Đăng ký hộ kinh doanh theo pháp luật việt nam từ thực tiễn quận ngũ hành sơn, thành phố đà nẵng - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH TÂM

ĐĂNG KÝ HỘ KINH DOANH THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH TÂM

ĐĂNG KÝ HỘ KINH DOANH THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS HOÀNG THẾ LIÊN

HÀ NỘI, năm 2019




DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1.

Tên bảng
Số liệu thống kê đăng ký hộ kinh doanh tại quận Ngũ Hành
Sơn, thành phố Đà Nẵng từ năm 2016 đến năm 2018

Trang

51


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, nền kinh tế
Việt Nam đã có những bước phát triển nhảy vọt trong nhiều lĩnh vực, cũng như
những chuyển biến tích cực trong thời gian qua. Song song với sự phát triển kinh tế
- xã hội đó, số lượng hộ kinh doanh cũng gia tăng nhanh chóng trên quy mô toàn
quốc. Phải hơn nửa thập kỉ tiến hành những cuộc cải cách về kinh tế và hoàn thiện
hệ thống pháp luật, thành phần kinh tế cá thể (hộ kinh doanh) đã được khai sinh trở
lại và từng bước đạt được sự phát triển nhất định, nó đã đang và sẽ ngày càng khẳng
định vị trí, tầm quan trọng của mình trong nền kinh tế nhiều thành phần dưới sự
quản lý của nhà nước.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam với
việc thực hiện đường lối đổi mới về kinh tế thông qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ
nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường, trong đó có sự tham gia của thành

vực, ngành sản xuất như giao thông vận tải, ăn uống, dịch vụ,… Đây là thành phần
kinh tế nhạy bén trong trong kinh doanh, dễ dàng chuyển đổi ngành nghề kinh
doanh cho phù hợp với yêu cầu của thị trường. Theo số liệu của Tổng cục thống kê
đến ngày 01/7/2017 cả nước có 5,1 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể, tăng 9%
so với năm 2012, thu hút 8,7 triệu lao động. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động của các
hộ kinh doanh Việt Nam vẫn còn nhiều thiếu sót, bất cập, chưa phát huy hết tiềm
năng của mình, gặp nhiều khó khăn từ nhiều nguyên nhân bắt nguồn chủ yếu từ sự
chưa rõ ràng và thiếu đồng bộ của các văn bản quy phạm pháp luật dẫn đến những
khó khăn nhất định trong quá trình thực thi pháp luật tại nước ta. Đặc biệt tại Thành
phố Đà Nẵng nói chung và quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng nói riêng,
Luật Doanh nghiệp 2014 với những quy định pháp lý khá cụ thể đã tạo điều kiện
tương đối thuận lợi cho việc đăng ký hộ kinh doanh, nhưng vẫn còn tồn tại một số
bất cập, nhất là trong quy định về điều kiện kinh doanh, trình tự thủ tục hành chính.
Để đáp ứng nhu cầu đăng ký của hộ kinh doanh và thực hiện tốt công tác kiểm tra,
quản lý của cơ quan nhà nước, đòi hỏi cần có sự nghiên cứu thấu đáo về lý luận và
sự tổng kết thực tiễn sâu sắc để tiếp tục đổi mới, hoàn thiện pháp luật về đăng kí
kinh doanh theo hướng phù hợp với thực tiễn.

2


Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy rằng việc nghiên cứu pháp luật đăng
kí kinh doanh từ thực tiễn của địa phương là cần thiết, phản ánh thực tiễn mang tính
phản hồi đối với quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh góp phần làm cho pháp
luật sát với yêu cầu thực tiễn nhằm thúc đẩy việc thành lập cũng như hoạt động của
hộ kinh doanh, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Là vấn
đề không quá mới mẻ nhưng lại có tầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược phát
triển kinh tế đất nước, nên tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài: “Đăng ký hộ kinh
doanh theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà
Nẵng” nhằm làm rõ các quy định pháp lý xoay quanh các thủ tục hành chính về

