VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT
NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ
HỘI
NGUYỄN MINH CƯỜNG
ĐĂNG KÝ KINH DOANH CỦA CÁC HỘ KINH DOANH
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH
TẾ
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT
NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ
HỘI
NGUYỄN MINH CƯỜNG
ĐĂNG KÝ KINH DOANH CỦA CÁC HỘ KINH DOANH
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8 38 01 07
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH
CỦA CÁC HỘ KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ
THỰC TIỄN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH ....................... 35
2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện nay về đăng ký kinh doanh của các
hộ kinh doanh............................................................................................... 35
2.2. Thực trạng thi hành pháp luật về đăng ký kinh doanh của các hộ kinh
doanh từ thực tiễn thực hiện tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh ............
40
Chương 3. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH
CỦA CÁC HỘ KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN
NAY TỪ THỰC TIỄN HUYỆN VÂN ĐỒN TỈNH QUẢNG NINH........ 49
3.1. Một số kiến nghị chung về cơ chế, thủ tục .......................................... 49
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về đăng ký kinh doanh của các hộ
kinh doanh.................................................................................................... 50
KẾT LUẬN .................................................................................................... 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................... 65
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CPTPP
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
ĐKKD
Đăng ký kinh doanh
FTA
Hiệp định thương mại tự do
phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Hộ kinh
doanh đã gắn liền với quá trình phát triển kinh tế đa thành phần của Việt
nam, với các tên gọi: Hộ cá thể, hộ tiểu công nghiệp, hộ kinh doanh. Cùng
với sự tăng trưởng, phát triển của các thành phần kinh tế trong giai đoạn
qua khu vực kinh tế tư nhân trong đó các hộ kinh doanh ngày càng tăng
trưởng về số lượng cũng như ngành nghề kinh doanh. Hộ kinh doanh giữ
vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta, đã và đang đạt được những
thành tựu đáng kể: Sử dụng nguồn lực lao động xã hội một cách tối ưu,
góp phần giải quyết việc làm, an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo. Sản
xuất kinh doanh của hộ kinh doanh đa dạng đủ mọi ngành nghề, nh iều mặt
hàng sản phẩm truyền thống của nước ta đang được hộ kinh doanh giữ gìn
và phát triển. Do hộ kinh doanh với quy mô nhỏ, gọn mang tính chất gia
đình, hoặc liên kết nhóm nên không phát sinh nhiều thủ tục hành chính
trong quá trình khởi nghiệp, áp dụng hình thức nộp thuế theo tỉ lệ trên
doanh thu nên đơn giản và thuận tiện. Khuôn khổ pháp luật hiện hành đã
cụ thể hóa quyền tự do kinh doanh của công dân theo quy định của Hiến
pháp năm 2013. Pháp luật về đăng ký kinh doanh luôn hướng tới mục tiêu
đơn giản hóa tối đa về trình tự, thủ tục, giảm bớt về thủ tục hành chính
cho các chủ thể kinh doanh. Do đó, sớm nhận thức rõ vai trò của hộ kinh
doanh trong quá trình đổi mới phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước đã
có những chủ trương, chính sách tạo điều kiện phát triển kinh tế ở khu
vực hộ kinh doanh.
