GIÁO DỤC TÍNH TỰ TIN CHO TRẺ MẪU GIÁO 4 - 5 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI Ở TRƯỜNG MẦM NON LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC - Pdf 12

Lời cảm ơn!
===**===
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Giáo dục Mầm non,
Phòng Sau Đại học, Ban quản lý Kí túc xá, Thư viện trường Đại học Sư phạm
Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên
cứu tại trường.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn
PGS. TS Nguyễn Thị Như Mai đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những
kiến thức bổ ích, dìu dắt em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài này.
Xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, toàn thể giáo viên, các cháu mẫu
giáo 4 - 5 tuổi trường mầm non An Thịnh và trường mầm non Hoa Hồng, Thị
trấn Mậu A, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã giúp tôi hoàn thành luận văn
này.
Chân thành cảm ơn tất cả bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập và nghiên cứu.
Cuối cùng, con xin chân thành cảm ơn gia đình đã luôn ủng hộ, động
viên con trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, ngày tháng… năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thủy
MỤC LỤC

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
ĐC : Đối chứng
ĐCTTN : Đối chứng trước thực nghiệm
ĐCSTN : Đối chứng sau thực nghiệm
ĐHSP : Đại học sư phạm
ĐHQGHN : Đại học quốc gia Hà Nội
ĐTBC : Điểm trung bình chung
HĐVC : Hoạt động vui chơi
GV : Giáo Viên

từ nhỏ, để chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào trường phổ
thông, đúng theo định hướng đổi mới giáo dục mầm non hiện nay. Có rất
nhiều con đường để giáo dục tính tự tin cho trẻ nhưng với ưu thế là hoạt động
chủ đạo của tuổi mẫu giáo, hoạt động vui chơi giữ vai trò quan trọng trong sự
1
hình thành và phát triển tâm lý nhân cách trẻ đồng thời là phương tiện giáo
dục thuận lợi và có hiệu quả để giáo dục tính tự tin cho trẻ.
Thực tiễn giáo dục mầm non hiện nay, việc giáo dục tính tự tin cho trẻ
chưa được quan tâm đầy đủ. Giáo viên chưa thực sự quan tâm tới phẩm chất
này, nhiều giáo viên không chú ý giáo dục tính tự tin cho trẻ mà đôi khi còn
gắt gỏng với trẻ không cho trẻ được tự tin bày tỏ ý kiến, mong muốn của
mình. Giáo viên thường áp đặt trẻ, trẻ không được chủ động trong khi tham
gia trò chơi. Có lúc cô có những hành vi không tế nhị đối với trẻ làm cho trẻ
nhút nhát thiếu tự tin không dám bộc lộ mình, thậm chí có trẻ không đủ can
đảm để tiếp tục vui chơi nữa Như vậy giáo viên đã vô tình làm trẻ nhút nhát,
kém tự tin, từ đó trẻ không thích tham gia vào các trò chơi cũng như các hoạt
động khác. Mong muốn hình thành và phát triển tính tự tin cho trẻ mẫu giáo 4
- 5 tuổi trong hoạt động vui chơi, đề tài “Giáo dục tính tự tin cho trẻ mẫu
giáo 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động vui chơi ở trường mầm non” được
chọn nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn vấn đề giáo dục tính tự tin cho trẻ 4 - 5
tuổi thông qua hoạt động vui chơi ở trường mầm non. Trên cở sở đó đề xuất
các biện pháp nhằm giáo dục tính tự tin cho trẻ thông qua hoạt động vui chơi
ở trường mầm non.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp giáo dục tính tự tin cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi thông qua
hoạt động vui chơi.
3.2. Khách thể nghiên cứu

