SKKN sáng kiến kinh nghiệm mầm non thực trạng hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi ở trường mầm non đồng sơn, thành phố đồng hới, tỉnh quảng bình - Pdf 40

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giao tiếp là nhu cầu cơ bản trong đời sống tinh thần của con người. Nhờ giao
tiếp, mỗi người gia nhập vào các mối quan hệ xã hội , tổng hoà các quan hệ
xã hội tạo thành bản chất con người, lĩnh hội nền văn hoá xã hội tạo thành
tâm lí, ý thức, nhân cách. Dân gian có câu: Đi một ngày đàng, học một sàng
khôn. Càng tích cực tham gia vào các mối quan hệ xã hội, quan hệ giao tiếp
phong phú bao nhiêu con người càng tiếp thu được những giá trị vật chất, tinh
thần to lớn bấy nhiêu.
Đối với trẻ em, giao tiếp có vai trò quan trọng giúp trẻ có thêm những
kiến thức về thế giới xung quanh, phong tục, tập quán, văn hoá của dân tộc.
Từ đó trẻ sẽ áp dụng vào cuộc sống một cách có hiệu quả, phù hợp với các
chuẩn mực xã hội. Có rất nhiều con đường rèn luyện, hình thành và phát triển
kỹ năng giao tiếp cho trẻ nhưng con đường gần nhất đó là thông qua hoạt
động vui chơi. Có thể nói trò chơi và tuổi thơ chính là hai người bạn thân thiết
không thể tách rời nhau được. Chơi là hoạt động tự nhiên trong cuộc sống của
mỗi người, nó là một thiên tính của tuổi thơ nên nó đặc biệt quan trọng đối
với sự phát triển của trẻ em. Không chơi trẻ chỉ tồn tại chứ không phải là đang
sống, không chơi trẻ không thể phát triển.. Nhà văn hào lỗi lạc người Nga
Maxim Gorki đã từng nói: “Trò chơi là con đường dẫn trẻ em đến chỗ nhận
thức được cái thế giới mà ở trong đó các em đang sống, cái thế giới mà các
em có sứ mệnh phải cải tạo”.
Trò chơi giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp, hình thành nhân cách, trí lực để
trẻ hòa nhập vào cuộc sống với mọi người xung quanh.Thông qua trò chơi
giúp trẻ phát triển các giác quan, hoàn thiện chức năng tâm sinh lý hình thành
nhân cách.
Thực tiễn hiện nay, việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi
vẫn còn nhiều hạn chế; giáo viên chưa có nhiều biện pháp giáo dục phù hợp,
các hình thức tổ chức chưa thực sự phong phú. Mặt khác, hiện nay chưa có
1


tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi ở Trường Mầm non Đồng Sơn, thành phố Đồng Hới,
2


tỉnh Quảng Bình. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành kỹ năng
giao tiếp cho trẻ.
- Đề xuất một số biện pháp tác động góp phần hình thành kỹ năng giao
tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Xây dựng hệ thống khái niệm làm cơ sở lý luận cho đề tài, bao gồm
phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa và khái quát hóa vấn
đề lý luận về việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến
Khảo sát, đánh giá nhận thức của giáo viên về thực trạng hình thành kỹ
năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động vui chơi ở trường mầm non.
Những yếu tố ảnh hưởng và các biện pháp mà giáo viên đã sử dụng để hình
thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi.
6.2.2. Phương pháp quan sát
Trực tiếp quan sát các hoạt động của trẻ và giáo viên tại địa bàn khảo
sát. Sử dụng phiếu quan sát để thu thập những thông tin phục vụ mục đích
nghiên cứu của đề tài.
6.2.3. Phương pháp đàm thoại
Trực tiếp trao đổi với giáo viên và trẻ nhằm chính xác hóa những thông
tin thu được từ các phương pháp nghiên cứu khác.
6.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Nhằm thu thập ý kiến đóng góp của các nhà chuyên môn có kinh nghiệm
trong lĩnh vực nghiên cứu.
6.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học

