MỤC LỤC
Trang
02
02
03
03
04
06
16
19
20
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Sự cần thiết của đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Thực trạng.của vấn đề cần giải quyết
2. Nội dung nghiên cứu
3. Đánh giá đề tài
4. Tổ chức thu thập minh chứng
III. KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
21
PHỤ LỤC
22
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Sự cần thiết của đề tài
ngày càng nhiều trong xã hội. Thực tế này khiến cho xã hội, các nhà tâm lý, đặc
biệt là bậc học mầm non phải suy nghĩ.
Sau khi quan sát, tìm hiểu trẻ tại nhóm lớp mà tôi phụ trách, tôi thấy trẻ
trong lớp tuy đã tự tránh xa những đồ chơi, đồ vật nguy hiểm, trẻ biết được hành
vi nào là nên, không nên, đúng hay sai nhưng khả năng xử lý các tình huống khi
gặp nguy hiểm thì chưa cao, còn phải cần đến sự nhắc nhở giúp đỡ của người
lớn … Bên cạnh đó, giáo viên chỉ chú ý các nội dung giáo dục hành vi tự bảo vệ
cho trẻ mà chưa quan tâm đến việc hình thành các kỹ năng tự bảo vệ bản thân
cho trẻ đúng mức, hoặc thực hiện còn mang tính hình thức, qua loa và đôi lúc
còn gượng ép, có phần áp đặt ý muốn chủ quan của mình, cũng như chưa chú
trọng đến vấn đề lồng ghép dạy trẻ kỹ năng tự bảo trong các chủ đề… Nắm bắt
được tâm sinh lý trẻ “Chơi mà học, học mà chơi” thông qua hoạt động mọi lúc
mọi nơi giáo viên dễ dàng định hướng và giáo dục trẻ một cách nhẹ nhàng, thoải
mái, giúp trẻ dễ dàng tiếp thu và vận dụng những hiểu biết của mình một cách
phù hợp.
2
Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân
đối với sự phát triển của trẻ, với mong muốn tích lũy thêm những tri thức lý luận
và kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ mầm
non, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu là “Thông qua các hoạt động hàng ngày ở
trường mầm non, giúp trẻ phát triển kỹ năng tự bảo vệ bản thân tại lớp mẫu giáo
4-5 Tuổi A Trường Mầm non 8/3 Nha Trang”
2. Mục đích nghiên cứu.
Phân tích, đánh giá thực trạng kỹ năng tự bảo vệ bản thân của trẻ tại lớp để
đưa một số biện pháp giúp phát triển kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ 4-5 tuổi
A thông qua các hoạt động hàng ngày tại trường Mầm non 8/3 – TP Nha Trang.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
cách ứng phó và bảo vệ bản thân. Tuy nhiên kỹ năng tự bảo vệ của trẻ còn nhiều
hạn chế.
- Trẻ rất dễ bị mất tập trung bởi những cảnh vật mới lạ hoặc những đồ vật
trong tay trẻ nếu thình lình rơi xuống đất hoặc lăn vào những nơi nguy hiểm như
ao, hồ, bể chứa nước, giếng…trẻ sẽ tìm cách đuổi theo mà không chú ý đến
những nguy hiểm trước mắt.
- Trí nhớ: Trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi ít khi ghi nhớ những điều gì nếu chỉ nói
một lần với trẻ, trí nhớ chủ định ở trẻ phát triển mạnh.
- Nhu cầu khám phá thế giới, môi trường xung quanh của trẻ rất lớn bất kể
chúng có an toàn hay không. Đặc biệt, đối với những đồ vật hàng ngày bị người
lớn cấm đoán không cho phép tiếp xúc hoặc chơi, vì thế trẻ không lường trước
được những nguy hiểm có thể gặp phải.
- Ở trẻ 4-5 tuổi, tư duy của trẻ vẫn mang tính trực quan, sự quan sát và
đánh giá của trẻ còn mang đậm màu sắc chủ quan, cảm tính rất dễ bị thuyết
phục, nếu những người xấu nắm được đặc điểm tâm lý của trẻ như: Thích ăn
kẹo, nhận quà, chơi đồ chơi…là cơ hội cho trẻ xấu lợi dụng, dụ dỗ. Trẻ không
đủ bình tĩnh để phán đoán, để quyết định hành động, xử trí như thế nào trong
những tình huống gặp phải.