3
7.2.2. Phương pháp đàm thoại
Trò chuyện, trao đổi với giáo viên mầm non nhằm tìm hiểu nhận thức,
thái độ của họ đối với việc giáo dục tính tự tin cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi
thông qua hoạt động vui chơi ở trường mầm non.
7.2.3. Phương pháp điều tra bằng phiếu anket
Dùng phiếu điều tra ý kiến của giáo viên ở các trường mầm non về sự
hiểu biết về tính tự tin và thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục tính tự tin
cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động vui chơi.
7.2.4. Phương pháp thực nghiệm
Kiểm chứng giả thuyết đặt ra và thử nghiệm các biện pháp đề xuất.
+ Thực nghiệm phát hiện: Dùng để phát hiện mức độ biểu hiện tính tự
tin của trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động vui chơi.
+ Thực nghiệm tác động: Dùng để tác động sư phạm nhằm giáo dục
tính tự tin của trẻ được nghiên cứu.
7.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học
Phương pháp thống kê toán học được sử dụng để xử lí kết quả nghiên
cứu thu được.
8. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm: 3 phần
Phần mở đầu:
Lí do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Giả thuyết khoa học
Nhiệm vụ nghiên cứu
phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phương pháp nghiên cứu
4
Cấu trúc của đề tài

Hành vi tự tin không phải là phát minh của con người mà là một phần vốn có
trong hành vi của loài người.
Trong nghiên cứu của mình “ Tự tin là điều kiện để phát triển nhân
cách”. Nhà tâm lý học Nga T.P.Xkripkina đã cho thấy trong hàng loạt vấn đề
nghiên cứu nhân cách của các nhà tâm lý học nga, vấn đề tự tin rất ít được đề
cập đến. Nghiên cứu sự tự tin là rất quan trọng để hiểu rõ cơ chế hình thành
một nhân cách sáng tạo, chủ động, độc lập.
Nhà tâm lý học duy tâm người Mỹ R.U.Emerson trong tác phẩm
“Niềm tin vào bản thân” đã cho rằng có hai nỗi sợ hai chi phối sự tự tin, nỗi
6
sợ hãi phải đối mặt với ý kiến của đa số (chính vì vậy con người thường có
hành động không chân thực, dối trá) và nỗi sợ phải đối mặt với chính mình.
Đã có các nhà tâm lý học nghiên cứu cảm giác tự tin, nói: “ Nhu cầu
quan trọng nhất của con người là tính tự tin”. Trong khi nghiên cứu về cảm
giác tự tin họ nói: “ Tự tin quá cũng không cần thiết, bởi vì đó không phải là
một đặc điểm tích cực, nó có thể dẫn đến thô bạo. Người có tính tự tin cực
đoan thường rơi vào cảnh “ Không biết làm ra vẻ biết”, rất tự đắc. Hành vi đó
trong giao tiếp xã hội, rất dễ tạo ra xung đột với người khác. Do đó họ cho
rằng “ Một người giàu tính tự tin phải là người chân thành, thẳng thắn, thực
sự cầu thị, vừa cố gắng phát triển sở trường của mình, khiêm tốn mà không tự
ti, tự tin mà không ngông cuồng”. [51]
Bower nói “ Thiếu tự tin là nguyên nhân của mọi thất bại". Ông đã đề
cao vai trò của tự tin trong cuộc sống. Thật vậy, trong thực tế không ít người
cảm thấy số phận của mình long đong lận đận, cứ loay hoay mãi mà vẫn thất
bại trong cuộc sống và trong công việc. Bời vì họ thường hay dựa dẫm vào
người khác, họ không biết mình có những khả năng gì, do đó họ không biết
đánh giá bản thân mình. Người thiếu tự tin vì thế trong chừng mực nào đó
không thành đạt trong cuộc sống. Nhưng trong thực tế không phải ai cũng tìm
hiểu, khám phá nó để củng cố tự tin của mình để sống tích cực hơn. Như vậy,
Bower đã đề cao vai trò tính tự tin đối với quá trình phát triển đời người. Ông