năm 2009.
Thứ ba, một số luận văn thạc sĩ luật có đề tài nghiên cứu về hộ kinh doanh đã
phân tích, làm rõ pháp luật về hộ kinh doanh, chỉ ra những bất cập và đề xuất hướng
giải pháp khắc phục. Tác giả Hoàng Minh Sơn với đề tài nghiên cứu “Pháp luật về
hộ kinh doanh ở Việt Nam”, đã tập trung lý giải khá kỹ vấn đề lý luận về hộ kinh
doanh theo pháp luật Việt Nam. Tác giả Võ Thị Xuân Danh với đề tài nghiên cứu
“Đăng ký kinh doanh đối với hộ kinh doanh theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn
Quận Gò Vấp”, đã phân tích nhiều về thực trạng các quy định pháp lý về đăng ký
hộ kinh doanh từ thực tiễn thi hành pháp luật tại địa bàn quận Gò Vấp.
Bằng việc tiếp cận từ những khía cạnh và mức độ khác nhau, điều kiện nghiên
cứu khác nhau nên mỗi công trình đều mang lại những giá trị lý luận và thực tiễn
khác nhau. Nhìn chung, hầu hết đều đề cập đến những quy định của pháp luật về
kinh doanh với những phân tích khá sâu về đặc điểm, nội dung pháp lý và thủ tục
thi hành đăng ký hộ kinh doanh. Mỗi công trình đều thể hiện quan điểm riêng của
tác giả về vấn đề khoa học đặt ra, góp phần nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò
và tầm quan trọng của pháp luật đăng kí hộ kinh doanh trong đời sống. Cho đến nay,
có thể nói là chưa có công trình nghiên cứu nào về đăng ký hộ kinh doanh gắn với
thực tiễn Quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng. Vì vậy, nghiên cứu này kế
thừa những nghiên cứu đã có, đồng thời góp thêm một nghiên cứu thực tiễn ở một
thành phố khá năng động. Hơn nữa, những vấn đề mới mẻ trong nội dung pháp lý
về đăng ký hộ kinh doanh, thủ tục đăng ký hộ kinh doanh theo quy định của Luật
Doanh nghiệp 2014 sẽ được tìm hiểu, cập nhật và phân tích đầy đủ trong công trình
nghiên cứu dưới đây.

4


Trên tinh thần kế thừa kết quả nghiên cứu các công trình trước và nghiên cứu
các quy định pháp lý hiện hành, tác giả hy vọng có thể đưa ra những phân tích sâu sắc
về đăng ký hộ kinh doanh theo quy định của pháp luật hiện hành, phần nào giải đáp,

Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là những vấn đề lý luận về hộ kinh doanh và đăng ký hộ
kinh doanh theo quy định Luật Doanh nghiệp 2014 và các nghị định hướng dẫn thi
hành.
Về thực tiễn, luận văn nghiên cứu thực trạng hoạt động đăng ký hộ kinh doanh
ở quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2016 - 2018.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mac – Lenin, luận văn sử dụng kết
hợp các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, hệ thống, so sánh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Thứ nhất, phương pháp tiếp cận hệ thống nhằm làm rõ bản chất pháp lý của
đăng ký hộ kinh doanh.
Thứ hai, phương pháp tổng hợp, phân tích các văn bản quy phạm pháp luật
của Việt Nam về hộ kinh doanh giúp làm rõ các khái niệm, đặc điểm hộ kinh doanh,
đăng ký kinh doanh, hoạt động đăng ký hộ kinh doanh theo quy định của pháp luật
Việt Nam.
Thứ ba, phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ sự khác nhau của các
quy định pháp luật trong các thời kì lịch sử, đồng thời đối chiếu các quy định của
pháp luật về thủ tục đăng ký hộ doanh với quy định về các loại hình doanh nghiệp
khác để từ đó thấy được vị trí, vai trò của hộ kinh doanh, điểm tiến bộ của pháp luật
về đăng ký hộ kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp 2014 so với các văn bản quy
phạm pháp luật trước đó.
Thứ tư, để xem xét và đánh giá khách quan lịch sử hình thành, quá trình phát
triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật về hộ kinh doanh, tác giả sử dụng phương
pháp lịch sử để có thể khái quát toàn bộ quá trình đó.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận


VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ HỘ KINH DOANH
1.1. Những vấn đề lý luận về hộ kinh doanh
1.1.1. Khái niệm hộ kinh doanh
Từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã có bước
phát triển vượt bậc. Cùng với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về
kinh doanh, nền kinh tế Việt Nam ngày càng có những bước tiếp cận đầy đủ hơn
với cơ chế thị trường. Trong bối cảnh đó, xu hướng thành lập hộ kinh doanh ngày
càng gia tăng về số lượng, góp một phần không nhỏ vào việc tăng trưởng nền kinh
tế quốc dân.
Qua mỗi giai đoạn phát triển của đất nước, hộ kinh doanh được định nghĩa
khác nhau do đó nội dung pháp lý cũng khác nhau. Mặc dù vậy, hộ kinh doanh đa
phần được hiểu chỉ do một số cá nhân hoặc một nhóm người đăng ký kinh doanh và
hoạt động nhằm tìm kiếm lợi nhuận. “Hộ kinh doanh cá thể là một loại hình doanh
nghiệp được sở hữu và điều hành bởi một người và trong đó không có sự phân biệt
pháp lý giữa chủ sở hữu và thực thể kinh doanh. Chủ sở hữu kiểm soát trực tiếp tất
cả các yếu tố và chịu trách nhiệm về mặt pháp lý đối với tài chính của doanh
nghiệp đó và điều này có thể bao gồm các khoản nợ, cho vay, thua lỗ,… Một
thương nhân cá thể không nhất thiết phải làm việc một mình mà có thể thuê người
khác” [2]. Đối với nền kinh tế nước ta, hộ kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong
việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bao trùm, khu vực sản xuất kinh doanh cá thể, hộ
kinh doanh giúp giải quyết việc làm cho một bộ phận khá lớn dân cư, linh hoạt
trong nhiều trường hợp và gia tăng mạnh mẽ về số lượng. Để thực hiện các mục tiêu
tìm kiếm lợi nhuận, hộ kinh doanh phải tuân theo các quy định pháp lý để hình
thành và phát triển, dựa trên những cơ sở nền tảng đó giúp cá nhận hiện thực hóa
các ý tưởng về kinh doanh, sản xuất.
Từ trước đến nay, hộ kinh doanh được biết đến với những tên gọi pháp lý khác

8



9


loại hình kinh doanh nhỏ lẻ phát triển, khai thác tối đa các giá trị sản xuất. Trước
yêu cầu đó, Luật Doanh nghiệp 2014 và Nghị định 78/2015/NĐ-CP được ban hành
quy định cụ thể các vấn đề pháp lý về hộ kinh doanh và thủ tục đăng ký kinh doanh
hộ kinh doanh, đề cập đến các quy định pháp lý về loại hình kinh doanh đặc thù
mang tính chất cá nhân, không thành lập tổ chức, có địa điểm cố định hay không cố
định là hộ kinh doanh. Khoản 1 Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP quy định rõ:
“Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân
Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm
chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”.
Điều khoản đã thể hiện đầy đủ nội dung về chủ sở hữu, quy mô kinh doanh và chế
độ trách nhiệm của chủ sở hữu. Xét về nội hàm khái niệm, có thể nhận thấy hộ kinh
doanh là một loại hình kinh doanh được thành lập và đăng ký theo quy định của
pháp luật nhằm tiến hành các hoạt động kinh doanh. Theo đó, chúng ta cần phân
biệt rõ hộ kinh doanh là loại hình mà chủ thể kinh doanh không có tư cách pháp
nhân do một cá nhân hoặc một hộ gia đình làm chủ kinh doanh, khác với hợp tác xã
và doanh nghiệp có tư cách pháp nhân. Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện
hành, hộ kinh doanh gồm ba loại chính căn cứ vào chủ thể tạo lập hay sở hữu nó:
Một là hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ, hai là hộ kinh doanh do gia đình làm
chủ và cuối cùng là hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ.
Hộ kinh doanh chỉ được đăng ký một giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh,
chỉ được đăng ký tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động nhằm phân
biệt với các loại hình doanh nghiệp khác. Theo quy định pháp luật hiện hành, hộ
kinh doanh không hoàn toàn phải là cá nhân kinh doanh mà có thể là các thành viên
tham gia góp vốn để cùng hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên so với các loại hình
doanh nghiệp khác, hoạt động kinh doanh cả hộ kinh doanh cũng bị hạn chế hơn
nhiều. Mặc dù hộ kinh doanh hoạt động trên nhiều lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và