Với những đặc điểm về những kỹ năng tự bảo vệ của trẻ 4-5 tuổi nêu trên
thiết nghĩ vấn đề giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ là rất cấp thiết.
Giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ 4-5 tuổi có ảnh hưởng đến phát triển
toàn diện nhân cách trẻ về các mặt thể chất, tình cảm-xã hội, giao tiếp, ngôn
ngữ, nhận thức và sẵn sang đi học. Cụ thể, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ giúp cho
trẻ được an toàn, khỏe mạnh, khéo léo, bền bỉ, chủ động, có khả năng thích ứng
được với những thay đổi, những khó khăn, thử thách trong cuộc sống.
1. Thực trạng của vấn đề cần giải quyết
1.1. Thuận lợi
Trường Mầm non 8/3 là đơn vị trực thuộc Phòng Giáo dục – Đào tạo Thành
từng kỹ năng một, chưa chú ý đúng mức, hoặc thực hiện còn mang tính hình
thức, lồng ghép giáo dục còn qua loa và đôi lúc còn gượng ép, có phần áp đặt ý
muốn chủ quan của mình.
Phụ huynh còn bao bọc chưa dám cho trẻ tự lập, tự xử lý mà đa phần còn
làm giúp trẻ. Giáo viên chưa chủ động tuyên truyền với phụ huynh phối hợp với
nhà trường và xã hội trong vẫn đề giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ.
Bảng 1: BẢNG TỔNG HỢP KHẢO SÁT ĐẦU NĂM
THÁNG 10/2018 (Chưa áp dụng)
NỘI DUNG KHẢO SÁT
+ Trẻ nhận biết được những hành động và
Tháng 3/2016
ĐẠT
CHƯA ĐẠT
Sĩ số
%
Sĩ số
%
13/29
44,8
16/29
55,2
tình huống nguy hiểm với bản thân
+ Trẻ chủ động giải quyết các vấn đề 15/29
trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày,
các hoạt động lễ hội nhằm tự bảo vệ bản
thân.
+ Trẻ mạnh dạn, tự tin nêu các phương án 10/29
giải quyết của mình nhằm tự bảo vệ bản
20/29
68,9
Từ việc khảo sát thực trạng giáo dục này tôi đã chủ động đưa ra một số
biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ 4-5 tuổi
ở lớp tôi phụ trách như sau:
2. Nội dung nghiên cứu
Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân
cho trẻ một cách toàn diện, thông qua các chủ đề trong năm học theo hướng
tích hợp các hoạt động dạy, vui chơi và các hoạt động khác.
Việc giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ theo hướng tích hợp với các hoạt
động dạy, vui chơi và các hoạt động khác là quan điểm hiện đại, không những
phù hợp với tâm lý trẻ mà còn phù hợp với xu hướng giáo dục của thế giới hiện
nay, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục kỹ năng này.
Tôi lựa chọn các nội dung giáo dục kỹ năng bảo vệ gần gũi với trẻ để tích
hợp trong các chủ đề.
DỰ KIẾN CHỦ ĐIỂM NĂM HỌC 2018 – 2019
Lớp : 4 - 5 TUỔI A
STT
1
2
CHỦ ĐIỂM
KỸ NĂNG DẠY TRẺ
biển báo giao thông và nơi nguy hiểm
6
5
Dạy trẻ biết địa chỉ số điện thoại
của bố mẹ, biết các số điện thoại khẩn
cấp và biết gọi người lớn khi gặp các
tình huống xảy ra.
GIA ĐÌNH + BÉ YÊU CHÚ
BỘ ĐỘI
Dạy trẻ nhận diện người lạ
người quen
Dạy trẻ những tình huống nguy
hiểm trong cuộc sống hàng ngày
6
7
Dạy trẻ biết không ăn những
thức ăn có hại cho sức khỏe
TẾT VÀ MÙA XUÂN
THỰC VẬT QUANH BÉ +
Dạy trẻ phải làm gì trong một
NGÀY QTPN 8/3
các kỹ năng cho trẻ trong cuộc sống như: Cách thao tác với những vật nguy
hiểm như dao, kéo, điện…một cách an toàn.
