I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Lý do chọn đề tài:
1.1. Lý do khách quan:
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác giáo
dục toàn diện của trẻ.Theo Usinxki “Ngôn ngữ là cơ sở của mọi sự phát triển trí
tuệ và là kho tàng của mọi kiến thức,tất cả mọi sự hiểu biết đều bắt nguồn từ
ngôn ngữ, thông qua ngôn ngữ và trở lại cũng bằng ngôn ngữ.”
Vốn từ là nền móng để phát triển ngôn ngữ, mà ngôn ngữ đóng vai trò quan
trọng trong sự phát triển về trí tuệ của trẻ. Vốn từ được sử dụng trong lời nói
được coi là một phương tiện tác động rất tinh tế trong hệ thống xây dựng môi
trường sư phạm có định hướng, bởi trong ngôn ngữ nói không chỉ có thông tin
mà còn có ý nghĩa tình cảm. Ngôn ngữ nói có thể tạo nên hiện thực tâm lý có
sức mạnh đặc biệt. Trên con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa, một nền giáo dục
xã hội chủ nghĩa cần đào tạo những con người hoàn thiện về mọi mặt. Trong đó
phát triển vốn từ phong phú nhằm phát triển ngôn ngữ mạch lạc sau này cho trẻ
và có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện ở trẻ.
1.2.Lý do chủ quan:
Trẻ từ 2 đến 3 tuổi có số lượng từ tăng rất nhanh đặc biệt là ở trẻ 22 tháng
và trẻ 30 tháng. Ở giai đoạn này, chúng ta cần giúp trẻ phát triển, mở rộng các từ
loại trong vốn từ, biết sử dụng nhiều loại câu bằng cách thường xuyên trò
chuyện với trẻ về những sự vật, sự việc trẻ nhìn thấy trong sinh hoạt hằng ngày.
Nói cho trẻ biết các từ biểu hiện về các đặc điểm, tính chất, công dụng của
chúng. Cho trẻ xem tranh, kể cho trẻ nghe các câu chuyện đơn giản qua tranh.
Đặt một số loại câu hỏi trẻ biết kể chuyện theo tranh bằng ngôn ngữ của trẻ.
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn:
2.1. Cơ sở lý luận:
Trẻ mầm non có nhu cầu rất lớn về mặt nhận thức, trẻ khát khao được tìm
hiểu khám phá thế giới xung quanh mình trong đó ngôn ngữ là công cụ của tư
1
Xuất phát từ những lý do trên mà tôi tiếp tục nghiên cứu đề tài phát triển vốn từ
cho trẻ 24- 36 tháng ở lớp tôi.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp dùng lời
- Phương pháp trực quan
6. Phạm vi đề tài:
Năm học 2014- 2015 tôi đã sử dụng đề tài < Một số biện pháp giúp trẻ phát
triển vốn từ ( 2-3 tuổi)> tại nhóm 4 trường mầm non thị trấn Tầm Vu đến năm
học 2015- 2016 tôi vẫn tiếp tục đề tài này để giúp trẻ đạt hiệu quả cao hơn từ
tháng 9/2015 đến tháng 5/2016.
II. NỘI DUNG CÔNG VIỆC ĐÃ LÀM:
1.Thực trạng đối tượng:
- Chưa tác động, kích thích kịp thời để trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp.
- Vốn từ của trẻ còn rất ít.
- Trình độ nhận thức của trẻ trong một lớp không đồng đều.
- Trí nhớ của trẻ còn hạn chế chính vì vậy mà trẻ chưa biết cách sắp xếp trật
tự các từ trong câu nên khi phát âm trẻ thường bỏ bớt từ, cách diễn đạt lời của
trẻ chưa tốt.
1.1. Kết quả khảo sát:
Vào đầu năm học qua cuộc khảo sát trẻ ở lớp tôi rút ra được kết luận đa số
vốn từ của trẻ chưa nhiều, khả năng vốn từ của trẻ đầu năm như sau:
3
KHẢ NĂNG VỐN TỪ CỦA
TRẺ
Trẻ diễn đạt được ý muốn nói
02/31
6.45
1.2. Nhận xét kết quả:
Qua kết quả khảo sát tôi thấy đa số các cháu chưa tự tin trong giao tiếp, nói
không tròn câu, phát âm chưa rõ vốn từ của trẻ còn ít nên việc giao tiếp với
người lớn và bạn bè còn nhút nhát, các hoạt động nhận biết tập nói chưa đạt hiệu
quả cao.