về tự tin của trẻ cho rằng " tạo dựng sự trân trọng chính mình là thành quả lâu
dài, nhưng nền tảng cho sự trân trọng chính mình lại ở thời thiếu niên. Từ
những thành quả ban đầu này khi cha mẹ, thầy cô và bạn bè cho trẻ thấy được
lòng khát vọng của mình bao nhiêu thì trẻ sẽ bắt đầu bước đường tiến tới sự
thành công của mình bấy nhiêu. Cảm giác thành công của bản thân dần dần
8
tăng lên, đủ để cho trẻ cảm nhận những lý do hướng về phía trước. Đó là điều
chúng ta muốn nói đối với người học tự tin. Một đứa học trò đầy tự tin là một
đứa trẻ biết đánh giá cao bản thân, gia đình và những người xung quanh quan
tâm chăm sóc trẻ trong những năm đầu đời cần phát triển".[50]
Tác giả Emmanuelle Rigon khi nghiên cứu về tính tự tin của trẻ đã đề
ra những biện pháp khác nhau giúp trẻ tự tin là: [7]
- Cần phải nhận ra nhu cầu cơ bản ở trẻ.
- Đưa ra nhiều giả thiết, trẻ có thể lựa chọn trong đó một giả thiết thích hợp
nhất. Như thế trẻ sẽ thấy mình có giá trị vì bố mẹ cho mình quyền lựa chọn
- Phát triển khả năng tự chủ, trong đó tạo niềm tin và phát huy năng lực
của trẻ. Cần đề cao những thành công của trẻ, coi đó là bước tiến bộ quan
trọng của trẻ.
- Ảnh hưởng của những người xung quanh, đặc biệt là cô giáo trong
việc giáo dục tính tự tin cho trẻ.
- Vấn đề thành tích, trẻ nhận ra rằng thành công là tiêu chí đánh giá giá
trị của trẻ.
Như vậy, điểm qua vài nét về lịch sử nghiên cứu tính tự tin của các nhà
tâm lý giáo dục học nước ngoài cho thấy: Vấn đề tính tự tin và giáo dục tính
tự tin đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu và đưa ra quan điểm
của mình. những công trình nghiên cứu trên đã phần nào cho thấy vai trò quan
trọng của tính tự tin đối với con người. Do vậy cần phải giáo dục tính tự tin
cho con người nói chung và trẻ em nói riêng.
1.1.2. Những nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, những năm gần đây vấn đề về tính tự tin cũng được các

10
thành không thể, làm cho không thể khó trở thành tuyệt vọng". " Sự tự tin của
con cái không phải là thứ thiên bẩm, mầm nó phải được nuôi dưỡng và bù đắp
trong thực tiễn cuộc sống và trong học tập". [27, tr 141], [28, tr 51, 52]
Trong luận án tiến sĩ Nguyễn Thanh Huyền nêu rõ niềm tin vào bản
thân (tính tự tin). “Trong cơ chế thể hiện của tính tự lực, có sự tham gia của
cảm xúc, sự tự tin. Khi trẻ thiếu lòng tin vào bản thân, trẻ không thể hoạt
động tự lực. Sự thành công tạo cho trẻ cảm giác hạnh phúc, vui sướng tin yêu
bản thân - cội nguồn của sự phát triển tính tự lực. Nếu gặp thất bại nhiều trẻ
dễ chán, mất lòng tin vào bản thân. Khi giao nhiệm vụ cho trẻ hoạt động, giáo
viên phải tạo cho trẻ cảm xúc tích cực về bản thân, làm nền cho quá trình phát
triển trí lực”. [18]
Ngô Thị Hợp và Nguyễn Thị Bích Hạnh trong cuốn "Những kiến thức
ban đầu hình thành kĩ năng sống cho trẻ mầm non" phần dạy trẻ lòng tự tin có
viết: "Ai cũng muốn con mình tự tin khi trưởng thành. Điều này hoàn toàn có
thể giúp trẻ hình thành sự tự tin ngay từ khi còn nhỏ. Các nhà tâm lý học cũng
đã phân loại tự tin ở trẻ để có biện pháp hỗ trợ sau này: Tự tin thân thể, tự tin
trí óc, tự tin cảm xúc và tự tin giao tiếp xã hội" [16, tr 137] tác giả cũng đã
đưa ra các biện pháp để dạy trẻ lòng tự tin.
Như vậy, các nhà tâm lý-giáo dục học ở Việt Nam từ trước đến nay đã
nghiên cứu bản chất, biểu hiện và biện pháp để giúp trẻ tự tin hơn trong cuộc
sống. Họ khẳng định vị trí quan trọng của tính tự tin trong việc hình thành và
phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ. Do đó cần phải có những biện pháp
nhằm giáo dục tính tự tin cho trẻ tuổi mầm non.
1.2. Lý luận về tính tự tin và giáo dục tính tự tin cho trẻ 4 - 5 tuổi
1.2.1. Khái niệm về "Tính tự tin"
Theo đại từ điển Tiếng Việt do Bộ Giáo dục và Đào tạo – Trung tâm
ngôn ngữ văn học Việt Nam – Nguyễn Như Ý chủ biên, tính tự tin được định
nghĩa là: Tin vào bản thân mình: một người tự tin nói một cách tự tin [47]
11