là pháp nhân. Hơn nữa, hộ kinh doanh khác với loại hình Công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên, bởi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một thực thể
tách biệt với chủ sở hữu của nó. Ngược lại, hộ kinh doanh lại không tách biệt với
chủ sở hữu, mọi tài sản của hộ kinh doanh đều là tài sản của tự cá nhân tạo lập và
được hưởng toàn bộ lợi nhuận sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo quy
11


định pháp luật và gánh chịu mọi nghĩa vụ liên quan. Theo mô hình hộ kinh doanh,
cá nhân chủ hộ hoặc cá nhân thành viên của hộ tiến hành hoạt động kinh doanh và
chịu trách nhiệm trực tiếp các rủi ro trong kinh doanh bằng toàn bộ tài sản. Ngoài ra,
hộ kinh doanh không thể nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật mà lệ
thuộc vào tư cách cá nhân của chủ hộ hoặc đại diện hộ. Mặc dù Nghị định
78/2015/NĐ-CP không quy định rõ tư cách pháp lý của hộ kinh doanh nhưng với
đặc điểm về sở hữu tài sản và trách nhiệm về tài sản nêu trên, hộ kinh doanh không
thỏa mãn đầy đủ các điểu kiện của một pháp nhân theo quy định tại Bộ luật Dân sự
2015. Hộ kinh doanh không thỏa mãn hai trong bốn dấu hiệu của một pháp nhân, đó
là: “có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác” và “nhân danh chính mình tham
gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập”. Một điểm khác biệt lớn so với
các loại hình doanh nghiệp khác chính là việc hộ kinh doanh không có con dấu
được khắc và đăng ký theo đúng quy định pháp luật tại cơ quan thẩm quyền. Nghị
định 96/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp, quy
định cụ thể: “Quy định về con dấu trong Nghị định này áp dụng đối với công ty cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân
đăng ký doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư. Tổ chức
đơn vị được thành lập theo các luật sau đây không áp dụng quy định về con dấu
trong Nghị định này mà thực hiện theo quy định hiện hành về quản lý và sử dụng
con dấu”. Theo quy định pháp luật về con dấu thì hộ kinh doanh không có con dấu
pháp nhân như các loại hình doanh nghiệp khác, hộ kinh doanh không được làm con
dấu pháp nhân (dấu tròn), mà chỉ có thể sử dụng dấu vuông, dấu chữ ký, dấu logo

doanh tại một địa điểm. Điều này giúp phân biệt hộ kinh doanh và các loại hình
doanh nghiệp. Tuy nhiên việc ấn định số lượng lao động và địa điểm kinh doanh lại
cho thấy sự ràng buộc quy mô hoạt động của hộ kinh doanh trong sản xuất, khiến
cho quyền tự do kinh doanh bị bó buộc, không thể mang lại hiệu quả kinh doanh với
năng xuất cao.
Năm là, hộ kinh doanh do một cá nhân, một nhóm người hoặc một gia đình
làm chủ sở hữu. Theo đó, cả ba nhóm đối tượng được pháp luật Việt Nam cho phép
thành lập hộ kinh doanh, bao gồm cá nhân là công dân Việt Nam, nhóm người, hộ
gia đình. Nhóm người hoặc chủ hộ cần phải cử một người đủ điều kiện là đại diện
cho nhóm hoặc cho hộ để tham gia giao dịch với bên ngoài. Mặc dù là chủ thể kinh