1.3.Nguyên nhân những hạn chế:
- Do chưa chú ý rèn luyện việc phát âm cho trẻ
- Chưa gây hứng thú trong các hoạt động phát triển ngôn ngữ
- Phụ huynh ít trò chuyện với trẻ
2. Nội dung cần giải quyết:
- Cung cấp mở rộng vốn từ cho trẻ
- Sử dụng đồ chơi, tranh ảnh
- Tổ chức môi trường chơi phù hợp với trò chơi dạy trẻ phát triển vốn từ
- Dùng lời nói mẫu kết hợp cho trẻ nhắc lại
- Sửa lỗi sai cho trẻ trong khi chơi
4
- Lồng ghép nội dung các hoạt động khác vào trò chơi phát triển vốn từ
cho trẻ
- Khen ngợi, khuyến khích, động viên.
Năm học 2015- 2016 tôi đã thêm ba nội dung cần giải quyết như sau:
- Phát triển vốn từ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi
* Cho cháu xem hình ảnh về các loại quả, cô cung cấp từ cho trẻ, quả dễ
trẻ nói còn quả khó cô cung cấp vốn từ cho trẻ : Khế, bưởi, măng cụt, sầu riêng,
thanh long, ổi, thơm, vải, dâu, chùm, buồng, nải, vỏ mỏng, dày, cứng, mềm ,
thơm, không thơm, uống, xay sinh tố, nấu chè, vitamin, cắt, gọt…
* Những từ ngữ về cuộc sống xung quanh trẻ:
+ Gọi tên bố mẹ anh chị em, tên trường mầm non, tên cô giáo, tên các bạn
+ Nhận được tên gọi của các phòng và các nơi quen thuộc.
VD: Chúng ta cùng đi bộ nhé. Đầu tiên chúng ta nhón chân nhẹ nhàng đi
vào góc sách truyện. Chúng ta đang ở góc sách truyện.
Nào, chúng ta nhảy ra khỏi hàng rào nào!
Ôi, cô quên mất chúng ta đang ở đâu rồi
Con có thể chỉ cho cô biết chúng ta đang ở đâu không?
Chơi các trò chơi ngoài trời, dẫn trẻ đi thăm các địa điểm trong sân chơi ở
trường.
+ Làm quen với các đồ dùng trong nhà hàng ngày, gọi tên nơi để các đồ
dùng trong nhà, trường, lớp học
Những từ ngữ về cuộc sống xã hội
+ Cho trẻ làm quen với cuộc sống của đất nước: ngày lễ hội, tết nguyên
đán, tết trung thu…
6
+ Nói được một số từ ngữ về các chú bộ đội, công an, công nhân, nông
dân…
+ Gọi đúng tên và lợi ích của một số phương tiện giao thông phổ biến
Những từ ngữ nói về thế giới tự nhiên
+ Cho trẻ nhận biết và gọi tên một số loại rau, hoa, quả thông thường
+ Nhận biết và gọi đúng tên một số con vật nuôi trong gia đình
+ Dạy cho trẻ nói đúng những từ chỉ hiện tượng tự nhiên
3.2. Sử dụng đồ chơi, tranh ảnh
Biện pháp này giúp cho trẻ tăng khả năng tiếp thu, trẻ có môi trường ngôn
ngữ chuẩn để học, làm tăng vốn từ cho trẻ.Lựa chọn trò chơi phù hợp với mục
đích giáo dục. Lựa chọn thời điểm tiến hành trò chơi: Trẻ ngồi một chỗ chơi hay
trong trò chơi có kết hợp vận động, trò chơi có tiêu hao nhiều năng lượng hay
không….Để từ đó sắp xếp trò chơi trong thời gian biểu một ngày của trẻ phù
hợp với các hoạt động khác. Ngoài ra cần lựa chọn sân chơi, phòng phù hợp với
trò chơi
Ví dụ: Sau một giờ hoạt động tạo hình như trẻ ngồi vẽ, nặn mà còn sắp xếp
trò chơi tĩnh làm cho trẻ ngồi nhiều sẽ nhanh chán và không tập trung vào trò
chơi. Ngoài ra cũng không nên tổ chức trò chơi khi trẻ đã quá mệt với các hoạt
động tiêu hao nhiều năng lượng như các bài tập vận động sẽ làm cho trẻ không
có khả năng tập trung và hứng thú khi chơi.