Để thực hiện tốt các nội dụng trên tôi đã:
+ Ra soát toàn bộ chương trình giáo dục mầm non, xem xét nội dung nào
có thể lồng ghép nội dung kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ. Tùy vào những chủ đề theo
7
tuần, tháng, học kỳ mà tôi lựa chọn những kỹ năng sống phù hợp để giáo dục
cho trẻ.
+ Xây dựng mục tiêu của từng nội dung và của kỹ năng tự bảo vệ cần đạt
được về kỹ năng, kiến thức, thái độ
+ Xác định các mức độ cần đạt được dựa vào các tiêu chí và mức độ của
từng kỹ năng
+ Xây dựng kế hoạch bài học theo hướng lồng ghép giáo dục kỹ năng tự
bảo vệ
Như vậy nội dung giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ 4-5 tuổi B được tập
trung vào 3 vấn đề lớn: An toàn ở gia đình, an toàn nơi công cộng và an toàn
giao thông. Đặc biệt trong thời gian gần đây vấn đề xâm hại tình dục đang rất
nóng và nhận được rất nhiều sự quan tâm của các bậc phụ huynh nên tôi đã
mạnh dạn chọn lựa lồng ghép nội dung giáo dục “giáo dục giới tính, tránh xâm
phạm thân thể và các hành vi xâm hại tình dục” dù trong chương trình không
đưa ra.
Ngoài ra tôi đã khảo sát, nghiên cứu cũng như những đề xuất của một số
giáo viên trong tổ, tôi đã thiết kế nội dung khảo sát mức độ nhận thức về việc tự
bảo vệ bản thân của trẻ 4-5 tuổi như sau (phụ luc 2, phụ lục 3):
Nội dung1: Biết và không chơi với một số đồ vật nguy hiểm (dao, đinh,
kim tiêm, ổ điện, chất tẩy rửa, bật lửa, thuốc pháo, phích nước sôi…)
Nội dung 2: Biết không nên chơi ở những nơi nguy hiểm (nhà bếp, nơi bụi
bẩn, có khói thuốc lá, bãi rác, ao hồ song suối…)
Để phát triển kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ thông qua các trò chơi tình
huống tôi chú ý cung cấp cho trẻ những tình huống mà trẻ thường gặp phải trong
cuộc sống liên quan đến kỹ năng tự bảo vệ như: Tình huống trẻ bị lạc mẹ trong
siêu thị, khi đi tham quan, trẻ bị người lạ dụ dỗ, bị người khác tấn công, trẻ bị
lam dụng… dưới nhiều hình thức khác nhau: Tình huống cô xây dựng lên, tình
huống qua các video, qua các câu chuyện, qua các chuyến đi dạ ngoại.
* Tình huống cô xây dựng lên
VD 1: Trẻ bị lạc bố mẹ
Đặt vấn đề: Khi đang đi chơi tại trung tâm thương mại, công viên, hay đi
mua sắm, bé bị lạc bố mẹ.
Cô cho trẻ nêu cách giải quyết khi gặp phải trường hợp như vậy
Cô hướng dẫn trẻ kỹ năng bé cần biết:
+ Nếu vừa bị lạc bố mẹ khi đang mua sắm hoặc vui chơi thì bé hãy đứng
yên một chỗ, nơi mà bố mẹ bé dễ dàng nhìn thấy, không chạy lung tung.
+ Nhờ một người bên cạnh liên lạc vào số di động, điện thoại bàn…Bất kỳ
số nào mà bé có thể nhớ.
+ Nếu bị lạc bố mẹ từ lúc nào mà bé cũng không biết thì bé cần hỏi người
xung quanh và tìm đến các phòng trung tâm của khu thương mại, công viên…để
nhờ họ đọc loa tìm bố mẹ.
+ Khi bé bị lạc trên đường, nếu có thể, hãy tìm đến sự giúp đỡ của một chú
công an và đến đồn cảnh sát để bố mẹ có thể tìm thấy bé.
VD 2: Nếu người lạ cho quà
Đặt vấn đề: Có người lạ đến cho bé ăn kẹo, bánh, uống sữa hay đồ chơi…
Cho trẻ tự giải quyết vấn đề
Cô dạy trẻ kỹ năng bé cần biết:
9
+ Tuyệt đối không được nhận, cầm, ăn.