4


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CỦA TRẺ MẪU GIÁO THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Ở nước ngoài
Từ lâu, vấn đề giao tiếp được các nhà triết học, tâm lý học, xã hội học
quan tâm.
Giữa thế kỉ XIX, trong bản thảo Kinh tế - Triết học 1884, Các Mác
(1818 - 1883) khi bàn về nhu cầu xã hội giữa người với người trong hoạt động
xã hội và tiêu dùng, xã hội loài người phải giao tiếp thực sự với nhau. Các
Mác viết: "Cảm giác và sự hưởng thụ của những người khác cũng trở thành
sở hữu của bản thân tôi. Cho nên ngoài vũ khí quan trực tiếp ấy hình thành
những khí quan xã hội, dưới hình thức xã hội. Chẳng hạn như giao tiếp với
người khác đã trở thành khí quan biểu hiện sinh hoạt của tôi và một trong
những phương thức chiếm hữu sinh hoạt của con người. Hơn thế nữa thông
qua giao tiếp với người khác mà có thái độ với chính bản thân mình, mỗi
người tự soi mình". Mác chỉ ra rằng, trong sản xuất vật chất và tái xuất con
người, buộc con người phải giao tiếp trực tiếp với nhau. Con người chỉ trở
thành người khi có những quan hệ hiện thực với những người khác, và giao
tiếp trực tiếp với những người khác.
Đến thế kỉ XX, Gmít (1863-1931) đã đưa ra thuyết qua lại tượng trưng,
ông khẳng định vai trò của giao tiếp đối với sự tồn tại của con người, hay như
ta thường nói, con người chỉ tồn tại trong xã hội là người trong cộng đồng
người.
Những công trình nghiên cứu về giao tiếp của trẻ như: M.I. Lixina với
“Nguồn gốc của những hình thức giao tiếp của trẻ em”, A.V. Daparogiet và M.I.
Lixina nghiên cứu “Sự phát triển giao tiếp của trẻ mẫu giáo”, A.Ruskaia với

Giao tiếp là hoạt động xác lập, vận hành quan hệ giữa người với người
để hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa người với nhau (TS. Phạm Minh
Hạc, 1998).
6


Theo từ điển tiếng việt, giao tiếp là trao đổi, tiếp xúc với nhau. Ngôn
ngữ là công cụ giao tiếp.
Nhưng chúng tôi đồng tình với quan điểm theo Tâm lý học : giao tiếp
là sự tiếp xúc tâm lí giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với
nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau và ảnh hưởng tác động qua
lại lẫn nhau. Hay nói khác đi giao tiếp là sự xác lập và vận hành các quan hệ
người - người, hiện thực hoá các quan hệ xã hội giữa chủ thể này và chủ thể
khác.
1.2.2. Vai trò giao tiếp đối với quá trình phát triển tâm lý của trẻ
Nhờ có giao tiếp mà trẻ tham gia vào các mối quan hệ xã hội, tiếp thu
những kinh nghiệm xã hội – lịch sử chuyển thành những kinh ngiệm của bản
thân.
Thông qua giao tiếp trẻ đối chiếu, so sánh hành vi, thái độ của mình, từ
đó có phương pháp điều chỉnh phù hợp.
1.2.3. Kỹ năng giao tiếp
1.2.3.1. Khái niệm kỹ năng giao tiếp
Có nhiều trường phái định nghĩa khác nhau về kỹ năng giao tiếp, trong
đó Tâm lý học định nghĩa: Kỹ năng giao tiếp là khả năng nhận thức nhanh
chóng những biểu hiện bên ngoài và những biểu hiện tâm lý bên trong của đối
tượng và bản thân của chủ thể giao tiếp, là khả năng sử dụng hợp lý các
phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức, điều chỉnh quá
trình giao tiếp nhằm đạt mục đích giao tiếp.
Kỹ năng giao tiếp của cá nhân với đối tượng giao tiếp là sự thể hiện các
thao tác, cử chỉ, điệu bộ, hành vi, thông qua ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ.

