VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
`
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN MỸ GIANG
ĐĂNG KÝ KINH DOANH
CỦA CÁC HỘ KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN MỸ GIANG
ĐĂNG KÝ KINH DOANH
CỦA CÁC HỘ KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG BÌNH
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 838.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
2.2. Thực tiễn hoạt động đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh
Quảng Bình ...............................................................................................................59
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THỰC HIỆN ĐĂNG KÝ KINH DOANH CỦA HỘ KINH
DOANH TẠI VIỆT NAM ......................................................................................69
3.1. Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký kinh doanh đối với hộ kinh
doanh .........................................................................................................................69
3.2. Hoàn thiện quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh đối với hộ kinh doanh .71
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký kinh doanh ...............................73
KẾT LUẬN ..............................................................................................................76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ được viết tắt
Từ viết tắt
BLDS
: Bộ luật dân sự
CQNN
: Cơ quan nhà nước
DN
: Doanh nghiệp
ĐKKD
xã hội chủ nghĩa. Song thực tiễn đã chứng minh quan niệm như vậy là cực đoan và
sự xuất hiện của kinh tế tư bản tư nhân đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển lớn
mạnh của nền kinh tế nước nhà.
Đường lối đổi mới kinh tế do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng
cộng sản Việt Nam đề ra được hoàn thiện và phát triển, Đảng và Nhà nước ta khẳng
định chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đưa ra
giải pháp: “Khuyến khích phát triển kinh tế gia đình. Sử dụng khả năng tích cực của
kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa, đồng thời vận dụng và tổ chức những người lao động
cá thể vào các hình thức làm ăn tập thể để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh;
sắp xếp, cải tạo và sử dụng tiểu thương, giúp đỡ những người không cần thiết trong
lĩnh vực lưu thông chuyển sang sản xuất và dịch vụ. Sử dụng kinh tế tư bản tư
nhân trong một số ngành nghề, đi đôi với cải tạo họ từng bước bằng nhiều hình
thức tư bản nhà nước, xóa bỏ thương nghiệp tư bản tư nhân. Mở rộng nhiều hình
thức liên kết giữa các thành phần kinh tế theo nguyên tắc cùng có lợi, bình đẳng
trước pháp luật”.
Tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa
IX) thống nhất quan điểm chỉ đạo phát triển kinh tế hộ gia đình “Các hộ kinh doanh
cá thể được Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển cả ở nông thôn và
thành thị; khuyến khích các hộ liên kết hình thành các hình thức tổ chức hợp tác tự
nguyện, làm vệ tinh cho doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn”.
1
Thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, được sự
đồng tình hưởng ứng tích cực của nhân dân, hộ kinh doanh đã phát triển rộng khắp
trong cả nước; đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực
xã hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân,
tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước.
hộ kinh doanh, tạo một môi trường cạnh tranh và cởi mở cho các chủ thể kinh
doanh phát triển nền kinh tế trong nước.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, ở Việt Nam cũng đã có các công trình khoa học nghiên cứu về
hộ kinh doanh nhưng phần lớn tiếp cận vấn đề này ở những mức độ khía cạnh, pháp
lý kinh tế khác nhau.
Qua nghiên cứu bản thân nhận thấy rằng sự quan tâm và nghiên cứu của các
nhà khoa học pháp lý thể hiện ở những mức độ khác nhau:
Thứ nhất: Ở các trung tâm, trường Đại học đào tạo cử nhân luật
trong chương trình đào tạo của mình vấn đề hộ kinh doanh là một bộ phận
nằm trong quá trình giảng dạy về luật kinh tế và quản lý kinh tế mặc dù mức
độ nghiên cứu chưa sâu. Chúng ta có thể tìm thấy một số vấn đề về hộ kinh doanh
trong Giáo trình Luật thương mại của Trường Đại học Luật Hà Nội - Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội, 2006; Giáo trình Luật kinh tế của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội - Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001; Chuyên khảo Một số quy
định mới về hộ kinh doanh nhỏ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003. Hay các bài
viết được công bố trên các tạp chí chuyên ngành pháp lý, nổi bật như bài viết: Phân
tích pháp luật về hộ kinh doanh để tìm ra các bất cập của TS. Ngô Huy Cương - Tạp
chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 25 (2009)...