+ Không tiếp tục đứng gần, nói chuyện hay tiếp xúc với người đó nữa, hãy
+ Khi bị đe dọa trấn lột: Phải báo ngay cho cô giáo và bố mẹ…
+ Cho bé học võ để tự vệ: Ngày nay có rất nhiều các môn phái võ thuật phù
hợp với bé. Việc tham gia vào các lớp võ tự vệ là rất cần thiết vì nó vừa giúp trẻ
tự vệ lại có thể tăng cường sức khỏe cho bé.
10
VD 3: Xảy ra cháy
Đặt vấn đề: Trong nhà xảy ra cháy
Kỹ năng bé cần biết:
+ Việc đầu tiên phải xem là nguyên nhân lửa bốc lên từ đâu. Nếu là một
đám cháy nhỏ hoặc một chiếc chảo nấu ăn bốc cháy thì bé có thể dùng chiếc
khăn nhúng nước rồi úp lên đám cháy đó để dập lửa.
+ Tuyệt đối không được cầm chảo đang sôi mà mang đi nơi khác vì có thể
bỏng tay và trong lúc di chuyển, gió sẽ làm lửa bốc lớn hơn.
+ Nếu đám cháy quá lớn thì bé cần chạy thật xa khu vực có lửa rồi, la lớn
tiếng và sang nhà hàng xóm để nhờ họ gọi đến số cứu hỏa 114.
+ Trong trường hợp bị lửa bén vào quần áo, nhắc trẻ không nên hốt hoảng
bỏ chạy vì khi đó gió sẽ càng làm lửa cháy lớn hơn. Lúc này nếu quần áo dễ cởi
thì bé nên cởi đồ ra rồi ngâm vào nước cho lửa tắt, còn nếu thấy không cởi ngay
được thì nằm xuống sàn nhà lăn người qua lại hoặc lấy vải nhúng nước quấn vào
chỗ cháy để dập lửa.
+ Nếu thấy không thể dập được lửa bé hãy kêu cứu thật to để người khác
lấy nước, lấy chăn mền nhúng nước phủ lên người, dập lửa giúp mình. Cần lưu
ý, tuyệt đối không được cầm bình cứu hỏa phun thẳng vào người khi đó vì hóa
chất chữa cháy có thể gây nhiễm trùng vết bỏng.
* Thông qua các câu chuyện (phụ lục 4)
Xuất phát từ đặc điểm tâm lý của trẻ mầm non là rất thích nghe kể chuyện.
Nội dung các câu chuyện thường để lại ấn tượng cho trẻ khó phai mờ. Chính vì
vậy tôi đã sáng tác một số câu chuyện lồng vào đó các tình huống để giáo dục
xe máy đi học. Sau đó, nhiều bậc phụ huynh đã chia sẻ với cô giáo: Bản thân
phụ huynh cũng ít khi nhớ cho con đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy đến trường,
bởi một phần vướng, một phần công an thường không phạt trường hợp này nên
các phụ huynh cũng hay bỏ qua. Nhưng bây giờ, các con đòi đội mũ bảo hiểm
khi đi học nên phụ huynh mới bắt đầu quan tâm. Như vậy tôi thấy rằng, qua câu
chuyện trẻ đã nhận thức được sự cần thiết của việc đội mũ bảo hiểm khi đi xe.
Biết được nếu không thực hiện tốt thì có thể xảy ra rủi ro như thế nào. Từ đó tạo
cho trẻ ý thức chấp hành luật lệ an toàn giáo thông từ bé.
* Thông qua các hoạt động lễ hội
Hay từ đầu năm nhà trường luôn xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt
động lễ hội trong một năm học, tôi đã dựa vào đó để xây dựng kế hoạch giáo
dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ tại nhóm lớp.
Ví dụ: Ngày 17/3 trường tổ chức cho các cháu đi du lịch champa, tôi đã kết
hợp cho trẻ tự chuẩn bị những đồ dùng để cầm đi du lịch như: quần áo, giày, mũ,
nước uống, ba lô… cho trẻ tự xếp đồ vào ba lô để đi. Trước khi đi mấy ngày tôi
đã lồng ghép đưa ra các tình huống khi bị lạc để trẻ có thể tự sự lý. Tôi kết hợp
ôn lại cho trẻ khi đi chơi.