1.2.3.3. Kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo
* Khái niệm kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo
Kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo là khả năng trẻ sử dụng các phương
tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ (ánh mắt, nụ cười...) là sự thể hiện các thao
tác, cử chỉ, điệu bộ, hành vi, thông qua ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ.
* Con đường hình thành kỹ năng giao tiếp

8


Theo tâm lý học hoạt động, tâm lý người có bản chất là hoạt động. Nói
cách khác, tâm lý, ý thức (trong đó có kỹ năng) được nảy sinh, hình thành và
phát triển trong quá trình chủ thể tiến hành hoạt động. Vì vậy, quan niệm về
kỹ năng giao tiếp phải coi chúng như là “các đặc điểm của hành động” và có
quan hệ với hành động, hoạt động của con người.
Khi xem xét giao tiếp dưới dạng hoạt động giao tiếp thì việc hình thành
kỹ năng giao tiếp sẽ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: đặc điểm khí chất
với chức năng của hệ thần kinh não bộ; sự hoạt động tích cực của cá nhân và
môi trường, trong đó môi trường nhà trường có vai trò kích thích sự hứng thú
sinh viên tích cực tham gia các hình thức hoạt động khác nhau nhằm phát huy
và hình thành kỹ năng giao tiếp. Những yếu tố này tác động qua lại đến việc
hình thành kỹ năng giao tiếp tốt hơn.
Để có kỹ năng giao tiếp thì chủ thể phải có những hành động giao tiếp.
Trong quá trình hành động, chủ thể tham gia các quá trình giao tiếp, các mối
quan hệ, thực hiện những hành động nhằm giải quyết các vấn đề của mình.
1.2.4. Đặc điểm tâm lý của trẻ 5 – 6 tuổi
1.2.4.1. Hoạt động nhận thức
Do sự tăng trưởng đáng kể về thể chất, sự phong phú về đời sống xã hội
cũng như hoạt động, trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) đã đạt được mức độ phát triển
phong phú về nhiều mặt của các chức năng tâm lý như: cảm giác, tri giác, tư

triển do trẻ đã xác định đối tượng cần chú ý, biết đặt ra mục đích cho sự chú ý
của mình, biết hướng ý thức của mình vào đối tượng để phục vụ cho mục đích
của hoạt động. Khả năng phân phối, sức tập trung, sự di chuyển… của chú ý
đều tăng lên đặc biệt là đối với những đối tượng hấp dẫn, sinh động.
* Trí nhớ
Đặc trưng trí nhớ của trẻ mẫu giáo là tính trực quan, máy móc và không
chủ định. Tuy nhiên, vào cuối tuổi mẫu giáo, trí nhớ của trẻ có một bước biến
đổi về chất đó là trí nhớ có chủ định xuất hiện và phát triển. Ngôn ngữ đóng vai
trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển trí nhớ chủ định của trẻ 5 – 6 tuổi, nhờ
đó mà trẻ nắm được tên và hiểu được ý nghĩa của sự vật, hiện tượng cần nhớ,
mục đích và tìm phương tiện giúp ghi nhớ và nhớ lại những điều cần nhớ.
10


* Ngôn ngữ
Ở giai đoạn lứa tuổi này sự phát triển ngôn ngữ diễn ra với tốc độ
nhanh cả về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ điệu, vốn từ, cấu trúc ngữ pháp… Hầu
hết, trẻ đã biết sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hằng ngày để
giao tiếp. Khả năng ngôn ngữ của trẻ liên quan chặt chẽ với sự phát triển trí
tuệ và những trải nghiệm của trẻ. Vốn từ của trẻ phong phú, ngôn ngữ mạch
lạc là phương tiện làm cho tư duy của trẻ phát triển lên một bước mới, đó là
sự nảy sinh các yếu tố của tư duy lôgic, nhờ đó mà toàn bộ sự phát triển tâm
lý nói chung và tư duy của trẻ nói riêng được nâng lên một trình độ mới cao
hơn.
Tuy nhiên, khả năng ngôn ngữ của từng cá nhân ở độ tuổi này vẫn còn
có sự khác biệt lớn về mức độ phong phú của từ, về cách diễn đạt lệch lạc, nói
đúng ngữ pháp và thể hiện lời nói đúng với hoàn cảnh giao tiếp. Vì vậy cô
giáo cần chú ý cung cấp vốn từ và tích cực hóa vốn từ cho trẻ.
* Ý chí
Do có khả năng làm chủ được nhiều hành vi và được người lớn giao