Thứ hai: Một số công trình luận văn, đề tài có nghiên cứu về chủ thể hộ kinh
doanh của các học giả như:
- “Pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Nam thực trạng và phương hướng
hoàn thiện” - Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Trần Tố Uyên (Khoa Luật Đại
học Quốc gia Hà Nội, năm 2005);
- “Pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam” - Luận văn Thạc sĩ luật học của
tác giả Hoàng Minh Sơn (Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2012).
3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm làm sáng tỏ những điểm mới và
hạn chế của việc đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh theo pháp luật Việt Nam
hiện nay và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh của
chủ thể này ở Việt Nam. Luận văn phải chỉ ra được những điểm mới về thủ tục
hành chính của pháp luật Việt Nam mà cụ thể là trong Luật doanh nghiệp 2014,
Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp, đồng thời chỉ ra những hạn
chế còn tồn tại về thủ tục hành chính trong đăng ký kinh doanh, đưa ra những vấn
đề bất cập trong thực tiễn thực hiện mà cụ thể từ địa bàn tỉnh Quảng Bình, từ đó đề
xuất giải pháp để khắc phục góp phần nâng cao chất lượng quản lý nhà nước trong
lĩnh vực đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh nói riêng và hoạt động kinh
doanh của các chủ thể nói chung, qua đó góp phần tạo lập một môi trường pháp lý
thuận lợi và năng động, thúc đẩy phát triển kinh tế trong nước.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
Thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về hộ kinh doanh trong điều kiện
chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Thứ hai: Nghiên cứu, phân tích các vấn đề pháp lý hiện hành điều chỉnh hoạt
động đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh theo pháp luật Việt Nam để tìm ra
những bất cập, hạn chế còn tồn tại.
Thứ ba: Căn cứ vào các nghiên cứu, phân tích trên và trên cơ sở tìm hiểu
thực tiễn tại tỉnh Quảng Bình từ đó đề xuất những phương hướng, giải pháp cho
việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam trong điều kiện
hiện nay ở nước ta.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong điều kiện khả năng nghiên cứu có nhiều khó khăn và nguồn tài liệu
tham khảo còn hạn chế, luận văn chưa thể bao quát hết các vấn đề pháp lý về hoạt
thành viên, công ty hợp danh từ đó làm nổi bật lên vị trí, vai trò của hộ kinh doanh.
Phương pháp thống kê, phân tích và xử lý số liệu được sử dụng nhiều trong
nghiên cứu về thực trạng pháp luật về thủ tục đăng ký kinh doanh của hộ kinh
doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
6
Phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát hóa nhằm đưa ra những đề
xuất, kiến nghị của luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn phản ánh cái nhìn khách quan về thủ tục hành chính trong lĩnh vực
đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh theo pháp luật Việt Nam hiện nay. Luận văn
chỉ ra những điểm mới, những vấn đề còn tồn tại cần phải tiếp tục sửa đổi bổ sung
để hoàn thiện hệ thống pháp luật đăng ký kinh doanh nói riêng và hệ thống pháp
luật kinh doanh nói chung.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở hoàn thiện hệ thống pháp luật đăng ký kinh doanh của hộ kinh
doanh từ đó tạo một môi trường kinh doanh bình đẳng, thuận tiện và minh bạch,
hiện thực hóa đầy đủ quyền tự do kinh doanh theo nguyên tắc công dân được tự do
kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm hoặc không hạn chế, nâng
cao tính linh hoạt trong hoạt động kinh doanh và thúc đẩy nền kinh tế trong nước
phát triển.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các tổ chức, cá nhân có
quan tâm đến vấn đề này cả trên phương diện nhận thức lẫn hoạt động thực tiễn.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo thì cấu trúc Luận văn có 03
chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của hộ kinh doanh và pháp luật về
lẽ không được chú ý. Có chăng trong quan hệ buôn bán, hộ gia đình là thành phần
lấn át.
Phải đến thời kì thuộc Pháp, năm 1864 người Pháp đem Bộ luật thương mại
của mình áp dụng vào Nam Kỳ và năm 1888 áp dụng vào Bắc Kỳ. Giai đoạn này có
xuất hiện những thương nhân đơn lẻ, chủ yếu được hình thành, hoạt động theo quy
định, chế định của luật thương mại Pháp.