Chọn nơi chơi thoáng mát, yên tĩnh để trẻ tập trung nghe cô nói trò chơi,
trẻ tập trung chơi hơn và cô dễ dàng nhận ra lỗi về ngôn ngữ của trẻ nhằm sửa
sai và giúp trẻ khắc phục. Cô cần làm mẫu trong quá trình chơi, quan tâm chú ý
nhiều đến trẻ thường hay mắc lỗi về ngôn ngữ. Trò chơi phát triển ngôn ngữ thì
yếu tố hàng đầu là trẻ phải được nói nhiều. Do đó cần tạo điều kiện hay gợi ý,
gợi mở để trẻ được nói nhiều và nhiều trẻ được nói chứ không riêng một vài trẻ
thôi. Biện pháp này đòi hỏi ta cần căn cứ vào đặc điểm của đa số các trẻ trong
lớp về sở thích hay hứng thú để tổ chức trò chơi phù hợp hơn.
8
VD: Khi nói chuyện với trẻ phải tạo cho trẻ hứng thú với các từ. Cố gắng
đọc thật vần, thêm giai điệu, hoặc sử dụng những loại âm sắc khác nhau để trẻ
nhận thấy giống như một trò chơi.
Hãy nhìn con rắn mà cô vừa nặn dây, Lan !
Rắn dài dài, rắn uốn lượn.
Rắn trườn trườn, trườn khắp nơi.
3. 5. Sửa lỗi sai cho trẻ trong khi chơi
Không phải trò chơi phát triển vốn từ nào người giáo viên cũng có thể theo
sát được từng trẻ. Đối với những trò chơi tập trung cả nhóm lớn thì khó phát
hiện để sửa sai cho trẻ. Đối với những trò chơi đòi hỏi cá nhân trẻ phải tự đưa ra
câu trả lời thì mới dễ dàng phát hiện lỗi sai khi sử dụng từ của trẻ. Vì vậy ta cần
tổ chức những trò chơi cho tất cả các cá nhân trẻ đều được nói mà vẫn giúp cho
chúng ta có thể bao quát cả nhóm. Việc sữa lỗi về cách dùng từ trong lúc chơi
cần phải khéo léo, tránh làm cho trẻ bị làm phiền hoặc làm mất hứng thú chơi
của trẻ. Khi phát hiện ra trẻ sử dụng từ sai, ta không nên cắt ngang lời trẻ nói rồi
sửa sai mà ta nên tham gia chơi cùng trẻ và gợi ý để trẻ trả lời đúng từ.
Ví dụ: Trò chơi “Xem ai gọi nhanh”. Khi cô đưa hình con chim mà trẻ lại
nói con gà thì ta nên gợi ý thêm cho trẻ trả lời lại như: con này có khả năng bay
trên bầu trời. Như vậy trẻ sẽ nhận ra lỗi sai và sửa lại mà không cảm thấy xấu hổ
hay tự ti.
Một điều quan trọng trong sửa sai cho trẻ là không bao giờ được nhắc lại
lỗi sai của trẻ. Nhắc lại lỗi sai khiến trẻ dể bị rối loạn, mất phương hướng và trẻ
sẽ không có đủ tự tin để tham gia tiếp tục trò chơi. Cô nên lờ đi những lỗi sai đó,
hướng trẻ và các trẻ còn lại vào việc sử dụng đúng từ. Tránh các câu đại loại
như: Con nói sai rồi, từ đó không đúng” mà giáo viên gợi ý thêm về những gì có
liên quan đến từ đó để trẻ trả lời đúng. Biện pháp này giúp trẻ nhận ra lỗi sai và
tự sửa với sự giúp đỡ của cô mà không ảnh hưởng đến quá trình chơi và tâm lý
của trẻ.
10
3.6. Lồng ghép nội dung các hoạt động khác vào trò chơi phát triển vốn
từ cho trẻ
Trò chơi nào cũng vậy không phải chỉ chơi một lần mà đã thành công được
mà phải cho trẻ chơi nhiều lần cùng một trò chơi. Do đó nội dung trong một trò
Qua các giờ học có chủ đích, tôi đã khai thác lựa chọn tối đa các tình
huống để phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Yêu cầu trẻ nói đủ câu, diễn đạt rõ lời, tự
tin khi nói và khi trả lời cô giáo, giao tiếp với cô và với cha mẹ trẻ.
Ví dụ: Truyện “Cây táo”.
Ngoài việc chuẩn bị hình ảnh trên màn hình ti vi để trẻ quan sát trực tiếp,
tôi thiết lập hệ thống câu hỏi phù hợp, mang tính tích cực và khuyến khích trẻ trả
lời đặc biệt là hướng tới từng cá nhân trẻ
Hỏi trẻ:
Tên câu chuyện là gì?
Trong truyện có những nhân vật nào?
+ Ai đã trồng cây táo?
