Ưu đãi người có công với cách mạng theo pháp luật việt nam từ thực tiễn quận ngũ hành sơn, thành phố đà nẵng - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ THANH TRÀ

ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ THANH TRÀ

ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Ngành

: Luật kinh tế

Mã số

: 8 38 01 07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .......................................................................................24
2.1. Thực trạng pháp luật Ưu đãi người có công với cách mạng ..............................24
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng tại quận
Ngũ Hành Sơn, thành phố Đã Nẵng..........................................................................38
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI NGƯỜI
CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TẠI QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG ................................................................................................................56
3.1. Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng ..........................56
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ưu đãi người có công với
cách mạng tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng..........................................61
KẾT LUẬN ..............................................................................................................70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASXH

An sinh xã hội

BHXH

Bảo hiểm xã hội

BHYT

Bảo hiểm y tế

BMVNAH


ƯĐXH

Ưu đãi xã hội


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số
hiệu

Tên bảng

Trang

Đối tượng được hưởng ưu đãi xã hội ở quận Ngũ Hành Sơn,

41

bảng
2.1

thành phố Đà Nẵng
2.2.

Số lượng người có công hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng trên

43

địa bàn quận Ngũ Hành Sơn
2.3.

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã
có biết bao thế hệ người Việt Nam với tinh thần yêu nước, ý chí anh dũng kiên
cường bất khuất hy sinh tính mạng, xương máu, sức lực, trí tuệ và tài sản để cho đất
nước được tự do, độc lập. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đời đời ghi nhớ công lao
to lớn và luôn nỗ lực dành sự ưu đãi cho những người con ưu tú ấy thông qua việc
ban hành và thực hiện một hệ thống chính sách ưu đãi. Ngay trong khi cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp đang trong giai đoạn phòng ngự khó khăn, thay mặt
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
ký Sắc lệnh số 20/SL “Quy định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ”. Đây
là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên có vai trò pháp lý quan trọng trong công tác
thương binh - liệt sĩ của cả Nước. Trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho Ban
Thường trực của Ban Tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc viết: Đang khi Tổ quốc
lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp,
cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe dọa, của cải, ruộng nương,
nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập, ai là người xung phong trước hết để
chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta? Đó là những chiến sĩ mà nay
một số thành ra thương binh. Người nhấn mạnh: Thương binh là những người đã hy
sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, của
đồng bào mà các đồng chí đó bị ốm yếu. Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn,
phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy. Vì nghĩa cử và sự hy sinh cao cả của
thương binh, liệt sĩ và người có công nên Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở: Đối
với những người con trung hiếu ấy, Chính phủ và đồng bào phải báo đáp cho xứng
đáng.
Thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu, với truyền thống và đạo lý của dân
tộc, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn thường xuyên dành sự ưu đãi cả vật chất
và tinh thần cho đối tượng người có công, tạo điều kiện để cuộc sống của họ ngày

1



2


còn một số mặt hạn chế nhất định như: Chưa quy định chế độ ưu đãi đối với người
tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc, bị địch bắt sau 30/4/1975; Quy định người có
công thuộc 2 đối tượng trở lên được hưởng trợ cấp, phụ cấp với từng đối tượng dẫn
đến một người có thể được hưởng nhiều suất trợ cấp người phục vụ; Chưa quy định
chế độ BHYT đối với thân nhân cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa
còn sống; Chưa quy định việc giám định vết thương tái phát đối với người bị
thương đã giám định, kết luận tỷ lệ suy giảm khả năng lao động dưới 21%; Việc
hạn chế thân nhân liệt sĩ chỉ được hưởng tối đa 3 định suất càng không còn hợp lý
trong điều kiện hiện nay, chưa đảm bảo công bằng, hưởng chế độ theo mức độ,
công lao đóng góp; Chưa quy định chế độ ưu đãi đối với vợ hoặc chồng liệt sĩ đã
lấy chồng hoặc vợ khác. Hiện nay cũng còn có nhiều truờng hợp với nhiều lý do
khác nhau đã không đáp ứng được những yêu cầu về mặt thủ tục, giấy tờ mà pháp
luật yêu cầu nên đã không được công nhận là đối tượng người có công với cách
mạng để được hưởng các ưu đãi. Với mục đích nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thực tiễn về ưu đãi người có công với cách mạng theo pháp luật Việt Nam trên địa
bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, tôi chọn đề tài: “Ưu đãi người có
công với cách mạng theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Quận Ngũ Hành Sơn,
thành phố Đà Nẵng”, làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về lĩnh vực này hiện nay có nhiều công trình, bài viết dưới nhiều
góc độ khác nhau. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu chỉ mới nghiên cứu một số
vấn đề cấp bách trong hoạt động chung chưa trình bày được các nội dung quản lý
Nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng theo pháp luật Việt Nam thực tiễn
tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Chính vì vậy đề tài luận văn thạc sỹ của
tác giả không có sự trùng lắp đề tài trước. Một số công trình nghiên cứu có liên quan
đến đề tài mà tác giả tiếp cận được trong thời gian thực hiện luận văn thạc sỹ.

