chú ý là, Nghị định này quy định người kinh doanh
không bị giới hạn trong việc thuê mướn số lượng lao động [37].
Thứ ba, trong giai đoạn từ khi ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999
đến trước khi ban hành Luật Doanh nghiệp 2005, hộ kinh doanh tồn tại
dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm
không khuyến khích. Từ năm 2000, đặc biệt là từ năm 2006 và 2014 trở đi,
mọi điều kiện thành lập và hoạt động của doanh nghiệp nói chung, doanh
9
nghiệp tư nhân nói riêng đã được xoá bỏ (Các Luật Doanh nghiệp năm 1999,
2005 và 2014). Điều kiện thành lập doanh nghiệp tư nhân và công ty gần như
bằng không và không khác gì với việc thành lập hộ kinh doanh. Đặc biệt là
việc Luật Doanh nghiệp năm 2005 và 2014 cho phép thành lập công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân. Do đó, hộ kinh doanh đã thật sự hết
lý do, vai trò lịch sử. Còn sự tồn tại và phát triển như là doanh nghiệp mà
không được thừa nhận là doanh nghiệp chỉ là do sự khiếm khuyết của pháp
luật. Tuy nhiên, vì các Luật Doanh nghiệp năm 1999, 2005, 2014 và các văn
bản quy phạm pháp luật liên quan khác vẫn tiếp tục quy định về hộ kinh
doanh một cách quá đơn giản, nên đương nhiên đã trở thành sự lựa chọn chủ
yếu trên thực tế. Việc một người có nhiều công ty là chuyện bình thường,
nhưng một người đồng thời duy trì hai loại hình kinh doanh là công ty và hộ
kinh doanh là điều pháp luật cần phải nghiên cứu điều chỉnh.
1.2. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của hộ kinh doanh
1.2.1. Khái niệm hộ kinh doanh
Ở một số quốc gia phát triển trên thế giới chỉ có quy định về hộ kinh
doanh do cá nhân làm chủ với nhiều khái niệm khác nhau như doanh nghiệp
một chủ (one-man business), thương nhân cá thể (sole trader) hoặc doanh
nghiệp cá thể (sole proprietorship).
Để hiểu rõ hơn về khái niệm “hộ kinh doanh”ở Việt Nam, trước hết
cần tìm hiểu thêm về thuật ngữ “hộ gia đình”. Hộ gia đình đã được để cập
đến trong các văn bản quy phạm pháp luật từ năm 1964. Tuy nhiên, đó chỉ là
những khái niệm để giải quyết một số vấn đề chính sách xã hội như khoản 6,
Điều 29, Luật Nghĩa vụ quân sự năm 1981 (đã được sửa đổi, bổ sung năm
1990), đã quy định về một trong những đối tượng được hoãn gọi nhập ngũ
nhưng lại có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, trong
11
đó có Việt Nam. Kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam đã xuất hiện và tồn tại hàng
nghìn năm và vẫn sẽ là đơn vị cơ bản trong xã hội và trong phát triển sản xuất
nông nghiệp.
Các hoạt động kinh tế hộ gia đình ngày càng đa dạng và phát triển. Để
tăng năng suất lao động và mở rộng phạm vi sản xuất ra ngoài hộ gia
đình, các hộ gia đình khi đó sẽ thực hiện các thủ tục tham gia vào thị
trường kinh doanh. Từ bản chất ban đầu là kinh tế hộ gia đình, khi có đủ
điều kiện, hộ gia đình sẽ được nhà nước cho phép đăng ký ngành nghề
kinh doanh và đi vào hoạt động kinh doanh với tên gọi là hộ kinh doanh
như các loại hình doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, hiện nay Luật Doanh
nghiệp chưa thừa nhận hộ kinh doanh là một hình thức doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là chủ thể có hoạt động kinh doanh. Kinh doanh là các
hoạt động sản xuất, mua bán và trao đổi hàng hóa nhằm mục đích sinh ra
lợi nhuận trên thị trường. Các hoạt động kinh doanh luôn có sự đa dạng về
hình thức và cách thức thực hiện và được điều chỉnh bởi pháp luật kinh tế.
Theo đó, dù là cá nhân hoặc nhóm cá nhân, hay pháp nhân (công ty) đều có
thể là nội hàm của khái niệm doanh nghiệp. Lúc này khái niệm doanh nghiệp
là khái niệm kinh tế, chưa phải là khái niệm pháp lý.
Từ cách phân tích định nghĩa này, có quan điểm cho rằng việc đưa cá
nhân - hộ kinh doanh vào Luật doanh nghiệp để thừa nhận họ là doanh nghiệp
là vấn đề rất bình thường. Nhưng khi có quan điểm như vậy, đồng nghĩa đang
có sự nhầm lẫn giữa khái niệm pháp lý và khái niệm kinh tế.
Khoản 1 điều 66 nghị định 78/2015/NĐ-CP định nghĩa về hộ kinh doanh
như sau: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá
nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ,
doanh. Tuy từ “hộ” không còn giá trị trong mối quan hệ hiện đại và khái niệm
hộ đã bị loại bỏ khỏi Bộ luật dân sự 2015 nêu trên (coi “hộ” chỉ là nhóm
13
những cá nhân), chúng ta nên thẳng thắn nhìn nhận rằng, “hộ” kinh doanh đã
tồn tại rất lâu trong thế giới pháp luật chúng ta và là một thực tiễn sống động
không thể phủ nhận.