1
Tuy nhiên từ thực tiễn hiện nay cho thấy từ khái niệm cho tới địa vị,
trách nhiệm pháp lý của hộ kinh doanh đều không rõ ràng. Mặt khác, các
hộ kinh doanh chịu nhiều hạn chế như chỉ được kinh doanh ở một địa
điểm, không được mở chi nhánh, văn phòng đại diện, không có quy định
Hà Nội, 2015. Nghiên cứu các vấn đề pháp luật về đăng ký kinh doanh ở
Việt Nam hiện nay gồm có Luận án Tiến sĩ luật học chuyên ngành Luật
Kinh tế năm 2016 của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy; Nghiên cứu vấn đề
pháp luật về thuế đối với hộ kinh doanh từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi là
Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật kinh tế năm 2017 của tác giả Phạm
Thị Minh Phương. Các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên đã đi sâu
phân tích khái niệm đăng ký kinh doanh, đặc điểm, bản chất và vai trò của
hộ kinh doanh trong nền kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Nghiên cứu vấn đề
về đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh, luận văn mong muốn tìm ra
các vấn đề bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời
đưa ra các giải pháp hoàn thiện các qui định của pháp luật và nâng cao vị
trí pháp lý của hộ kinh doanh so với các loại hình đăng ký kinh doanh
khác.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Muc đích nghiên cưu la đê xuât môt sô kiến nghi và giải pháp sửa đổi,
bổ sung các quy định pháp luật hỗ trợ hoạt động đăng ký kinh doanh của
các hộ kinh doanh và góp phần hoàn thiện pháp luật. Luận văn có những
nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
Thứ nhất: Phân tích các vấn đề lý luận của pháp luật về đăng ký kinh
doanh của các hộ kinh doanh theo hướng việc đăng ký kinh doanh là
quyền của các hộ kinh doanh và được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng
các quy định của pháp luật, cụ thể như sau: Khái niệm, đặc điểm và ý
nghĩa, giá trị pháp lý của hộ kinh doanh, những điều kiện để thực hiện
việc đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh.
Thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về đăng ký kinh
doanh của các hộ kinh doanh qua thực tiễn tại huyện Vân Đồn, tỉnh
Quảng Ninh.
Thứ ba: Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực trạng của pháp luật
Chương 2. Luận văn sử dụng phương pháp hệ thống, phương pháp
thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp để chỉ ra thực trạng thực hiện
pháp luật trong hoạt động đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh từ
thực tiễn tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
Chương 3. Luận văn sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp,
phương pháp luật học so sánh, phương pháp hệ thống để đề ra các giải
pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đăng ký
kinh doanh của các hộ kinh doanh từ thực tiễn tại huyện Vân Đồn, tỉnh
Quảng Ninh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về ý nghĩa khoa học, luận văn đóng góp về phương diện lý luận cho
việc nghiên cứu pháp luật, quá trình xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp
luật về đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh, tìm kiếm mô hình
đăng ký kinh doanh nào cho phù hợp. Luận văn cũng làm rõ vai trò, chức
năng của pháp luật về đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh, sự tác
động của hệ thống pháp luật về hộ kinh doanh tới quá trình phát triển kinh
tế - xã hội.
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham
khảo có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu cũng như áp dụng pháp
luật về đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Với cách tiếp cận và nội dung nghiên cứu trên, luận văn này gồm ba
phần chinh sau:
Chương 1. Pháp luật về đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh.
Chương 2. Thực trạng pháp luật về đăng ký kinh doanh của các hộ
kinh doanh theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn huyện Vân Đồn, tỉnh
Quảng Ninh
Chương 3. Hoàn thiện pháp luật về đăng ký kinh doanh của các hộ
nghiêp. Hộ tiểu công nghiệp (xưởng, cửa hàng,...) có tư liệu sản xuất và
các vốn khác thuộc sở hữu của chủ hộ; được thuê mướn lao động theo hợp
đồng thoả thuận giữa chủ và người làm thuê; chủ hộ là người lao động
trực tiếp hoặc đóng vai trò chính về kỹ thuật sản xuất và tự điều hành sản
xuất kinh doanh; thu nhập sau khi đóng thuế và trả công cho người làm
thuê thuộc sở hữu của chủ hộ [37]. Hộ tiểu thủ công nghiệp do Uỷ ban
nhân dân quận, huyện xét cấp đăng ký kinh doanh và được chính thức
công nhân bằng Nghị định số 27-HĐBT cua Hôi đông Bô trưởng (nay là
Chính phu).
Trong giai đoan này, do điều kiên lịch sư và bối cảnh kinh tế - xa hôi
cùng vơi danh muc cấm kinh doanh hoăc kinh doanh co điều kiên theo
quy định cua phap luât rất rông nên sư phat triển cua cac hô ca thể, hô
tiểu công nghiêp còn châm.