Thời kì đất nước bị chia cắt hai miền với hai chế độ kinh tế, chính trị, văn
hóa khác nhau. Ở miền Nam chính quyền Sài Gòn tiếp tục kế thừa pháp luật thương
8
mại thời Pháp thuộc đồng thời ban hành một loạt các văn bản pháp luật thương mại
mới mà đỉnh cao của nó là Bộ luật thương mại năm 1972, theo Bộ luật thương mại
Việt Nam Cộng hòa năm 1972: "Thương gia là những người làm hành vi thương
mại cho chính mình và lấy hành vi ấy làm nghề nghiệp thường xuyên của mình".
Ở miền Bắc tiếp tục công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa với các thành phần
kinh tế ngoại quốc doanh đó là kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư doanh, với mục
đích biến nền kinh tế nhiều thành phần thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Cải tạo
đối với các hộ cá thể trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận
tải, xây dựng… Đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh phải nhanh chóng xóa
bỏ thành phần kinh tế này và áp dụng hình thức công tư hợp doanh.
Khi xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, với chế
độ công hữu hóa tư liệu sản xuất, tầng lớp thương nhân mới nhen nhóm đã bị xóa
bỏ. Một số ít cá nhân kinh doanh vẫn tồn tại tuy nhiên chỉ là những người buôn bán
những mặt hàng đơn giản, chạy chợ, chạy bán hàng rong, và một số hộ kinh doanh
nhỏ lẻ ở một số ngành nghề liên quan tới tiêu dùng hoặc những thành phần đang
trong quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa.
Các biện pháp thực hiện cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh để xây
dựng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp có nhiều hạn chế do chủ
khối lượng hàng hóa lưu thông, phải mở rộng giao lưu hàng hóa, bãi bỏ các biện
pháp cấm đoán, chia cắt thị trường theo địa giới hành chính.
Để giải quyết những vấn đề cấp bách về phân phối, lưu thông, Hội nghị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 (khóa VI) nhận định: "Phân phối lưu thông
vẫn đang là mặt trận nóng bỏng của nền kinh tế. Phương hướng vừa cơ bản vừa
cấp bách để giải quyết tình hình này là xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp,
chuyển hẳn hoạt động của nền kinh tế sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa,
đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, làm cho toàn bộ hệ thống sản xuất, lưu thông
hoạt động theo quy luật khách quan, tăng nhanh sản phẩm xã hội. Chính thực trạng
phân phối, lưu thông nói trên đang gây khó khăn cho việc thực hiện hạch toán kinh
doanh xã hội chủ nghĩa và cản trở sản xuất phát triển". Và đề ra các biện pháp chỉ
đạo: Thể chế hóa và cụ thể hóa chính sách đối với kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư
10
nhân theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng để mọi người yên tâm bỏ vốn
sản xuất, kinh doanh. Theo hướng dẫn của Trung ương, các tỉnh, thành phố quy
định những ngành nghề và phạm vi hoạt động của các thành phần kinh tế nói trên.
Khuyến khích các hình thức hùn vốn, hợp tác, làm ăn tập thể từ thấp đến cao và các
hình thức liên kết với các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa… Soát xét lại các
chính sách kinh tế, xã hội đối với tập thể, cá thể, tư bản tư nhân, xóa bỏ mọi định
kiến hẹp hòi và những quy định mang tính chất phân biệt đối xử không hợp lý.
Trong bối cảnh đó, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 27-HĐBT
ngày 9/3/1988, ban hành bản quy định về chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế
tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp xây dựng, vận tải. Tại lời nói
đầu của nghị định đã chỉ rõ mục đích của việc ban hành nghị định này là: Để thể chế
hóa các chủ trương mới đã nêu trong Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng
sản Việt Nam và Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng
đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp,
hình thành các hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân và các công ty ngày nay ở Việt
Nam. Hộ cá thể, theo Bản quy định này, có các điều kiện như sau :
(i) Tư liệu sản xuất và các vốn khác thuộc quyền sở hữu của người đứng tên
đăng ký kinh doanh.
(ii) Chủ đăng ký kinh doanh phải là người lao động trực tiếp. Những người
lao động khác phải là bố mẹ, vợ chồng, các con và nếu là người thân thì phải có tên
trong sổ đăng ký hộ khẩu của người chủ đăng ký kinh doanh.
(iii) Thu nhập sau khi đóng thuế thuộc quyền sở hữu của chủ hộ.