ra rằng, sự tin tưởng tuyệt đối vào chính mình hay vào thế giới là không thể
có. Sự tuyệt đối tin vào chính mình chỉ dẫn đến sự tù hãm, mụ mẫm nhân
cách và cuối cùng là hủy diệt chính mình. Ngược lại, sự tuyệt đối hóa việc
không tin vào bản thân dẫn đến sự chối bỏ tính cá nhân của mình, bởi vì một
người không tin vào chính mình luôn tìm kiếm những điểm tựa bên ngoài chứ
không phải ở bản thân mình, vì vậy họ dễ trở thành phụ thuộc và không tự
thân vận động được, luôn tìm kiếm sự khẳng định giá trị của chính mình từ
bên ngoài và kết quả là họ trở thành đối tượng bị điều kiển bởi những người
khác. Họ đánh mất thế chủ động sáng tạo của mình, nếu không có niềm tin
vào chính mình con người không thể có cá tính sáng tạo bởi con người sẽ
không hình thành được mối quan hệ giá trị với chính mình. Sự tự tin còn được
coi như khả năng của con người đi ra khỏi “ giới hạn của bản thân”.
Tác giả Kiều tố Uyên cho rằng: Tự tin là hoàn toàn tin tưởng vào bản
thân, là nhận thức và nắm rõ được bản thân mình, chứ không có nghĩa là tin
tưởng bản thân một cách mù quáng. Muốn rèn luyện sự tự tin, trước tiên bạn
phải tin vào bản thân mình (vì nếu ngay cả bạn cũng không tin vào chính
mình thì làm sao người khác có thể giúp được bạn ) [53]
Trong luận văn thạc sĩ Phạm Thị Huyên với đề tài “Một số biện pháp
phát huy tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động góc" có
viết: " Tự tin là sự kết tinh những hiểu biết và tình cảm của bản thân đối với
mình và ý chí của mình, là sự tin tưởng vào năng lực của mình khi hành động.
Niềm tin tạo cho trẻ nghị lực, ý chí để hành động phù hợp với quan điểm của
bản thân, tạo cho trẻ tính kiên định khi hành động, giúp trẻ có nhu cầu trạng
thái hành động dựa trên năng lực của bản thân, tin tưởng yêu quý, trân trọng
13
mình. Sự tự tin quyết định tính nguyên tắc và tính kiên định trong suốt quá
trình lao động. Tự tin thể hiện ở yêu cầu cao đối với bản thân trong quá trình
hành động". [17, tr 15,16]
Như vậy, thuật ngữ " tự tin" được các tác giả sử dụng không hoàn toàn
giống nhau, song nội hàm khái niệm "tự tin" thì khá thống nhất. Tự tin là tin