Thứ hai, trong giai đoan tư khi ban hành Luât Doanh nghiêp tư nhân
và Luât Công ty (năm 1990) đến trươc khi ban hành Luât Doanh nghiêp
1999, hô kinh doanh tôn tai dươi hinh thức người kinh doanh (gôm cac ca
nhân, nhom người kinh doanh dươi vốn phap định) theo quy định tai Nghị
định số 66/HĐBT cua Hôi đông Bô trưởng (nay là Chính phu). Nghi đinh
nay quy định về quyền, nghĩa vụ của người kinh doanh; về nội dung, trình
tự, thủ tục đăng ký, thay đổi, tạm ngừng, chấm dứt kinh doanh của loại
hình này. Điểm đáng chú ý là, Nghị định này quy định người kinh doanh
không bị giới hạn trong việc thuê mướn số lượng lao động [37].
Thứ ba, trong giai đoan tư khi ban hành Luât Doanh nghiêp năm 1999
đến trươc khi ban hành Luât Doanh nghiêp 2005, hô kinh doanh tôn tai
dươi hinh thức hô kinh doanh ca thể do môt ca nhân hoăc hô gia đinh làm
chu theo quy định tai Nghị định số 02/2000/NĐ-CP cua Chính phu. Tuy
nhiên, do nhiều nguyên nhân khac nhau, trong đo co nguyên nhân quy
nghiệp tư nhân nói riêng đã được xoá bỏ (Các Luật Doanh nghiệp năm 1999,
2005 và 2014). Điều kiện thành lập doanh nghiệp tư nhân và công ty gần như
bằng không và không khác gì với việc thành lập hộ kinh doanh. Đặc biệt là
việc Luật Doanh nghiệp năm 2005 và 2014 cho phép thành lập công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân. Do đó, hộ kinh doanh đã thật sự hết
lý do, vai trò lịch sử. Còn sự tồn tại và phát triển như là doanh nghiệp mà
không được thừa nhận là doanh nghiệp chỉ là do sự khiếm khuyết của pháp
luật. Tuy nhiên, vì các Luật Doanh nghiệp năm 1999, 2005, 2014 và các văn
bản quy phạm pháp luật liên quan khác vẫn tiếp tục quy định về hộ kinh
doanh một cách quá đơn giản, nên đương nhiên đã trở thành sự lựa chọn chủ
yếu trên thực tế. Việc một người có nhiều công ty là chuyện bình thường,
nhưng một người đồng thời duy trì hai loại hình kinh doanh là công ty và hộ
kinh doanh là điều pháp luật cần phải nghiên cứu điều chỉnh.
1.2. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của hộ kinh doanh
1.2.1. Khái niệm hộ kinh doanh
Ở một số quốc gia phát triển trên thế giới chỉ có quy định về hộ kinh
doanh do cá nhân làm chủ với nhiều khái niệm khác nhau như doanh nghiệp
một chủ (one-man business), thương nhân cá thể (sole trader) hoặc doanh
nghiệp cá thể (sole proprietorship).
Để hiểu rõ hơn về khái niệm “hộ kinh doanh”ở Việt Nam, trước hết
cần tìm hiểu thêm về thuật ngữ “hộ gia đình”. Hộ gia đình đã được để cập
đến trong các văn bản quy phạm pháp luật từ năm 1964 ví dụ như tại khoản 6,
Điều 29, Luật Nghĩa vụ quân sự năm 1981 (đã được sửa đổi, bổ sung năm
1990). Hô gia đinh được nhắc đến với tư cách là chu thể của quan hệ dân sư
bắt đầu tư Luật Đất đai năm 1993 khi quy đinh hô gia đinh là một trong
nhưng chu thể sư dụng đất bên cạnh các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân
dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội và cá nhân. Và tiếp tục tại
Điều 116 Bô luật dân sư năm 1995 đã ghi nhận hô gia đinh là một chu thể của
trường kinh doanh. Từ bản chất ban đầu là kinh tế hộ gia đình, khi có đủ
điều kiện, hộ gia đình sẽ được nhà nước cho phép đăng ký ngành nghề
kinh doanh và đi vào hoạt động kinh doanh với tên gọi là hộ kinh doanh
như các loại hình doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, hiện nay Luật Doanh
nghiệp chưa thừa nhận hộ kinh doanh là một hình thức doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là chủ thể có hoạt động kinh doanh. Kinh doanh là các
hoạt động sản xuất, mua bán và trao đổi hàng hóa nhằm mục đích sinh ra
lợi nhuận trên thị trường. Các hoạt động kinh doanh luôn có sự đa dạng về
hình thức và cách thức thực hiện và được điều chỉnh bởi pháp luật kinh tế.