tuổi tác, địa vị xã hội, kinh tế (thiết lập quan hệ giao tiếp rất hồn nhiên, vô tư
không để ý đến xuất thân của đối tượng giao tiếp)
Trẻ chủ động trong giao tiếp, chủ động gợi chuyện, đặt ra các câu hỏi,
tích cực tham gia vào đàm thoại.
Trẻ có mong muốn hiểu biết về người lớn, muốn chia sẻ cảm thông với
người lớn (đặt ra các câu hỏi về hoạt động và mối quan hệ của người lớn, thay
đổi ý kiến để mong nhận được sự hài lòng của người lớn) sẵn sàng giúp đỡ
người lớn và bạn khi được đề nghị hoặc chủ động đề nghị để được giúp đỡ.
Trẻ cố gắng cư xử tốt với người, biết nhường nhịn lẫn nhau (cố gắng
không tranh giành đồ chơi, nhường nhịn khi tranh luận), có lòng vị tha, độ
lượng với bạn (sẵn sàng tha thứ cho bạn khi bạn đã biết nhận lỗi)…
Khi có lỗi, trẻ biết thật thà nhận lỗi; không nói dối, biết giữ lời hứa
với người lớn và bạn.
Mặc dù có những hạn chế của độ tuổi nhưng các kỹ năng giao tiếp đã
được hình thành ở trẻ. Điều này thể hiện như sau:
12


- Kỹ năng cư xử lịch sự trong giao tiếp được thể hiện qua cách sử dụng
các phương tiện giao tiếp ở trẻ: Biết nói câu đầy đủ, nói theo mô hình câu
thông dụng kiểu “Chủ ngữ - Vị ngữ - Bổ ngữ”; biết sử dụng một số danh từ
chỉ quan hệ theo tuổi tác để xưng hô: Mẹ - con, bà – cháu, anh – em, cô –
cháu, tôi – bạn; biết sử dụng một số từ lễ độ trong giao tiếp: “cảm ơn”, “xin
lỗi”, “xin phép”, “thưa”, “vâng”, “ạ”…; biết phát âm đúng, rõ ràng nhưng
cách phát âm chưa thật ổn định và chính xác, nhất là khi sử dụng các nguyên
âm đôi, các thành điệu “ngã”, “sắc”; bước đầu biết sử dụng các kiểu ngữ điệu
(tường thuật, nghi vấn, cảm thán) để diễn đạt mục đích giao tiếp; để sử dụng
các cử chỉ điệu bộ và tư thế để thể hiện, mục đích, nội dung giao tiếp.
- Kỹ năng cư xử khéo léo: Để ý đến các quy tắc giao tiếp xã hội: biết
khởi đầu, đón nhận, kết thúc giao tiếp, biết tính chất lần lượt trong giao tiếp;

Do đó, hoạt động này mang tính tượng trưng, khi chơi trẻ có thể dùng các vật
thay thế để tượng trưng cho người thật, việc thật.
Hoạt động vui chơi của trẻ mang tính tự do. Tính tự do trong hoạt động
vui chơi của trẻ em thể hiện ở tính tự nguyện khi tham gia vào trò chơi, hành
động chơi của trẻ hoàn toàn xuất phát từ hứng thú cá nhân, chứ không do một
sự áp đặt nào từ phía bên ngoài.
Hoạt động vui chơi của trẻ em là một hoạt động độc lập và tự điều
khiển. Chơi là một hoạt động độc lập và tự chủ đầu tiên của trẻ em. Trong khi
chơi, trẻ cố làm lấy mọi việc (tự chọn đồ chơi, đồ chơi, bạn chơi), cố gắng suy
nghĩ để khắc phục trở ngại xuất hiện trong quá trình chơi.
Hoạt động vui chơi của trẻ mang màu sắc xúc cảm chân thực mạnh mẽ.
Trò chơi tác động mạnh mẽ và toàn diện đến trẻ em chính là vì nó thâm nhập
một cách dễ dàng hơn cả vào thế giới tình cảm, mà tình cảm đối với trẻ em lại
là động cơ thúc đẩy hành động mạnh mẽ nhất.
1.3.3. Các loại trò chơi của trẻ mẫu giáo
Ở nước ta, trong những năm 60, trò chơi của trẻ mẫu giáo được phân
thành hai nhóm:
+ Nhóm 1: Trò chơi phản ánh sinh hoạt.
+ Nhóm 2: Trò chơi vận động
14