bản thân. Người xung quanh dễ nhận ra họ, luôn yêu mến con người họ vì lẽ
lối sống và cách đối xử luôn được chính họ nuôi dưỡng.
• Biết rõ khả năng của bản thân
Người tự tin luôn biết mình có thể làm được gì, họ không phải lúc nào
cũng nhìn lại những cảm xúc, những suy nghĩ và những hành vi của mình hay
luôn cố tìm hiểu người khác xem họ đánh giá mình như thế nào.
• Luôn biết những mục tiêu cụ thể
Người tự tin luôn có những mục tiêu cụ thể cho việc mình làm. Họ
thấy rõ được lý do tại sao lại hành động như vậy. Họ như nhìn thấy được kết
quả mà họ hằng mong đợi. Có thói quen đặt cho bản thân những mục tiêu
hợp với khả năng của mình. Không phải luôn dựa vào người khác để buộc
bản thân mình phải làm việc, học hành.
• Tư tưởng lạc quan
Sống gần người tự tin thật là thú vị, một trong những ly do như vậy là
họ luôn có những thói quen nhìn cuộc đời rất lạc quan, họ sẽ luôn tìm kiếm,
hy vọng vào những điều tốt đẹp và những kết quả tốt đẹp đến với họ. Khi có
được sức mạnh này sẽ có vài biểu hiện như sau:
-Khi trưởng thành hy vọng cuộc đời sẽ tốt đẹp
- Luôn nhìn thấy điều tốt ở người khác, trừ một vài trường hợp cá biệt.
- Luôn tin rằng hầu hết mọi rắc rối đều có cách giải quyết.
15
- Không phí thời gian vô ích để lo lắng đến những hậu quả xấu có khả
năng xảy ra
- Luôn tin rằng tương lai bao giờ cũng tốt hơn hoặc bằng quá khứ.
- Luôn hăng hái nỗ lực làm việc để vượt qua những nỗi thất vọng khi bị
thay đổi thích thú, hóa hức với những chuyển biến tốt đẹp.
- Sẵn sàng bỏ thời gian công sức vào việc học và vào việc thực hiện những
công tác chuẩn bị cần thiết vì tin rằng thế nào rồi cũng đạt được mục đích.
 Tự tin thể hiện ra bên ngoài:
Để mọi người xung quanh nhận thấy cá tính tự tin, cần phát triển các kỹ

do sợ thất bại và để tránh rủi ro.
Thừa nhận và học hỏi từ sai lầm Làm việc chăm chỉ để che đậy những sai lầm
và hy vọng rằng bạn có thể sửa chữa chúng
trước khi bị ai đó phát hiện.
Chấp nhận lời khen một cách
lịch thiệp.
Né tránh lời khen một cách không câu nệ.
Như vậy, sự thiếu tự tin vào bản thân sẽ “hủy hoại” chính bản thân bạn
và thường có những biểu hiện tiêu cực. Người tự tin nói chung là tích cực hơn
– họ tin vào bản thân và khả năng của họ. Họ cũng tin vào cuộc sống một
cách toàn diện.
1.2.2.2. Những biểu hiện của tính tự tin ở trẻ 4 - 5 tuổi
Theo Gael Lindefield ở trẻ tính tự tin biểu hiện khá rõ ràng: [8]
 Sự tự tin bên trong: Đứa trẻ tự tin sẽ có những biểu hiện chính như sau:
- Xem việc mình đòi hỏi người khác thực hiện những nhu cầu cho bản
thân mình là chuyện đương nhiên.
17
- Luôn tỏ ra cho mọi người thấy mình thích được tán dương, thích được
khen thưởng và không cần tìm cách sai bảo người khác làm điều đó một cách
gián tiếp.
- Biết rõ những điểm mạnh của bản thân và do đó dễ dàng phát huy
những khả năng tiềm ẩn của mình.
- Biết tìm những người bạn phù hợp, biết lắng nghe ý kiến của người
khác, sẵn sàng và háo hức đón nhận những lời đóng góp, dậy bảo của người lớn.
- Được tiếp thêm sức lực thêm niềm hứng thú khi bản thân được người
khác khích lệ động viên.
- Học cách tự đánh giá bản thân và đánh giá bạn
 Sự tự tin bên ngoài sẽ có những biểu hiện chính như sau:
- Trò chuyện được với mọi lứa tuổi và mọi thành phần
- Sử dụng hiệu quả những cử chỉ sao cho ăn khớp với lời nói.