đề lý luận và thực tiễn việc thực hiện chính sách ưu đãi nguời có công với cách
mạng ở cấp quốc gia, địa phương. Song hiện vẫn chưa có công trình nghiên cứu
đánh giá việc thực hiện ưu đãi người có công với cách mạng theo pháp luật Việt
Nam tại địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Ðà Nẵng khi số lượng người có
công chiếm một tỷ lệ đáng kể.

4


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về ưu đãi người
có công với cách mạng, đồng thời đánh giá thực trạng pháp luật về ưu đãi người có
công cũng như thực tiễn ưu đãi người có công với cách mạng trên địa bàn quận
Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở đó luận văn đưa ra một số giải
pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp
luật ưu đãi người có công với cách mạng trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, góp
phần nâng cao đời sống, đảm bảo công bằng cho người có công với cách mạng...
phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội nước nhà.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các văn bản pháp luật ưu đãi người có công
với cách mạng và thực tiễn thực hiện ưu đãi người có công với cách mạng trên địa
bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Ưu đãi người có công là vấn đề rộng có thể
được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Trong luận văn này, tác giả nghiên cứu
vấn đề ưu đãi xã hội dưới góc độ luật học và chủ yếu ở các nội dung như đối tượng
hưởng, điều kiện hưởng và chế độ hưởng ưu đãi. Luận văn không nghiên cứu những
vấn đề về giải quyết khiếu nại hay tranh chấp về ưu đãi xã hội.
- Phạm vi về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác ưu đãi người

kết hợp với việc thu thập nguồn tài liệu thứ cấp, tác giả đã tiến hành thu thập tài liệu sơ
cấp về ưu đãi người có công với cách mạng theo pháp luật Việt Nam trên địa bàn quận
Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng bằng phương pháp điều tra thông qua bảng hỏi và
câu hỏi phỏng vấn. Bảng câu hỏi được thiết kế nhằm mục đích lấy ý kiến của ưu đãi
người có công với cách mạng theo pháp luật Việt Nam trên địa bàn quận Ngũ Hành
Sơn, thành phố Đà Nẵng về thực trạng ưu đãi người có công với cách mạng theo pháp
luật Việt Nam trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
- Phương pháp xử lý số liệu:
Kết quả điều tra được tác giả sử dụng phần mềm Microsoft Excel để thống kê,
tổng hợp số liệu.

6


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiển
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về ưu đãi người có
công với cách mạng từ đó góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Đồng thời, ở
một mức độ nhất định, luận văn cũng cung cấp những kiến thức hữu ích cho những
người cần nghiên cứu về cơ sở lý luận cũng như những người làm công tác thực tiễn
trong lĩnh vực ưu đãi người có công để áp dụng và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp
luật ưu đãi người có công một cách hiệu quả.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu,
giảng dạy và công tác chăm lo đời sống người có công cách mạng. Những phương
hướng và giải pháp được đề xuất có thể gợi mở cho các cơ quan quản lý có những
điều chỉnh phù hợp để thực hiện ưu đãi xã hội người có công cách mạng theo pháp
luật hiệu quả hơn, qua đó góp phần nâng cao vai trò của Nhà nuớc trong ưu đãi
người có công với cách mạng theo pháp luật Việt Nam ở nước ta nói chung và thực
tiễn tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng nói riêng.

người có công trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc bảo vệ tổ quốc mà còn
bao gồm cả những người có cống hiến đáng kể trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
đất nước, những người xả thân bảo vệ cuộc sống yên bình hoặc đem lại thành tích,
đem lại vẻ vang cho đất nước, cho dân tộc. Vì vậy, người có công theo cách tiếp
cận này sẽ rất rộng và bao gồm nhiều đối tượng khác nhau.
Theo nghĩa hẹp: “Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín
ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc
trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945; trong các cuộc giải phóng dân
tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận.
Như vậy, người có công chỉ được xác định là những người có những đóng
góp, cống hiến trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Hay nói