Ngày 31/3 trường tôi cũng tổ chức “Đêm xa mẹ” cho các cháu lớp mẫu
giáo, kế hoạch này đã được đề ra từ đầu năm nên tôi đã chuẩn bị kỹ lưỡng các
kỹ năng hướng dẫn trẻ như: Kỹ năng tự chăm sóc bản thân khi xa mẹ trong chủ
điểm “Gia đình”; Kỹ năng chuẩn bị đồ dùng cần thiết khi đi chơi, kỹ năng an
toàn khi chơi, không tới gần lửa vì kế hoạch nhà trường đưa ra có tổ chức vui
chơi lửa trại nên trong chủ điểm “Bản thân” tôi đã chú ý lồng ghép.
Tôi gợi ý để khai thác kinh nghiệm sống của trẻ và khuyến khích trẻ tự chia
sẻ, xây dựng những tình huống mà trẻ đã gặp phải hoặc đã quan sát thấy.
Tận dụng những tình huống mà trẻ gặp phải trong thực tế để xây dựng các
hoạt động phù hợp nhằm giáo dục kỹ năng.
12
hành các hành động nhận thức để phân loại các hành vi đúng và sai, nên và
không nên. Từ đó trẻ sẽ có kinh nghiệm thực tế để có thể giải quyết trong tình
huống cụ thể.
Ở lứa tuổi mầm non, trẻ em chơi nhiều hơn là học, những nhiệm vụ trí tuệ
đặt ra cho các em không nhiều nên các trò chơi học tập cần độ khó vừa phải.
Bên cạnh đó, đồ dùng, đồ chơi chuẩn bị cho trò chơi học tập ở lứa tuổi này
cần phải bắt mắt, đẹp để thu hút sự chú ý của trẻ. Khi hướng dẫn trò chơi, giáo
viên phải trực tiếp làm mẫu 2-3 lần thì các em mới có thể nắm bắt được cách
chơi và luật chơi
13
Khi thiết kế trò chơi, giáo viên phải:
+ Dựa vào nội dung bài học, điều kiện và thời gian mỗi giờ học
+ Trò chơi phải mang ý nghĩa giáo dục
+ Trò chơi phải tạo được hứng thú với trẻ
+ Trò chơi phải có mục đích rõ ràng: Nhằm ôn luyện, củng cố kiến thức, kỹ
năng nào hay giới thiệu kiến thức nào.
+ Trò chơi phải có luật
+ Dự trù đồ dùng đồ chơi, số lượng người tham gia chơi và tình huống có
thể xảy ra.
+ Chuẩn bị phần thưởng cho người thắng cuộc, đây là một yếu tố quyết
định sự hứng thú của trẻ đối với trò chơi.
Ví dụ:
- Trò chơi đoán tên đồ vật: Đây là trò giúp trẻ chú ý vào các chi tiết. Bạn
lấy bất kỳ một đồ vật trong nhà, ở cửa hàng, miêu tả về chúng để trẻ đoán tên.
- Trò chơi miêu tả: Bạn cho trẻ nhìn bức tranh về phong cảnh, con người
hoặc đồ vật sau đó hãy nói con nhắm mắt và kể lại những gì chúng nhớ. Ai nhớ
nhiều chi tiết hơn sẽ là người chiến thắng.
- Trò chơi tìm đường: Đây là trò chơi giúp trẻ tìm đường về nhà hay đến
của mình:
Ví dụ: Bắc nồi lên bếp ga đặt đã đúng giữa bếp chưa nếu không sẽ dễ đổ và
xảy ra tai nạn, nấu xong phải nhớ tắt bếp, bắc nồi phải dùng cái lót tay để không
bị bỏng.
Việc tổ chức tốt các hoạt động, đòi hỏi phải có một không gian đa dạng,
mới lạ và bầu không khí thân thiện cởi mở…có như vậy mới kích thích hứng thú
chơi của trẻ và thúc đẩy trẻ rèn luyện kỹ năng theo khả năng của mình.
Để giáo dục và phát triển kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ thì điều quan
trọng nhất là phải luôn tạo cơ hội để trẻ được thực hành, luyện tập các hành vi
thường xuyên, mọi lúc mọi nơi có như vậy trẻ mới hình thành nên các kỹ năng
một cách bền vững.
Biện pháp 3: Nhà trường, giáo viên phối hợp với gia đình và xã hội
trong việc giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ.