- Đánh giá cao về bản thân.
- Hiểu rõ bản thân.
- Có mục tiêu rõ ràng trong hoạt động và dễ dàng lựa chọn mục đích
của hoạt động.
- Hành động dứt khoát, quyết đoán
- Sống lạc quan yêu đời.
Tác giả còn cho rằng để mọi người xung quanh nhận rõ cá tính tự tin
của mình cần phát triển các kĩ năng:
- Kỹ năng giao tiếp
- Kỹ năng tự ra quyết định
- Kỹ năng trình diện trước bạn bè
- Kỹ năng kiểm soát những xúc cảm.
19
Tác giả Hữu Khánh trong cuốn "37 phương pháp đơn giản giáo dục
tính tự tin cho trẻ" [ 20] trong đó ông đưa ra rất nhiều biểu hiện tính tự tin của
trẻ 4 - 5 tuổi:
- Tự khẳng định mình trong việc chơi, việc học và tự lập trong sinh
hoạt hàng ngày.
- Dám bảo vệ quan điểm của mình ngay cả khi nói chuyện với người lớn.
- Thể hiện rõ rệt sự dũng cảm và bình tĩnh khi gặp khó khăn nguy hiểm
hay khi va vấp thất bại.
- Dễ kết thân với bạn bè, có quan hệ bạn bè rộng rãi và biết chọn bạn
mà chơi.
- Làm việc gì cũng kiên trì làm cho đến cùng.
- Không hùa vào ý kiến của đa số, khi chúng cho rằng ý kiến đó không đúng.
- Thường độc lập ý kiến, xong biết phục thiện khi biết rằng ý kiến đó là
không đúng.
- Đứa trẻ tự tin là đứa trẻ biết điều gì làm được, nên làm và điều gì
không nên, không được làm.
Theo kết quả nghiên cứu bài tập nghiên cứu khoa học của sinh viên

trình khung, có kế thừa những ưu việt của các chương trình chăm sóc giáo
dục trẻ trước đây, được phát triển trên các quan điểm đảm bảo đáp ứng sự đa
dạng của các vùng miền, các đối tượng trẻ, hướng đến sự phát triển toàn diện
và tạo cơ hội cho trẻ được phát triển. Trong đó, mục tiêu giáo dục mầm non
là: “ Giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành
những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một, hình thành
và phát triển ở trẻ những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang
tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và
21
phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp
học tiếp theo và cho việc học tập xuất đời. (số 17/2009/TT- BGDĐT. Ngày 25
tháng 7 năm 2009)
Trong cuốn "Chương trình giáo dục mầm non" do Bộ giáo dục và tào
tạo ban hành (2009), trong phần mục tiêu cụ thể tuổi mẫu giáo được đề ra ở 5
lĩnh vực. Riêng lĩnh vực phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội có đề cập đến
việc phát triển một số phẩm chất cá nhân: Mạnh dạn, tự tin, tự lực. với mục
tiêu cụ thể trong lĩnh vực này thì kết quả mong đợi thể hiện sự tự tin, tự lực ở
trẻ mẫu giáo [2, tr 68]:
- Trẻ 3 - 4 tuổi là: Mạnh dạn tham gia vào các hoạt động, mạnh dạn khi
trả lời câu hỏi. Cố gắng thực hiện công việc đơn giản được giao.
- Trẻ 4 - 5 tuổi là: Tự chọn đồ chơi, trò chơi theo ý thích. Cố gắng
hoàn thành công việc được giao (trực nhật, dọn đồ chơi).
- Trẻ 5 - 6 tuổi là: Tự làm một số việc đơn giản hàng ngày. Cố gắng tự
hoàn thành công việc được giao.
Nhiệm vụ của giáo viên là: Tạo cơ hội thuận lợi cho sự tự tin của trẻ
bằng cách cung cấp môi trường cho phép sự lựa chọn các hoạt động do trẻ
khởi xướng và thực hiện.
Nhìn chung, chương trình giáo dục mầm non và các tài liệu về giáo dục
trẻ hầu hết chỉ hướng dẫn chung chung chưa có yêu cầu và hướng dẫn cụ thể
về nội dung giáo dục tính tự tin cho trẻ. Căn cứ vào mục tiêu giáo dục mầm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status