Trong những năm 70, sự phân loại trò chơi của trẻ mẫu giáo chưa được
thống nhất. Các nhà giáo dục được học và tiếp cận với qua điểm phân loại của
nước nào thì đứng về quan điểm phân loại của nước đó.
Từ những năm 80 trở lại đây, trong các trường mầm non ở nước ta vận
dụng cách phân loại trò chơi theo quan điểm Liên Xô (cũ). Theo quan điểm
này, trò chơi của trẻ mẫu giáo được phân thành hai nhóm chính:
+ Nhóm 1: Nhóm trò chơi sáng tạo bao gồm:
Trò chơi đóng vai theo chủ đề

* Trò chơi đóng kịch: Trẻ em đóng kịch dựa trên một tác phẩm văn học
nào đó.
Qua đóng kịch các em sẽ có cơ hội:
+ Phát triển ngôn ngữ hình tượng.
+ Phát triển óc thẩm mĩ.
+ Thể nghiệm được những thái độ, hành vi đẹp một cách sâu sắc qua
nhập vai thành công.
* Trò chơi vận động:
Trò chơi vận động đôi khi còn được gọi là trò chơi thể thao vận động.
Trong trò chơi vận động, trẻ em bắt chước sự vận động của người lớn, của
tàu, xe… tiến hành chạy, nhảy…
Trò chơi vận động nếu được tổ chức một cách khoa học thì giúp cho các
em:
+ Phát triển thể lực.
+ Rèn luyện ý chí, tính kiên trì, nhẫn nại, tính quả quyết.
+ Tinh thần đồng đội.
* Trò chơi học tập. Trò chơi học tập là một trong những phương tiện
giáo dục trí tuệ cho trẻ em. Nó giúp cho trẻ:
+ Phát triển những kĩ năng về thị giác, thính giác, xúc giác…
+ Chính xác hóa những hiểu biết về các sự vật, hiện tượng xung quanh.
+ Phát triển trí thông minh, sự nhanh trí, ngôn ngữ…
1.3.4. Ý nghĩa hoạt động vui chơi đối với sự phát triển của trẻ
1.3.4.1. Chơi là phương tiện giáo dục toàn diện cho trẻ em
16


* Chơi là phương tiện giáo dục phát triển trí tuệ cho trẻ em
Chơi là phương tiện mở rộng, củng cố chính xác hóa những biểu tượng,
phản ánh của trẻ về cuộc sống xung quanh. Tất cả những điều trẻ lĩnh hội
được trước lúc chơi dưới nhiều hình thức hoạt động khác nhau sẽ được chính