Trước đây, Nghị định của Chính phủ về đăng ký kinh doanh là Nghị
định số 02/2000/NĐ- CP ngày 03/02/2000 và Nghị định số 109/2004/NĐCP ngày 02/4/2004 đều có quy định về tên gọi “hộ kinh doanh cá thể”.
Sau đó, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP năm 2015 về đăng lý kinh doanh
với tên gọi là “hộ kinh doanh” [10].
Nghị định số 109/2004/NĐ-CP định nghĩa: Hộ kinh doanh cá thể do
một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại
một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh
doanh [6]. Nghị định số 88/2006 NĐ- CP định nghĩa: Hộ kinh doanh do
một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia
đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá
mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản
của mình đối với hoạt động kinh doanh [7]. Điều 66, khoản 1 Nghị định
số 78/2015/NĐ-CP năm 2015 định nghĩa: “Hộ kinh doanh do một cá nhân
hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi,
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ
được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động
và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh
doanh”.
Định nghĩa trên về “hộ kinh doanh” cho thấy hộ kinh doanh được chia
thành ba loại căn cứ vào chủ tạo lập ra nó: (1) Hộ kinh doanh do một cá
nhân làm chủ; (2) hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ; và (3) Hộ
doanh việc xác định các thành viên của hộ gia đình khi đăng ký kinh
15
doanh dưới hình thức hộ kinh doanh, bởi vấn đề xác định các thành viên
như vậy có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của các chủ nợ
của hộ kinh doanh.
Nghị định số 78/2015/NĐ-CP năm 2015 cho phép “một nhóm người”,
không phải là hộ gia đình, được kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh.
Việc cho phép này có tác dụng thúc đẩy kinh doanh, nhưng gây khó khăn
về mặt pháp lý, nhất là về chế độ trách nhiệm của toàn thể và từng thành
viên của nhóm, và về chế độ quản trị hộ kinh doanh. Bản thân thuật ngữ
nhóm người rất khó xác định về nhiều khía cạnh như: Số lượng thành viên
trong “một nhóm người” có hạn định không? Các thành viên trong nhóm
cần có đặc điểm gì đặc biệt về nhân thân không, hay có quan hệ gần gũi
không?
Pháp luật Việt Nam hiện nay phân biệt hộ kinh doanh với doanh
nghiệp thông qua việc sử dụng lao động. Hộ kinh doanh do một cá nhân
hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi,
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ
được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động
và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh
doanh. Hộ kinh doanh có sử dụng từ mười lao động trở lên phải đăng ký
thành lập doanh nghiệp theo quy định (Khoản 3, Điều6 6 Nghị định số
78/2015/NĐ-CP năm 2015). Do đó, có thể hiểu, pháp luật Việt Nam hiện
nay quan niệm hộ kinh doanh và các hình thức công ty không khác gì
nhau về hình thức kết cấu mà chỉ khác nhau về quy mô kinh doanh.
Như vậy, hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam, hoặc
một nhóm người, một hộ gia đình làm chủ. Đối với hộ kinh doanh do một
cá nhân làm chủ, cá nhân có toàn quyền quyết định về mọi hoạt động kinh
về các khoản nợ của hộ kinh doanh, vấn đề tư cách tham gia tố tụng và
17
vấn đề quản trị hộ kinh doanh. Câu trả lời phụ thuộc phần nào vào việc
giải thích các qui định về thành lập và đăng ký kinh doanh của hộ kinh
doanh mà sẽ được nghiên cứu sau.
Trường hợp hộ kinh doanh được tạo lập bởi hộ gia đình, thì hộ kinh
doanh có bản chất là hộ gia đình kinh doanh. Do đó hộ kinh doanh cũng
không phải là pháp nhân.
Như vậy, hộ kinh doanh không phải là doanh nghiệp, cá nhân, nhóm
người, hộ gia đình nhân danh mình tham gia vào các hoạt động kinh
doanh. Trở thành hộ kinh doanh hoạt động độc lập và có tư cách pháp lý
riêng, như một doanh nghiệp nhưng hộ kinh doanh không không được
thực hiện các quyền mà doanh nghiệp có như trong Luật Doanh nghiệp đã
quy đinh. Khi tham gia thỏa thuận kinh doanh, đại diện hộ kinh doanh
nhân danh mình để thực hiện hoạt động giao dịch đó.
1.2.2.2. Hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh quy mô rất nhỏ
Đặc điểm này không xuất phát từ bản chất bên trong của hình thức
kinh doanh này mà xuất phát từ các qui định của pháp luật Việt Nam căn
cứ vào số lượng lao động được sử dụng trong hộ kinh doanh. Điều này
gây tốn kém không thật cần thiết cho người kinh doanh, và có thể trái với
ý chí và khả năng kinh doanh của họ. Việc buộc hộ kinh doanh sử dụng
thường xuyên hơn mười lao động phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức
doanh nghiệp có lẽ chưa tính đến đặc trưng của từng ngành nghề kinh
doanh. Với một cửa hàng cơm bình dân con số người phục vụ có thể lên
tới hàng chục với các công việc như nấu ăn, chạy chợ, phục vụ bàn, vệ
sinh, trông xe…
Hộ kinh doanh theo Nghị định số 78/2015/NĐ-CP năm 2015 chỉ được
tiến hành kinh doanh tại “một địa điểm”. Bản thân cụm từ “một địa điểm”
kinh doanh có sử dụng từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập
19