Bên cạnh việc dạy trẻ ở trường, tôi cũng chú trọng đến việc trao đổi với
phụ huynh để cùng phối hợp dạy kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ. Tuyên
truyền cho phụ huynh hiểu không nên làm hộ con, phải dạy trẻ tính tự lập từ bé.
Trẻ càng được hướng dẫn sớm về cách tự vệ, nhận biết những mối nguy hiểm từ
xung quanh và cách xử lý thì trẻ sẽ vững vàng vượt qua những thử thách trong
mọi tình huống, điều đó được chứng minh rõ ràng từ thực tế.
Tuyên truyền để các bậc phụ huynh hiểu rằng: Giáo dục kỹ năng sống là
giúp trẻ nâng cao năng lực để tự lựa chọn giữa những giải pháp khác nhau, quyết
định phải xuất phát từ trẻ, nội dung giáo dục phải xuất phát từ chính nhu cầu và
kinh nghiệm của trẻ. Trẻ cần có điều kiện để cọ sát các ý kiến khác nhau, trao
đổi kinh nghiệm, tập tành, thực hành và áp dụng. Chính vì vậy, cách bảo vệ trẻ
tốt nhất chính là dạy trẻ biết cách tự bảo vệ bản thân.
Việc dạy trẻ những kỹ năng đó phải là một quá trình. Nhiều phụ huynh cho
rằng con mình còn quá bé để hiểu được những điều đó cũng như nghĩ rằng trẻ
mẫu giáo vẫn được sống trong sự che chở, bao bọc, bảo vệ tuyệt đối của bố mẹ.
Những trên thực tế, không phải lúc nào cha mẹ cũng ở bên con khi có tình
huống xấu.
- Không nói dài và nói nhiều, không đưa lời giải đáp có sẵn mà hãy đưa câu
hỏi để trẻ tự tìm tòi.
- Không vội vàng phê phán đúng - sai mà kiên trì giúp trẻ biết tranh luận
và có thể đưa ra kết luận của mình.
Giáo dục kỹ năng sống nói chung và kỹ năng tự bảo vệ nói riêng là việc
làm hết sức quan trọng đòi hỏi sự tham gia của cả gia đình, nhà trường và xã
hội. Bởi như Dorothy Holte đã nói “Cây giáo dục chỉ đơm hoa thơm và kết trái
ngọt khi có sự chăm sóc và vun sới của nhà trường, gia đình và xã hội”. Và ông
bà, cha me, thầy cô, anh chị hãy là tấm gương sáng cho các em noi theo. Hãy
gần gũi, chia sẽ, tâm sự, động viên và cùng các em tháo gỡ khó khăn, vướng
mắc trong cuộc sống và tuyệt nhiên không được so sánh hay áp đặt ý nghĩ chủ
quan của bản thân mình vào trẻ.
3. Đánh giá đề tài
3.1 Đối với trẻ
16
Sau thời gian triển khai thực hiện đề tài thực hiện ở lớp đang dạy, kết quả
thu được như sau:
Bảng 2: BẢNG TỔNG HỢP KHẢO SÁT CUỐI NĂM
THÁNG 3/2019 (đã áp dụng)
NỘI DUNG KHẢO SÁT
+ Trẻ nhận biết được những hành động và
tình huống nguy hiểm với bản thân
+ Trẻ chủ động giải quyết các vấn đề
trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày,
các hoạt động lễ hội.
+ Trẻ mạnh dạn, tự tin nêu các phương án
giải quyết của mình nhằm tự bảo vệ bản
thân trong các tình huống.
01/29
3,5
26/29
89,7
03/29
10,3
22/29
75,9
07/29
24,1
BẢNG SO SÁNH SỐ LƯỢNG VÀ TỶ LỆ ĐẠT TRƯỚC TÁC ĐỘNG VÀ
SAU TÁC ĐỘNG
NỘI DUNG KHẢO SÁT
Đầu năm
Cuối năm
+ Trẻ nhận biết được những hành động
96,5
+ Trẻ biết tìm kiếm sự giúp đỡ của 11/29
37,9
26/29
89,7
những người đáng tin cậy nhằm tự bảo
vệ bản thân
+ Trẻ chủ động mạnh dạn xử lý các 9/29
31,1
22/29
75,9
tình huống bất trắc nảy sinh hằng ngày
mà không cần có sự can thiệp của cô
Qua khảo sát đầu năm và cuối năm cho thấy, việc sử dụng các biện pháp
trên đã mang lại hiệu quả cao. Đối với bài tập 01 đã tăng tỉ lệ từ 44,8% lên
93,1% bài tập 02 từ 31% tăng lên đến 86,2%. Bài tập 03 đã tăng từ 34,4% lên
96,5%... Như vậy, trẻ đã tiến bộ rất nhiều về kỹ năng tự bảo vệ bản thân.