Bé đã làm gì giúp ông?
Bạn Gà trống đã nói gì với cây?
Khi bạn Bươm bướm gọi trên cây xuất hiện cái gì?
Để cây ra hoa, kết quả các con phải làm gì?
3.7. Khen ngợi, khuyến khích, động viên
Khi trẻ thực hiện đúng thì phải kịp thời khen ngợi trẻ hay cả nhóm (bằng
lời khen, tặng cờ, hoa hay vỗ tay). Đó là cách ghi nhớ tốt nhất đối với trẻ. Đối
với những trẻ thực hiện sai thì cần an ủi, động viên hoặc gợi ý cho trẻ trả lời
đúng sẽ giúp trẻ không rụt rè hay mất hứng trong khi chơi. Biện pháp này được
thực hiện trong suốt quá trình chơi tuy nhiên không nên khen trẻ quá nhiều sẽ
khiến lời khen kém giá trị không còn tác dụng nhiều nữa.
Ngoài các biện pháp nêu trên ta cần thường xuyên cho trẻ tiếp xúc với đồ
vật, đồ chơi, hoa quả , tranh ảnh. Khi cho trẻ tiếp xúc các đồ vật trên cô cần phải
gợi ý cho trẻ nêu tên, đặc điểm nổi bật, cấu tạo đặc trưng của các vật đó. Cô và
12
mẹ cùng những người xung quanh luôn trò chuyện cùng trẻ để hình thành ở trẻ
các từ, các khái niệm, các kí hiệu tượng trưng của sự vật hiện tượng. Ban đầu
Con mặc áo màu gì ? Ai đưa con đến lớp ? Cô giáo nào đón con ? Sáng nay con
ăn gì ?…
Cứ như vậy theo kiểu “Mýa dầm thấm lâu” Trẻ mạnh dạn gần gũi cô.
Ngôn ngữ được cung cấp và củng cố càng ngày càng giúp trẻ mạnh dạn tự tin
trong giao tiếp. Khi chơi nói chuyện với bạn rất cở mở tự tin. Bằng hình thức
này tôi rút ra rằng: Muốn trẻ mạnh dạn tham gia chơi hay giao tiếp cùng bạn bè
thì phải có vốn từ phát triển. Chính vì vậy mà giờ đón trẻ là thời điểm tôi hay trò
chuyện với trẻ để cùng củng cố và phát triển vốn từ cho trẻ.
Thông qua hoạt động vui chơi:
Việc tổ chức cho trẻ vui chơi cùng nhau có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Thông qua hoạt động vui chơi, ngôn ngữ của trẻ dần được hình thành và phát
triển. Trẻ nhận thức được thế giới xung quanh, trao đổi ý đồ chơi, giao lưu tình
cảm trong lúc chơi, phát triển khả năng tư duy và trí tưởng tượng của trẻ. Song
song với ngôn ngữ phát triển chính là sự kéo theo từ phát triển. Vậy tổ chức vui
chơi như thế nào để đạt được hiệu quả đó:
Tôi bắt đầu dạy trẻ quan sát bạn chơi, sau đó từ từ đưa trẻ tham gia vào trò
chơi. Từ đó xuất hiện khả năng chuyển trò chơi từ độc lập sang hợp tác cùng
nhau. Trong quá trình chơi tôi bao quát, giúp đỡ, tạo tình huống cho trẻ trong khi
chơi
Viì duò: Goìc chõi Beì chõi võìi buìp bê:
Trò chơi sáng tạo “Bế em”, tôi nhập vai làm mẹ búp bê cho búp bê bú sữa
bình, cho búp bê ăn, cho búp bê ngủ. Trẻ sẽ bắt chước những từ tôi nói như: Con
của mẹ ngoan quá! Ôi con ăn giỏi quá!…. Ôi em bé khóc rồi, nín đi nào em
đừng khóc nữa! Ôi em búp bê buồn ngủ rồi, Hát ru cho em ngủ thôi!
Cứ như vậy trẻ biết hát ru “à õi”, biết cho em bé ngủ biết nói lời dỗ dành
em bé. Từ đó vốn từ của trẻ cũng được phát triển theo.