Tuy nhiên, hộ cá thể là một hình thức của kinh tế tư nhân khác với hình thức
kinh tế gia đình. Theo Nghị quyết của Bộ Chính trị số 16-NQ/TW ngày 15/7/1988:
"Kinh tế gia đình là kinh tế do công nhân viên chức nhà nước, thành viên xí nghiệp
quốc doanh, xí nghiệp tập thể và công nhân viên chức xí nghiệp tư nhân cũng như
những người ngoài tuổi lao động cùng với gia đình mình làm thêm bằng cách nhận
gia công cho các xí nghiệp hoặc làm các dịch vụ’’.
Hộ tiểu công nghiệp, theo Bản quy định này, khác hộ cá thể ở chỗ: Là các
công xưởng hay các cửa hàng; được thuê mướn lao động theo hợp đồng giữa chủ và
người làm thuê; và chủ hộ có thể là người đóng vai trò chính về kỹ thuật sản xuất và
12
tự điều hành sản xuất kinh doanh. Bản chất của hộ tiểu công nghiệp cũng là cá nhân
kinh doanh hay thương nhân thể nhân, nhưng có sản nghiệp thương mại hay cơ sở
kinh doanh.
Xí nghiệp tư doanh, theo Bản quy định này, là các tổ chức sản xuất kinh
doanh cùng tính chất như công ty tư doanh, công ty cổ phần, tổ hợp tư doanh. Xí
nghiệp tư doanh có thể có một chủ sở hữu hoặc nhiều chủ sở hữu được gọi chung là
"chủ xí nghiệp". Như vậy, có thể hiểu hộ cá thể chính là cá nhân kinh doanh hay
thương nhân thể nhân tiến hành hoạt động kinh doanh cho chính mình. Dấu ấn gia
đình Việt Nam và dấu ấn quan niệm về các thành phần kinh tế trong cơ chế cũ vẫn
3/2/2000 và Nghị định 109/2004/NĐ-CP ngày 2/4/2004 về đăng ký kinh doanh. Tên
gọi "hộ kinh doanh" được hai nghị định này đổi thành "hộ kinh doanh cá thể".
Theo quy định tại Điều 17 Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 thì
hộ kinh doanh cá thể được định nghĩa: "Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc
một hộ gia đình làm chủ, kinh doanh tại một điểm cố định, không thường xuyên
thuê lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình
đối với hoạt động kinh doanh", và tại Điều 24 của Nghị định số 109/2004/NĐ-CP
ngày 2/4/2004: "Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ,
chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động,
không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt
động kinh doanh".
Theo định nghĩa trên thì hộ kinh doanh cá thể được quy định tại hai Nghị
định này bao gồm: Một cá nhân làm chủ hoặc hộ gia đình làm chủ. Như vậy, tên gọi
hộ kinh doanh qua các nghị định viện dẫn nêu trên đã có nhiều thay đổi, từ tên gọi
"hộ cá thể" và "hộ tiểu công nghiệp" được quy định tại Nghị định 27/HĐBT ngày
9/3/1988 đến "người kinh doanh" tại Nghị định 66/HĐBT ngày 2/3/1992 và tại các
nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 và Nghị định 109/2004/NĐ-CP ngày
2/4/2004 được đổi thành "hộ kinh doanh cá thể", các đặc trưng của chủ thể hộ kinh
doanh cũng thay đổi theo từng khái niệm, từ chỗ những người lao động khác của
"hộ cá thể" theo nghị định 27/HĐBT phải là bố mẹ, vợ chồng, các con và nếu là
người thân thì phải có tên trong sổ đăng ký hộ khẩu của người chủ đăng ký kinh
doanh, thì theo Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 2/4/2004 "hộ kinh doanh cá
thể" sử dụng không quá mười lao động. Điều đó có nghĩa hộ kinh doanh cá thể có
14
quyền thuê mướn lao động để phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của
mình. Hoặc theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 và Nghị định số
109/2004/NĐ-CP ngày 2/4/2000 thì hộ kinh doanh cá thể không bao gồm nhóm
hoạt động xây dựng và phát triển nền kinh tế. Thông qua các quy định pháp lý thì
hộ kinh doanh được hình thành và phát triển, trên cơ sở đó giúp con người hiện thực
hóa các ý tưởng kinh doanh.