13


doanh chuyên nghiệp nhưng hộ kinh doanh không có tư cách của doanh nghiệp,
không có con dấu, không được mở chi nhánh, văn phòng đại diện và hơn nữa không
được thực hiện các quyền mà doanh nghiệp có như hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
hay áp dụng Luật phá sản khi thua lỗ trong kinh doanh. Hình thức hộ kinh doanh
chỉ thể hiện tại Việt Nam, xét riêng dưới góc độ chủ thể hộ kinh doanh thì không
nước nào trên thế giới có mô hình kinh doanh mà có thể tồn tại ba loại chủ sở hữu.
Vị trí của hộ kinh doanh đã được Nhà nước công nhận và thể hiện một cách sâu sắc
trong xã hội nhằm tạo ra sự chuyển biến tích cực cho tình hình phát triền kinh tế đất
nước.
Sáu là, chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của
mình đối với mọi hoạt động kinh doanh, đối với các khoản nợ, cũng như các khoản
tiền nộp thuế khi tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tài sản kinh doanh và
tài sản của chủ hộ kinh doanh không có sự tách bạch, cũng như không có sự phân
biệt rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của chủ hộ kinh doanh và hộ kinh doanh. Khác
với loại hình doanh nghiệp với trách nhiệm hữu hạn, có vốn điều lệ và chịu trách
nhiệm giới hạn đối với hoạt động kinh doanh. Khi lựa chọn hình thức hộ kinh doanh

phát triển nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, ngay từ đầu vai trò
của hộ kinh doanh đã được đề cập và trở thành một trong các thành phần trọng yếu
đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Có thể nói hộ kinh doanh là thành phần đã
đóng góp lâu dài cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tìm hiểu cơ
sở kinh tế - xã hội của việc hình thành hộ kinh doanh tại Việt Nam nhằm hiểu rõ
hơn vị trí của hộ kinh doanh trong nền kinh tế nước nhà.
Ở Việt Nam, hộ kinh doanh vẫn là loại hình ưa chuộng và được sử dụng rộng
khắp cả nước. Hộ kinh doanh là loại hình có rất nhiều ưu điểm, phù hợp với đất
nước ta trong quá trình xây dựng và phát triển. Hộ kinh doanh tập trung ở nhiều lĩnh
vực nhưng chủ yếu nhất là nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thương,… Vì vậy, chính
sách khuyến khích phát triển hộ kinh doanh của Đảng và Nhà nước ta thực chất là
việc thực hiện phát triển hiệu quả và hợp lý các hình thức sản xuất và kinh doanh
trong nông nghiệp.
Khởi đầu là một quốc gia phát triển trọng yếu về nông nghiệp nên đa phần
các tầng lớp trong xã hội đều có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của nền kinh

15


tế nông thôn nên có thể nói rằng người dân nước ta coi trọng mối quan hệ làng xã,
và quan hệ huyết thống tình cảm hơn người phương Tây. Từ xa xưa đã sớm hình
thành tập tục con nối nghiệp cha, truyền thống kinh doanh theo huyết thống từ đời
này sang đời khác… Đến nay, trải qua 30 năm đổi mới thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước ta
đã ban hành nhiều chính sách nhằm thay đổi định hướng phát triển kinh tế, xây
dựng nền kinh tế thị trường, với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn mình. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc điểm được quan tâm
nhất là mối quan hệ trong hoạt động kinh doanh. Đó có thể là mối quan hệ thứ bậc
và huyết thống, các hộ gia đình có mối quan hệ giúp đỡ lẫn nhau về kinh tế hay đời
sống tinh thần. Hộ kinh doanh gắn với từng giai đoạn lịch sử của nước ta và hơn