14
hay mưa? khí hậu nóng hay lạnh…? Khi tổ chức chơi ngoài trời tôi thường
chuẩn bị đồ dùng chu đáo đầy đủ để giúp trẻ hoạt động và phát triển ngôn ngữ
Ví dụ: Trò chõi “ Cái gì trên bầu trời”
Mục ðích: Giúp trẻ hiểu và nhớ được nhiều từ
b.Tiến hành: Buổi sáng, khi dạo chơi ngoài trời, trò chuyện với trẻ về bầu
trời. Giúp trẻ chú ý đến mặt trời, mây bay hoặc những con chim đang bay…Sưu
tầm tranh về những gì trẻ nhìn thấy trên bầu trời. Treo tranh dưới thấp để trẻ có
thể nhìn và sờ vào các hình. Cô trò chuyện với trẻ về những bức tranh. Sau đó
có thể thêm một hoặc hai bức tranh đồ vật gia đình xem trẻ có nhận biết những
đồ vật nào chúng không nhìn thấy trên bầu trời để kích thích trẻ nói
Thông qua hoạt động chăm sóc vệ sinh:
Tận dụng các tình huống trong sinh hoạt hàng ngày để trò chuyện với trẻ
lứa tuổi này là hình thức tập luyện khả năng nghe nói một cách hiệu quả. Bởi vì
khi nghe và nhìn cô nói, trẻ được giao tiếp với cô, qua đó trẻ có nhu cầu nói
Ví dụ: Giờ ăn cô cho trẻ làm quen với tên gọi của các món ăn, các loại
thực phẩm. Bằng cách nói chuyện về thức ăn mà trẻ đang ăn như : “Con ãn món
gì ? Thức ãn gì ?Có thích thức ãn này không ?Thức ãn ðó có lợi gì cho sức
khoẻ?.
Ví dụ: Khi xúc cơm cho trẻ tôi hỏi: Cô ðang làm gì? (xúc cõm) cho ai?
(cho con)…
Thông qua hoạt động chăm sóc vệ sinh hàng ngày trẻ như gần gũi và cởi
mở với cô hơn, cô đã tạo được mối thân mật để kích thích trẻ trò chuyện nhằm
phát triển vốn từ của trẻ.
3.9. Trang trí lớp học, các góc chơi, làm đồ dùng đồ chơi theo từng chủ
đề nhánh phong phú, bắt mắt, hấp dẫn trẻ:
Tận dụng tất cả những nguyên vật liệu có thể sử dụng làm đồ dùng đồ chơi
như lịch cũ, ống lon, chai nhựa,...cô khuyến khích trẻ cùng làm với cô, vừa làm
vừa trò chuyện, qua đó cung cấp vốn từ thêm cho trẻ.
16
17
Bằng một số kinh nghiệm của mình mà tôi đã áp dụng trong việc phát
triển vốn từ của trẻ lứa tuổi nhà trẻ trong năm học vừa qua và kết quả đạt
đư ợc như sau:
SỐ
KHẢ NĂNG VỐN TỪ CỦA
TRẺ
TRẺ
TỶ
LỆ %
Trẻ nói tròn câu, tròn ý
30/31
96.77
Trẻ diễn đạt được ý muốn nói
29/31
93.54
Trẻ phát âm rõ
khăn để tìm ra phương tiện, điều kiện cần thiết cho sự phát triển toàn diện của
18
các cháu, hơn nữa cô giáo là người gương mẫu để trẻ noi theo. Điều này đã góp
phần bồi dưỡng thế hệ măng non của đất nước, thực hiện mục tiêu của ngành.
Là giáo viên giảng dạy ở lớp nhà trẻ tôi nhận thấy để làm tốt công việc
của mình người giáo viên trước hết phải có lòng thương yêu trẻ, hết lòng về sự
nghiệp trồng người. Trong công việc giúp trẻ phát triển tốt vốn từ cô phải biết
phối hợp nhiều phương pháp như: dùng lời nói, câu hỏi, đồ dùng đồ chơi kích
thích trẻ nói, trả lời… Thông qua các hoạt động thường ngày để giúp trẻ giao
tiếp bằng ngôn ngữ. Qua tình thương yêu của cô đối với trẻ, thái độ âu yếm, lời
nói dịu dàng và thông qua mối quan hệ gần gũi gữa cô và trẻ cũng kích thích trẻ
phát triển ngôn ngữ..
Trên đây chỉ là một số kinh nghiệm nhỏ trong các kinh nghiệm giúp phát
triển vốn từ. Tôi mong rằng qua kinh nghiệm của tôi sẽ phần nào chia sẻ cùng
các bạn đồng nghiệp trong công tác chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ.
Với kết quả trên tôi đã mạnh dạn đưa lên những buổi họp tổ, họp chuyên
môn trường được đánh giá cao và được áp dụng ở trường và một số trường khác
trong huyện đạt hiệu quả ngày càng cao.
Tầm Vu , ngày 15 tháng 05 năm 2016
Người thực hiện
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
19