trẻ trải nghiệm được những thái độ, tình cảm đạo đức và tập được hành vi ứng xử
với người xung quanh bằng cách nhập vai của mình, qua đó trẻ học làm người.
Cũng trong hoạt động vui chơi, đặc biệt là thông qua trò chơi đóng vai
theo chủ đề, dưới sự hướng dẫn của cô giáo, một số phẩm chất cao quý được
hình thành ở trẻ như sự thật thà, dũng cảm, tính chủ động, tính kiên trì, lịch sự
với người lớn, quan tâm chăm sóc người thân, nghe lời cô.
Có thể nói rằng, chơi như là một mắt xích nối liền giữa trẻ với các quy
tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội, nó giúp cho quá trình hình thành các phẩm
chất đạo đức diễn ra tự nhiên, hiệu quả mặc dù chơi chỉ là giả vờ nhưng hiệu
quả giáo dục lại thật và lớn lao.
* Chơi là phương tiện giáo dục thể chất cho trẻ em
Chơi mang lại niềm vui cho trẻ, làm cho tinh thần của trẻ được sảng
khoái – một yếu tố quan trọng để phát triển thể chất cho trẻ, vì tinh thần sảng
khoái, thỏa mãn sẽ làm cho thể lực trẻ được phát triển tốt hơn.
Khi tham gia vào trò chơi, các cơ quan trong cơ thể được vận động một
cách tích cực, thúc đẩy sự trao đổi chất, tăng cường hô hấp và tuần hoàn
máu… góp phần tăng cường sức khỏe cho trẻ.
* Chơi là phương tiện giáo dục thẩm mỹ cho trẻ
Chơi là hoạt động phản ánh cuộc sống của xã hội. Khi tham gia trò
chơi, trẻ cảm nhận được cái đẹp ở sự phong phú, đa dạng về màu sắc, hình
dạng, kích thước, âm thanh của đồ vật, đồ chơi.
Trò chơi không những giúp trẻ cảm nhận được cái đẹp của đồ dùng, đồ
chơi, của hành động chơi, của các hành vi giao tiếp giữa người với người,
giữa con người với hiện thực; mà còn hình thành ở trẻ nhu cầu sống theo cái
đẹp, bảo vệ cái đẹp và làm ra cái đẹp.
* Chơi là phương tiện giáo dục lao động cho trẻ em

18





chính vì vậy có thể nói “xã hội trẻ em” là hình thức đầu tiên giúp trẻ được
sống và làm việc cùng nhau, được sống cuộc sống của người lớn.
1.3.5. Vai trò của hoạt động vui chơi trong việc hình thành kỹ năng
giao tiếp cho trẻ mẫu giáo
Trong hầu hết các trò chơi, trẻ đều cần có bạn chơi, có thể là một, hai
hay nhiều trẻ cùng chơi đùa với nhau. Điều này sẽ giúp trẻ phát huy được tính
tương tác xã hội, đồng thời cũng giúp cho bé trở nên độc lập hơn, trẻ sẽ có
khả năng giải quyết vấn đề, phát huy tính tập trung và trí tưởng tượng. Trò
chơi còn giúp cho trẻ phát triển các kỹ năng cơ bản cần thiết cho cuộc sống và
cho quá trình học tập ở nhà trường.
Trò chơi là nguyên cớ thúc đẩy trẻ tìm đến nhau tập hợp lại thành
những nhóm chơi, tuy còn lỏng lẻo, lúc hợp lúc tan, phức tạp. Chính vì vậy,
dưới sự quan tâm hướng của người lớn cho trẻ biết tổ chức nhóm chơi của
mình một cách ổn thỏa, đảm bảo bầu không khí vui vẻ, để trò chơi phát triển
thuận lợi, từ đó hình thành “xã hội trẻ em” tác động đến hình thành nhân cách
của trẻ
Khi chơi trẻ sẽ dần dần ý thức được giá trị bản thân, đây là yếu tố cực
kỳ quan trọng để giúp trẻ hình thành nhân cách.
Khi trẻ chơi đùa sẽ có sự thay đổi của sóng thần kinh trong não, các cơ
quan thần kinh của trẻ sẽ được kích thích để tiếp nhận, xử lí và gửi đi các tín
hiệu. Các hoạt động này sẽ giúp cho hình thành và cố định nhiều hơn các kết
nối thần kinh, giúp gia tăng việc dẫn truyền các tín hiệu thần kinh. Do đó, khi
trẻ chơi các đồ chơi thì đó không đơn thuần chỉ là sự giải trí mà còn giúp cho
việc gia tăng trí thông minh và sức khỏe cho trẻ, trẻ sẽ có khả năng học hỏi từ
những tác động của môi trường xung quanh.
Khi tham gia vào hoạt động vui chơi tức là bản thân trẻ đang hoạt động,
tham gia vào quá trình giao tiếp. Qua đó, giáo viên rèn luyện các kỹ năng giao
tiếp cho trẻ như: Rèn luyện năng lực tự chủ các hành vi và cảm xúc; rèn luyện