8


cách khác ở góc độ này, người có công chỉ đồng nghĩa với người có công với cách
mạng, tức là những người có đóng góp trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và
bảo vệ Tổ quốc được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ghi nhận như thương
binh, liệt sỹ, người hoạt động và giúp đỡ cách mạng...
Dưới góc độ này thì người có công với cách mạng bao gồm những người tham
gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời hoặc một phần thân thể hoặc
có những thành tích, đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
1.1.2. Khái niệm ưu đãi người có công với cách mạng
Những người có công với nước bao giờ cũng được đất nước, dân tộc, xã hội
ghi nhận và tôn vinh. Một trong những ghi nhận và thể hiện sự tôn vinh đó là họ
được nhà nước, được xã hội dành cho những ưu tiên, đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất
lẫn tinh thần trong mọi mặt của đời sống xã hội. Những ưu tiên, đãi ngộ đặc biệt
hơn bình thường đó được gọi là ưu đãi xã hội. [31, tr.263]
Ưu đãi và chăm sóc người có công luôn là một chủ trương nhất quán của Đảng

nước còn nghèo, nhưng Nhà nước đã ban hành một số văn bản thể hiện sự ưu đãi
đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, đồng thời đề ra chủ trương hết sức đúng đắn là
toàn dân tham gia chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ.
Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), chế độ ưu đãi đối với
thương binh, gia đình liệt sĩ được quan tâm với việc ban hành 184 văn bản pháp
luật, trong đó quy định một số điểm quan trọng như: Tiếp tục xác nhận và giải quyết
quyền lợi cho những quân nhân, dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị
thương tật, bị chết trong chiến tranh; đối với những người hy sinh trong kháng chiến
chống Pháp, Nhà nước đã sửa đổi tiêu chuẩn "liệt sĩ" thay tiêu chuẩn "tử sĩ" trước
đây, cấp Bằng Tổ quốc ghi công thay "Bảng Tổ quốc ghi ơn" liệt sĩ; quy định việc
cất bốc quy tập mộ liệt sĩ, xây dựng các nghĩa trang liệt sĩ. Cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước ngày càng cam go, quyết liệt, Đảng, Nhà nước đã phát động cuộc
chiến tranh toàn dân, toàn diện với sự đóng góp hy sinh to lớn của mọi tầng lớp,
mọi lực lượng, chế độ ưu đãi đối với người có công được bổ sung các đối tượng
mới như: Chế độ đối với thanh niên xung phong (Chỉ thị số 71/TTg ngày 21-61965); Chế độ đối với dân công thời chiến (Nghị định số 77/CP ngày 26-4-1966);
Chế độ đối với lực lượng vận tải nhân dân (Quyết định số 84/CP ngày 04-5-1966);

10


Chế độ đối với công nhân viên chức, cán bộ giữ chức vụ chủ chốt ở xã, dân công
phục vụ các chiến trường quan trọng và nhân dân (Nghị định số 111B/CP) ngày 207-1968; Chế đô đối với cán bộ y tế làm nhiệm vụ cấp cứu phòng không (Nghị định
số 111/CP ngày 28-6-1973). Đồng thời Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản thể
hiện trách nhiệm đối với người có công như: Văn bản quy định những ngành nghề
dành để sắp xếp thương binh vào làm việc, các cơ quan xí nghiệp phải nhận thương
binh theo tỷ lệ 5% biên chế; quy định chế độ ưu đãi trong giáo dục - đào tạo, trong y
tế, được miễn, giảm giá vé tàu xe… Sự quan tâm của Đảng, Chính phủ đối với
người có công trong giai đoạn này đã góp phần to lớn, ổn định hậu phương, động
viên cán bộ chiến sĩ và nhân dân hăng hái trong chiến đấu, hết lòng chi viện sức
người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam, thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến

thực hiện chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ. Nghị
quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) nhấn mạnh: "Quan
tâm chăm sóc thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ và những nguời có công với
cách mạng, coi đó vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là trách nhiệm của toàn
dân; sớm ban hành chế độ toàn dân đóng góp vào Quỹ đền ơn, trả nghĩa để chăm lo
đời sống thương binh, gia đình liệt sĩ và những nguời có công với cách mạng".
Thực hiện Nghị quyết của Đảng, Nhà nước đã ban hành một số văn bản quy phạm
ưu đãi người có công, trong đó đáng lưu ý nhất là Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động
cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng
chiến, người có công giúp đỡ cách mạng (gọi tắt là Pháp lệnh ưu đãi người có công)
và Pháp lệnh phong tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng
được công bố ngày 10-9-1994.
Chính sách ưu đãi đối với người có công tiếp tục được sửa đổi với việc Ủy ban
Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng,
số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29-6-2005. Tiếp đó, ngày 21-6-2007, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp
lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, số 35/2007/PL-UBTVQH11, theo đó
Điều 9 và Điều 10 của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng được sửa đổi,
bổ sung. Đến năm 2012, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Sửa

12


đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, số
04/2012/PL-UBTVQH13. Như vậy, đến nay lĩnh vực ưu đãi xã hội đối với người
có công với cách mạng có 04 Pháp lệnh được điều chỉnh là: Pháp lệnh Quy định
danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Pháp lệnh ưu đãi người có
công với cách mạng và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu
đãi người có công. Các hệ thống văn bản pháp luật về ưu đãi người có công tương
đối đầy đủ và cơ bản đã thể chế hóa được các chủ trương, chính sách của Đảng và

nhất, người đại diện cho toàn bộ xã hội phải là người thống nhất quản lý toàn bộ
lĩnh vực an sinh xã hội. Sự thống nhất quản lý an sinh xã hội thể hiện ở chỗ “Nhà
nước định ra các chính sách xã hội”, cùng với các chính sách kinh tế, chính sách
văn hóa, an ninh quốc phòng. Đồng thời, Nhà nước ban hành hệ thống pháp luật an
ninh xã hội nhằm thể chế hóa các chính sách xã hội ấy. Để thực thi có hiệu quả các
văn bản pháp luật, Nhà nước thành lập các hệ thông các cơ quan chức năng về an
sinh xã hội cũng như kiểm tra việc tổ chức, thực hiện các chính sách, chế độ an sinh
xã hội của các cơ quan này. Là người chủ sở hữu lớn nhất, Nhà nước còn trực tiếp
đóng góp hoặc hỗ trợ vào nguồn thực hiện các chế độ an sinh xã hội.
Tuy nhiên, nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý an sinh xã hội không có
nghĩa là hoàn toàn loại trừ sự tham gia quản lý của các tổ chức chính trị - xã hội,
các tổ chức, đoàn thể xã hội. Tùy theo vị trí, chức năng của từng tổ chức như Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn, Hội nông dân Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ,
Hội cựu chiến binh, Hội chữ thập đỏ … mà pháp luật trao cho họ một số quyền và
cả trách nhiệm tương ứng trong việc tham gia tổ chức, quản lý một số mặt hoạt
động thuộc an sinh xã hội. [31, tr.28]
Thứ ba: Kết hợp hài hòa chính sách kinh tế và chính sách xã hội
Nguyên tắc kết hợp hài hòa chính sách kinh tế và chính sách xã hội xuất phát
từ quan niệm “con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của chính sách xã hội”
của Nhà nước ta. Mục tiêu của chính sách xã hội là nhằm phát huy sức mạnh của
nhân tố con người. Trong khi đó, nguồn lực con người lại được xác định là “yếu
tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”. Phát triển
kinh tế đóng vai trò là cơ sở, là tiền đề để thực hiện chính sách xã hội. Do vậy,
sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa – xã hội, giữa
tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội là một chủ trương có tính chiến lược của
Nhà nước ta. [31, tr.29]
Thứ tư: Kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc “hưởng thụ theo đóng góp” và
nguyên tắc “lấy số đông bù số ít”