Theo đó, dù là cá nhân hoặc nhóm cá nhân, hay pháp nhân (công ty) đều có
thể là nội hàm của khái niệm doanh nghiệp. Lúc này khái niệm doanh nghiệp
là khái niệm kinh tế, chưa phải là khái niệm pháp lý.
Từ cách phân tích định nghĩa này, có quan điểm cho rằng việc đưa cá
nhân - hộ kinh doanh vào Luật doanh nghiệp để thừa nhận họ là doanh nghiệp
là vấn đề rất bình thường. Nhưng khi có quan điểm như vậy, đồng nghĩa đang
có sự nhầm lẫn giữa khái niệm pháp lý và khái niệm kinh tế.
Khoản 1 điều 66 nghị định 78/2015/NĐ-CP định nghĩa về hộ kinh doanh
như sau: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá
nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ,
hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm,
sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình đối với hoạt động kinh doanh”.
Đồng thời, điều 101 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Trường hợp hộ gia
đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ
dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có
tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự
hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân
sự”.
một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh
doanh [6]. Nghị định số 88/2006 NĐ- CP định nghĩa: Hộ kinh doanh do
một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia
đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá
mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản
của mình đối với hoạt động kinh doanh [7]. Điều 66, khoản 1 Nghị định
số 78/2015/NĐ-CP năm 2015 định nghĩa: “Hộ kinh doanh do một cá nhân
hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi,
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ
được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động
và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh
doanh”.
Định nghĩa trên về “hộ kinh doanh” cho thấy hộ kinh doanh được chia
thành ba loại căn cứ vào chủ tạo lập ra nó: (1) Hộ kinh doanh do một cá
nhân làm chủ; (2) hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ; và (3) Hộ
kinh doanh do hộ gia đình làm chủ. “Hộ gia đình” được kinh doanh dưới
hình thức hộ kinh doanh cá thể hay hộ kinh doanh như trên vừa nói có lẽ
xuất phát từ việc Bộ luật Dân sự 1995 và Bộ luật Dân sự 2015 qui định
“hộ gia đình” là chủ thể của quan hệ dân sự theo nghĩa rộng.
Thứ nhất, “hộ gia đình” không phải là cá nhân và cũng không phải là
pháp nhân, mà là một chủ thể đặc biệt của pháp luật Việt Nam. Do đó hộ
kinh doanh cá thể hay hộ kinh doanh là thương nhân thể nhân. Trước đây,
hộ cá thể và hộ tiểu công nghiệp (hình thức đầu tiên của hộ hộ kinh doanh
cá thể hay hộ kinh doanh), theo Nghị định số 27- HĐBT ngày 9/3/1988, là
thương nhân thể nhân [12].
Thứ hai, tập hợp các cá nhân hay các thành viên của “hộ gia đình”
không dễ xác định. Dấu hiệu của một “gia đình” được thể hiện qua quan
Pháp luật Việt Nam hiện nay phân biệt hộ kinh doanh với doanh
nghiệp thông qua việc sử dụng lao động. Hộ kinh doanh do một cá nhân
hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi,
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ
được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động
và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh
doanh. Hộ kinh doanh có sử dụng từ mười lao động trở lên phải đăng ký
thành lập doanh nghiệp theo quy định (Khoản 3, Điều6 6 Nghị định số
78/2015/NĐ-CP năm 2015). Do đó, có thể hiểu, pháp luật Việt Nam hiện
nay quan niệm hộ kinh doanh và các hình thức công ty không khác gì
nhau về hình thức kết cấu mà chỉ khác nhau về quy mô kinh doanh.