Trường tập trung tại 01 điểm trường, Nhà trường tích cực tham mưu
với các cấp, các ngành và các lực lượng xã hội cũng như làm tốt công tác xã
hội hóa Giáo dục.
+ Lực lượng phụ huynh có con gửi ở trường đa số làm nghề nông, đời
sống gặp khó khăn, kinh tế phụ thuộc vào mùa vụ.
- Chất lượng
+ Nhà trường thực hiện tốt chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
trẻ. Không có tình trạng ngộ độc thực phẩm xảy ra tại trường.
+ 100% trẻ được đảm bảo an toàn tuyệt đối, không có trường hợp trẻ bị
tai nạn thương tích cũng như ngộ độc thực phẩm xảy ra trong trường mầm
non.
+Tỷ lệ trẻ ăn bán trú đạt: 100% với mức ăn của trẻ 13.000đ và 1 ly sữa
4.000/cháu/ngày.
+100% trẻ được theo dõi sức khỏe bằng biểu đồ phát triển, Tỷ lệ trẻ
suy dinh dưỡng giảm dưới 8% so với đầu năm.
22


- Các điều kiện
+ Đội ngũ: Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên: 38đ/c (Biên chế: 29;
HĐ: 9đ/c kể cả nhân viên nấu ăn). Chất lượng đội ngũ: Trình độ đạt chuẩn:
38/38,
Đạt: 100% trên chuẩn. 38/38 CB-GV-NV được đào tạo và cấp chứng
chỉ tin học, ngoại ngữ;
+ Cơ sở vật chất: : Trường có đầy đủ phòng học và các phòng chức
năng, điều kiện và trang thiết bị phục vụ cho công tác chăm sóc, giáo dục đầy
đủ theo đúng quy định, hệ thống sân, vườn được thiết kế hợp lý, tạo môi
trường “Xanh - Sạch - Đẹp” , môi trường “Giáo dục an toàn” thân thiện cho
trẻ hoạt động.
- Các tổ chức đoàn thể trong nhà trường: Có đầy đủ các tổ chức, đoàn

được cách giao tiếp của trẻ với nhau, của trẻ với cô giáo.
- Quan sát, tổ chức các hoạt động vui chơi để biết được việc hình thành
kỹ năng giao tiếp cho trẻ thông qua các trò chơi.
2.1.3. Đối tượng khảo sát
* Nhóm trẻ 5 – 6 tuổi
Để đánh giá được thực trạng hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6
tuổi thông qua hoạt động vui chơi, chúng tôi đã tiến hành quan sát nghiên cứu
trên 40 trẻ lớp mẫu giáo lớn B của Trường Mầm non Đồng Sơn– Đồng Hới.
* Giáo viên
Chúng tôi tiến hành điều tra 20 giáo viên, tất cả các giáo viên đều đạt
chuẩn giáo viên Mầm non.
2.1.4. Phương pháp và công cụ khảo sát
2.1.4.1. Phương pháp khảo sát
Phương pháp điều tra: Đây là phương pháp chủ yếu của đề tài: Nhằm
tìm hiểu thực trạng hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua
hoạt động vui chơi.
Phương pháp quan sát: Chúng tôi trực tiếp quan sát (hoặc gián tiếp qua
giáo viên) vào cách giáo viên tổ chức, hướng dẫn trẻ tham gia vào các hoạt
động vui chơi; các hoạt động của trẻ khi tham gia chơi... nhằm quan sát, thu
thập để bổ sung và chính xác hóa các thông tin điều tra khác.
Phương pháp đàm thoại: Chúng tôi đã tiến hành trao đổi với giáo viên
về nội dung cần khảo sát. Nội dung trò chuyện được chuẩn bị từ trước phù
hợp với mục tiêu đã đề ra.
24


2.1.4.2. Công cụ khảo sát
Công cụ điều tra thực trạng hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6
tuổi thông qua hoạt động vui chơi.
Phiếu điều tra gồm 12 câu hỏi dành cho giáo viên. Câu hỏi được trình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status