15

chúng ta không thể lường trước được, nhu cầu bảo vệ của con người rất đa dạng

16


xuất phát từ các nguyên nhân rủi ro khác nhau. Sự đa dạng của các nguyên nhân rủi
ro dẫn đến sự đa dạng và phong phú trong các hình thức bảo vệ của hoạt động
ASXH. Căn cứ vào các nguyên nhân rủi ro khác nhau đã hình thành nên các nhóm
đối tượng với các hình thức bảo vệ phù hợp, có đối tượng cần bảo đảm thu nhập, có
đối tượng cần trợ giúp để vượt qua tình trạng nguy kịch của cuộc sống nhưng cũng
có đối tượng cần sự nâng đỡ, động viên tinh thần, tạo cơ hội vươn lên hòa nhập
cộng đồng. Hơn nữa, không phải lúc nào và bao giờ các nhu cầu ASXH cũng giống
nhau, thậm chí ngay trong cùng một nhóm đối tượng có cùng một nguyên nhân rủi
ro. Chẳng hạn khi một cơn bão đi qua gây hậu quả nhưng nhu cầu của mỗi người là
khác nhau, có đối tượng cần nơi ở, có đối tượng cần lương thực để tồn tại, nhưng
cũng có đối tượng cần trợ giúp về y tế, phương tiện sinh sống. Chính vì thế, ASXH
cần thực hiện theo hướng đa dạng hóa hoạt động với các cách khác nhau mới đảm
bảo được mục đích, công bằng và an toàn chung xã hội.
Nguyên tắc này được thể hiện rất rõ trong việc quy định nội dung ASXH với
đa dạng các chế độ trợ cấp BHXH, BHYT, TGXH, UĐXH, … hình thành theo các
nhóm đối tượng và hình thức thực hiện khác nhau. Sự phát triển của ASXH trong
lịch sử cũng chứng minh cho sự đa dạng hóa các hoạt động ASXH bằng việc thiết
lập các “ lưới an toàn xã hội” ngày càng dày đặc hơn với nhiều “tầng tầng, lớp lớp”
chế độ bảo vệ nhằm bao quát các thành viên xã hội. Việc thực hiện ASXH trước
tiên thuộc về trách nhiệm của nhà nước nhưng đồng thời đây cũng là mối quan tâm
e sợ chung của toàn thể xã hội. Do vậy, bên cạnh vai trò của nhà nước trong thực
hiện ASXH, sự tham gia thực hiện của các tổ chức, đoàn thể, quần chúng nhân dân
toàn xã hội cũng quyết định đến sự thành công của sự nghiệp ASXH. Mặt khác, suy
cho cùng các công việc xã hội, các vấn đề xã hội phải do toàn xã hội đảm nhiệm,
gánh vác trong đó Nhà nước giữ vai trò ví như người “nhạc trưởng”. Nhà nước với

thống an sinh xã hội phát triển, đủ sức chống đỡ với các rủi ro xã hội ngày một tăng
lên đòi hỏi nhà nước và mỗi cá nhân trong xã hội phải nỗ lực hết mình và chia sẻ
những rủi ro cho nhau, có như vậy hoạt động an sinh xã hội mới thể hiện được đúng
bản chất “tương trợ cộng đồng” của nó.
1.3. Vai trò, ý nghĩa của việc ưu đãi người có công với cách mạng
1.3.1. Vai trò của ưu đãi người có công với cách mạng
Về chính trị: Trong tình hình hiện nay, khi đất nước bước vào thời kỳ xây

18


dựng và phát triển kinh tế nhưng các thế lực thù địch vẫn không ngừng chống phá
cách mạng bằng các hoạt động và các thủ đoạn diễn biến hòa bình. Trước những
biến đổi, những tác động của mặt trái cơ chế thị trường chính sách ưu đãi đối với
NCC có ý nghĩa lớn lao, nó thể hiện rõ rệt quyền con người. Mỗi sai lầm trong việc
thực hiện chính sách NCC không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của họ mà còn đem
lại những hậu quả khó lường.
Về kinh tế: Việc đảm bảo đời sống vật chất cho NCC trong sinh hoạt hằng
ngày nhất là đối với những người có công lao thành tích đặc biệt, có thương tật,
bệnh tật nặng hoặc bù đắp một phần mất mát của họ. Được sự quan tâm của Đảng
và Nhà nước, các văn bản pháp quy lần lượt ra đời đưa ra những chính sách ưu đãi
đối với NCC, trong đó qui định các loại trợ cấp, mức trợ cấp phù hợp với chính sách
phát triển kinh tế - xã hội.
Về pháp lý: Dưới sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta và hàng loạt những
chính sách về ƯĐXH đối với NCC đã ra đời, đánh dấu sự phát triển về mặt lập pháp
của nước ta. Chính những văn bản quy phạm pháp luật này đã mang lại sự công
bằng trong xã hội đối với những người đã hy sinh một phần xương máu vì sự
nghiệp độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khi có chế độ ưu đãi, sự ưu
tiên suy tôn của xã hội trở thành quyền pháp lý của NCC, quyền này được đảm bảo
thực hiện một cách chắc chắn. Pháp luật ƯĐXH là sự thể chế hóa những chính sách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status