Như vậy, hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam, hoặc
một nhóm người, một hộ gia đình làm chủ. Đối với hộ kinh doanh do một
cá nhân làm chủ, cá nhân có toàn quyền quyết định về mọi hoạt động kinh
doanh của hộ (như chủ doanh nghiệp tư nhân đối với doanh nghiệp tư
nhân). Đối với hộ kinh doanh do một nhóm người hoặc một hộ gia đình
làm chủ, mọi hoạt động kinh doanh của hộ do các thành viên trong nhóm
hoặc trong hộ quyết định. Nhóm người hoặc hộ gia đình cử một người đủ
điều kiện là đại diện cho nhóm hoặc cho hộ để tham gia giao dịch với bên
ngoài. Bộ Luật Dân sự năm 2015 đã không còn quy định về hộ kinh doanh
và không còn ghi nhận loại hình này là một chủ thể trong giao dịch dân
sự. Các luật khác như Luật Sở hữu trí tuệ cũng không khẳng định một
cách rõ ràng về việc hộ kinh doanh cá thể có thể là một chủ thể được
quyền sở hữu tài sản sản trí tuệ.
1.2.2. Đặc điểm pháp lý của hộ kinh doanh
1.2.2.1. Hộ kinh doanh không phải là pháp nhân
Các hộ kinh doanh được thành lập bởi một cá nhân vì vậy họ không
thể là pháp nhân. Hộ kinh doanh gắn liền với cá nhân thành lập ra hộ kinh
Đặc điểm này không xuất phát từ bản chất bên trong của hình thức
kinh doanh này mà xuất phát từ các qui định của pháp luật Việt Nam căn
cứ vào số lượng lao động được sử dụng trong hộ kinh doanh. Điều này
gây tốn kém không thật cần thiết cho người kinh doanh, và có thể trái với
ý chí và khả năng kinh doanh của họ. Việc buộc hộ kinh doanh sử dụng
thường xuyên hơn mười lao động phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức
doanh nghiệp có lẽ chưa tính đến đặc trưng của từng ngành nghề kinh
doanh. Với một cửa hàng cơm bình dân con số người phục vụ có thể lên
tới hàng chục với các công việc như nấu ăn, chạy chợ, phục vụ bàn, vệ
sinh, trông xe…[39]
Hộ kinh doanh theo Nghị định số 78/2015/NĐ-CP năm 2015 chỉ được
tiến hành kinh doanh tại “một địa điểm”. Bản thân cụm từ “một địa điểm”
ở đây cũng cần được giải thích. Nếu “một địa điểm” không phải là một địa
phương như xã (phường), huyện (quận) hoặc tỉnh (thành phố), thì nó có
nghĩa là mỗi hộ kinh doanh chỉ có thể sản xuất kinh doanh tại một địa
phương theo nội dung đã đăng ký kinh doanh.
Như vậy, quyền tự do kinh doanh của các hộ kinh doanh bị hạn chế
hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác.
1.2.2.3. Chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản
nợ của hộ kinh doanh
Khi phát sinh các khoản nợ, cá nhân hoặc các thành viên phải chịu trách
nhiệm trả hết nợ, không phụ thuộc vào số tài sản kinh doanh hay dân sự mà
họ đang có; không phụ thuộc vào việc họ đang thực hiện hay đã chấm dứt
thực hiện hoạt động kinh doanh.
Hộ kinh doanh không phải là một thực thể độc lập, tách biệt với chủ
nhân của nó. Nên về nguyên tắc chủ nhân của hộ kinh doanh phải chịu
trách nhiệm vô hạn đối với khoản nợ của hộ kinh doanh, có nghĩa là chủ
nhân của hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của