Dưới góc độ của pháp lý, hộ kinh doanh được tạo nên bởi một sự kiện pháp
lý (thành lập hộ kinh doanh). Theo quy định thì hộ kinh doanh được hình thành
bằng thủ tục được pháp luật quy định và tham gia vào các mối quan hệ xã hội được
luật pháp điều chỉnh. Việc hình thành và phát triển phải thỏa mãn những yêu cầu mà
pháp luật quy định và dưới một hình thức mà hộ kinh doanh lựa chọn.
Trước khi có Nghị định của Chính phủ số 88/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 về
đăng ký kinh doanh, “hộ kinh doanh” được gọi là hộ kinh doanh cá thể”. Tên gọi
“hộ kinh doanh cá thể” được ghi nhận tại hai Nghị định của Chính phủ về đăng ký
kinh doanh là Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/20002 và Nghị định số
109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004.
Nghị định số 109/2004/NĐ-CP3 định nghĩa: Hộ kinh doanh cá thể do một cá
nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử
dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn
bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh4. Nghị định số 88/2006 NĐ-CP5
định nghĩa: Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm
người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng
không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài
sản của mình đối với hoạt động kinh doanh6 (Điều 36, khoản 1). Như vậy khái niệm
“hộ cá thể” và “hộ tiểu công nghiệp” theo Nghị định số 27-HĐBT ngày 9/3/19887
Từ điển Tiếng Việt do NXB Đà Nẵng (2010)
Nghị định số 02/2000/NĐ- CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ về Đăng ký kinh doanh
3
Nghị định số 109/2004/NĐ- CP ngày 02/4/2004 của Chính Phủ về đăng ký kinh doanh
4
Khoản 1 Điều 24 Nghị định số 109/2004/NĐ- CP ngày 02/4/2004 của Chính Phủ về đăng ký kinh doanh
5
người đăng ký thành lập hộ kinh doanh, vì vậy dưới góc độ lý thuyết thì số lượng
các thành viên trong nhóm đăng ký thành lập hộ kinh doanh không bị giới hạn. Tư
duy lập pháp của chúng ta luôn coi hộ kinh doanh là loại hình chủ thể kinh doanh có
quy mô kinh doanh nhỏ, nhỏ hơn các doanh nghiệp cho nên tập trung vào các dấu
hiệu xác định quy mô kinh doanh, bản chất của hộ kinh doanh nhưng lại chưa quan
tâm đến số lượng thành viên trong nhóm. Bản chất của một nhóm cá nhân cùng góp
vốn và liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình cũng giống như mô
hình partnership (tạm dịch là hợp danh) trong pháp luật Anh, Úc và châu Âu. Tuy
nhiên, nếu đã mang bản chất của hợp danh thì pháp luật cần giới hạn số lượng thành
viên tối đa để tránh những hệ lụy phiền toái cho chính các thành viên và người có
liên quan. Hơn nữa, pháp luật cũng không có quy định minh thị về nghĩa vụ liên đới
của các thành viên trong nhóm cá nhân cùng góp vốn thành lập hộ kinh doanh, cũng
không có quy định về nguyên tắc tự do thỏa thuận hay nguyên tắc phân chia kết quả
kinh doanh. Vì vậy, không nên quy định cho một nhóm người cùng đăng ký hộ kinh
doanh; hoặc nếu chấp nhận thì ít nhất cần quy định giới hạn số thành viên trong
nhóm và quy định trách nhiệm liên đới của họ.
Ba là, luật Thương mại năm 2005 quy định "thương nhân bao gồm tổ chức
kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập,
19
thường xuyên và có đăng ký kinh doanh" [21, Điều 6]. Quy định này của Luật
Thương mại 2005 vẫn dẫn đến những cách hiểu không thống nhất về khái niệm
thương nhân và các đặc điểm pháp lý của thương nhân. Nếu căn cứ vào lời văn của
điều luật thì thương nhân được định nghĩa như trên gồm 2 loại: (i) các tổ chức kinh
tế được thành lập hợp pháp; và (ii) những cá nhân thỏa mãn đủ 3 điều kiện: hoạt
động thương mại độc lập, có tính thường xuyên, và có đăng ký kinh doanh tại cơ
quan có thẩm quyền. Vậy hộ kinh doanh có phải là thương nhân hay không cũng là
một câu hỏi khó trả lời. Như đã phân tích, hộ kinh doanh không phải là tổ chức kinh