doanh có đầy đủ các yếu tố thuận lợi cho việc đóng góp lớn vào quá trình phát triển
kinh tế. So với các loại hình kinh tế khác, ước tính trên cả nước hiện nay có khoảng
5,3 đến 5,5 triệu hộ kinh doanh, đóng góp khoảng 11-13% GDP, trong đó bên cạnh
những hộ hoạt động trong lĩnh vực ăn uống, buôn bán, còn bao gồm cả các hộ kinh
doanh thương mại và các dịch vụ khác. Như vậy, từ số liệu thống kê sơ bộ trên có
thể thấy rõ vai trò quan trọng của hộ kinh doanh trong nền kinh tế thị trường hiện
nay, không chỉ góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế, bên cạnh đó còn góp phần
tăng nguồn ngân sách nhà nước, phát triển kinh tế bền vững. [15]
Hai là, hộ kinh doanh có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn những nghề
truyền thống của Việt Nam. Vai trò quan trọng của hộ kinh doanh là góp phần giữ
gìn những ngành nghề truyền thống, tạo ra những sản phẩm giá trị về vật chất lẫn
tinh thần. Nguồn vốn của Nhà nước và tập thể còn hạn hẹp, do đó để phát huy tối đa
tiềm lực sẵn có, buộc chúng ta cần đề ra các chính sách kinh tế phù hợp, khuyến
khích các hộ kinh doanh tăng vốn sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng. Hộ kinh
doanh là một trong những thành phần kinh tế chiếm vị trí quan trọng trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Ba là, hộ kinh doanh góp phần giải quyết việc làm cho người lao động. Song
hành với những chính sách phát triển kinh tế thì Nhà nước luôn chú trọng đến các
vấn đề an sinh xã hội, đặc biệt là việc làm cho lao động. Đó không chỉ là vấn đề cấp
bách của Việt Nam mà còn của tất cả các quốc gia đang phát triển. Hằng năm, Việt

17


Nam phải đối mặt với tình hình lao động thất nghiệp tăng cao và điều này chứng
minh việc làm luôn là nỗi lo lớn của toàn xã hội. Trước đòi hỏi lớn của xã hội, hộ
kinh doanh đã góp phần tạo việc làm cho người lao động cả thành thị và nông thôn,
thu hút đông đảo lao động tham gia sản xuất, kinh doanh. Thực tế trong những năm
qua, hộ kinh doanh đã giải quyết việc làm cho người lao động trong nhiều lĩnh vực.
Cụ thể việc phát triển hộ kinh doanh đã giúp cho khoảng 10 triệu lao động Việt

tinh cho các doanh nghiệp, giúp đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa, gia công sản phẩm,
cung cấp nguyên vật liệu cho thị trường.
Bằng việc sử dụng lượng lao động lớn từ các hộ gia đình ở các địa phương, tạo
ra các chủng loại sản phẩm, hàng hóa dịch vụ đa dạng, phong phú, các hộ kinh
doanh không chỉ giải quyết việc làm cho người lao động mà bên cạnh đó còn giúp
tăng thu nhập, tăng trưởng kinh tế. Hộ kinh doanh từng bước trở thành mạng lưới
rộng lớn, phát triển về những vùng xa, khó khăn mà các lĩnh vực kinh doanh khác
chưa thể đáp ứng được. Đây là kênh phân phối và lưu thông hàng hóa quan trọng,
giúp cân đối thương mại và phát triển kinh tế địa phương.
1.2. Pháp luật về đăng ký hộ kinh doanh
1.2.1. Khái niệm, ý nghĩa của đăng ký hộ kinh doanh
Theo quy định pháp luật hiện hành, khi tiến hành hoạt động kinh doanh thì
buộc các chủ thể phải thực hiện đăng ký kinh doanh, đây được xem là hành vi tiền
đề mang ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành hộ kinh doanh cũng như bất kì
loại hình doanh nghiệp khác. Mặc dù được sử dụng rộng rãi nhưng chưa có một
định nghĩa cụ thể về mặt pháp lý đối với đăng ký kinh doanh. Với chủ thể tiến hành
hoạt động kinh doanh thì đăng ký kinh doanh được xem là hoạt động mà trong đó
nhà đầu tư (chủ sở hữu) khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về đăng ký
kinh doanh về dự kiến hoạt động kinh doanh của mình. Với cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền thì đăng ký kinh doanh được xem là thủ tục hành chính bắt
buộc, là biện pháp giúp nhà nước quản lý hoạt động của doanh nghiệp, thể hiện sự
ghi nhận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về mặt pháp lý sự ra
đời của chủ thể kinh doanh. Qua hai cách tiếp cận trên ta thấy rằng đăng ký kinh
doanh là hoạt động của các chủ thể kinh doanh nhằm khai trình với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền và giới kinh doanh về hoạt động kinh doanh và được nhà nước
ghi nhận thông qua việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đây được xem là

19



20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status