Với các biện pháp tác động sư phạm được tổ chức vào các hoạt động học,
hoạt động chơi, tình huống… với mong muốn trẻ không chỉ được cung cấp các
tri thức về kỹ năng tự bảo vệ mà còn tạo cơ hội cho trẻ được thực hành trải
nghiệm. Sau 6 tháng thử nghiệm với trẻ lớp mẫu giáo 4-5 tuổi A, trường MN 8/3
cho thấy, hầu hết mức độ nhận thức các nội dung giáo dục trong kỹ năng tự bảo
vệ của trẻ lớp thực nghiệm, đã có sự tăng lên so với chính những trẻ này trước
thực nghiệm.
Với các phần trăm thu được trước thử nghiệm và sau thử nghiệm cho thấy
trẻ nhận thức được các nội dung về giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cũng như nắm
được tri thức, những cách ứng xử, thái độ tốt so với trước thử nghiệm.
Phụ huynh có sự phối hợp với giáo viên trong việc rèn luyện, củng cố
những kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ. Nhiệt tình ủng hộ cho cô và trẻ mang
thêm đồ dùng, đồ chơi; tranh ảnh, sách báo sưu tầm về các kỹ năng sống, các
nguyên vật liệu mở, cây xanh, con vật, các biển báo … giúp lớp học có thêm
nhiều đồ chơi mới, các góc chơi sinh động, góp phần giúp môi trường lớp học
thêm đa dạng. Phụ huynh dành nhiều thời gian tạo điều kiện để trẻ được vui
chơi, giao lưu, dã ngoại cùng gia đình, bạn bè, người thân… tạo cơ hội để trẻ
được trải nghiệm thể hiện, rèn luyện, củng cố và học hỏi thêm những kỹ năng tự
bảo vệ bản thân phù hợp với cuộc sống xung quanh.
4.Tổ chức thu thập minh chứng
Tham khảo tài liệu, chương trình giáo dục mầm non để nắm vững các vấn
đề lý luận có lien quan đến nội dung nghiên cứu.
Tiến hành thu thập các minh chứng thông qua việc tổ chức các hoạt động
(kế hoạch tổ chức hoạt động, hình ảnh minh họa)
Quan sát các hoạt động của trẻ, đánh giá ưu điểm, hạn chế và đưa ra các
giải pháp phù hợp
Khảo sát, phỏng vấn, thống kê số liệu: trước tác động và sau tác động
III. KẾT LUẬN
Kỹ năng tự bảo vệ là một trong những kỹ năng sống quan trọng của con
người, đặc biệt với trẻ em. Vì thế, tôi cần tạo cơ hội để trẻ được tương tác, được
trải nghiệm, tạo môi trường hoạt động tích cực, sử dụng các tình huống thực tế, sử
dụng các trò chơi học tập hoặc đóng vai, khuyến khích trẻ nhận xét đánh giá bạn và
tự đánh giá bạn thân từ đó giúp trẻ tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau, những
kinh nghiệm trẻ nhận được trong các trò chơi, tình huống là nền tảng trang bị
những kiến thức giữ an toàn và học cách nhận biết, thực hành các hành động đúng
và kịp thời để bảo vệ bản thân trước các tình huống nguy hiểm. Thường xuyên đưa
ra những tình huống mới bằng nhiều cách giải quyết khác nhau, hãy trao đổi với trẻ
về những thông tin mà cô giáo, cha mẹ giải quyết cho trẻ thấy rằng cùng một tình
huống đưa ra cho trẻ có nhiều cách xử lý khác nhau.
Giúp giáo viên xây dựng và đưa ra nội dung giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho
theo hướng phát huy tính tích cực, không ngừng giáo dục cho trẻ về ý thức tự
bảo vệ bản thân.
Tân Lập, ngày 25 tháng 3 năm 2019
Tác giả
Hà Thị Hồng Tuyên
1. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chương trình giáo dục mầm non ban hành kèm theo thông tư số
17/2009/TT- Bộ Giáo dục Đào tạo ngày 25 tháng 7 năm 2009.
2. Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, Nguyễn Ánh Tuyết.
3. Tuyển tập “Những câu chuyện vàng về khả năng tự bảo vệ mình” Nhà
xuất bản Kim Đồng.
20
4. Đề tài nghiên cứu về “Giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam” của Nguyễn
Thanh Bình, Lưu Thu Thủy, Nguyễn Kim Dung, Vũ Thị Sơn năm 2006.
5. Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Diệu Hà năm 2011“Một số biện pháp giáo
dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo thông qua trò chơi đóng vai có chủ đề ở
trường mầm non”
6. “Tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo” của Trần
Nguyễn Nguyên Huân năm 2012, Trường cao đẳng sư phạm trung ương TP Hồ
Chí Minh.
7. “45 cách dạy trẻ tự bảo vệ mình” của Yong Yeo Hong năm 2011, NXB
Thông tin và truyền thông
8. Trang web Mamnon.com
2. PHỤ LỤC
2.1 Bảng khảo sát đánh giá trẻ
Mỗi nội dung (ND) đánh giá có 3 mức độ: Chưa biết, phân vân,
ND 5: Câu 6 và câu 7
- Trẻ trả lời được cả hai câu: Mức biết
- Trẻ trả lời được 1 câu: Mức phân vân
- Trẻ trả lời không được 2 câu: Mức chưa biết
ND 6: Câu 8 và câu 9
- Trẻ trả lời được cả 2 câu: Mức biết
- Trẻ trả lời được 1 câu: Mức phân vân
- Trẻ trả lời không được cả 2 câu: Mức chưa biết
ND 7: Câu 10, 11, 12
- Trẻ trả lời được cả 3 câu: Mức biết
- Trẻ trả lời được 2 câu: Mức phân vân
- Trẻ trả lời không được cả 3 câu: Mức chưa biết
ND 8: Câu 13,14,15
- Trẻ trả lời được cả 3 câu: Mức biết
- Trẻ trả lời được 2 câu: MứC phân vân
- Trẻ trả lời không được cả 3 câu: Mức chưa biết
ND 9: Câu 16 (10 thẻ hình)/
Câu 2: Con hãy quan sát các hình ảnh (ao, hồ, sông, suối, vực, hố sâu, công
trình xây dựng, lưới điện, mương nước, đường quốc lộ, bếp lửa, ban công, thang
cuốn…) sau đây và cho biết những nơi nào con không nên chơi? Vì sao?
………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Câu 3: Con sẽ làm gì nếu ai đó đánh đập con nhiều lần?
………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Câu 4: Con có thể thực hiện vài động tác phòng vệ đơn giản khi bị người
khác tấn công không?
………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Câu 5: Con đã biết tự mình đội và tháo mũ bảo hiểm chưa? Theo con khi
nào thì mình cần phải đội mũ bảo hiểm? Vì sao?
………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Câu 6: Khi trong lớp hoặc ở nhà của con bất ngờ có một đám cháy, con
phải làm gì?
………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Câu 7: Nếu đi siêu thị, chợ, du lịch hoặc nhà sách, công viên, bến xe với ba
mẹ, không may con bị lạc con sẽ làm gì?
………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Câu 8: Con hãy cho biết địa chỉ nhà con? Con chỉ cho những ai biết địa chỉ
nhà mình?
………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Câu 9: Con hãy cho biết số điện thoại của bố hoặc mẹ con? Con sẽ gọi cho
bố mẹ vào những lúc nào?
………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Câu 16: Con có biết các biển báo sau có ý nghĩa gì không? (Một số biển
báo giao thông, biển báo lối thoát hiểm, chỗ nguy hiểm như trụ điện, cột điên,
trạm xăng dầu cấm lửa)
………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Câu 17: Con có biết những hành vi như: Ôm, hôn, sờ mó vào cùng kín của
con mà không phải là mẹ của con thì đó là hành vi gì không? Nếu có người nào
đó làm những hành vi như vậy với con, con sẽ làm gì? Vì sao con làm như vậy?
25