SKKN sáng kiến kinh nghiệm mầm non thực trạng hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi ở trường mầm non đồng sơn, thành phố đồng hới, tỉnh quảng bình - Pdf 39

1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giao tiếp là nhu cầu cơ bản trong đời sống tinh thần của con người. Nhờ giao
tiếp, mỗi người gia nhập vào các mối quan hệ xã hội , tổng hoà các quan hệ
xã hội tạo thành bản chất con người, lĩnh hội nền văn hoá xã hội tạo thành
tâm lí, ý thức, nhân cách. Dân gian có câu: Đi một ngày đàng, học một sàng
khôn. Càng tích cực tham gia vào các mối quan hệ xã hội, quan hệ giao tiếp
phong phú bao nhiêu con người càng tiếp thu được những giá trị vật chất, tinh
thần to lớn bấy nhiêu.
Đối với trẻ em, giao tiếp có vai trò quan trọng giúp trẻ có thêm
những kiến thức về thế giới xung quanh, phong tục, tập quán, văn
hoá của dân tộc. Từ đó trẻ sẽ áp dụng vào cuộc sống một cách có
hiệu quả, phù hợp với các chuẩn mực xã hội. Có rất nhiều con đường
rèn luyện, hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ nhưng
con đường gần nhất đó là thông qua hoạt động vui chơi. Có thể nói trò
chơi và tuổi thơ chính là hai người bạn thân thiết không thể tách rời
nhau được. Chơi là hoạt động tự nhiên trong cuộc sống của mỗi
người, nó là một thiên tính của tuổi thơ nên nó đặc biệt quan trọng đối
với sự phát triển của trẻ em. Không chơi trẻ chỉ tồn tại chứ không phải
là đang sống, không chơi trẻ không thể phát triển.. Nhà văn hào lỗi lạc
người Nga Maxim Gorki đã từng nói: “Trò chơi là con đường dẫn trẻ
em đến chỗ nhận thức được cái thế giới mà ở trong đó các em đang
sống, cái thế giới mà các em có sứ mệnh phải cải tạo”.
Trò chơi giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp, hình thành nhân cách,
trí lực để trẻ hòa nhập vào cuộc sống với mọi người xung
quanh.Thông qua trò chơi giúp trẻ phát triển các giác quan, hoàn thiện
chức năng tâm sinh lý hình thành nhân cách.
1

1

trẻ 5 - 6 tuổi thì sẽ giúp trẻ có cơ hội để hình thành và rèn luyện các kỹ
2
2


3
năng giao tiếp, tạo điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển nhân
cách của trẻ.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu 3 nhiệm vụ chính:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến việc hình thành kỹ
năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng việc hình thành kỹ
năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi ở Trường Mầm non Đồng Sơn, thành
phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến
việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ.
- Đề xuất một số biện pháp tác động góp phần hình thành kỹ
năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Xây dựng hệ thống khái niệm làm cơ sở lý luận cho đề tài, bao
gồm phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa và khái
quát hóa vấn đề lý luận về việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5
– 6 tuổi.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến
Khảo sát, đánh giá nhận thức của giáo viên về thực trạng hình
thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động vui chơi ở
trường mầm non. Những yếu tố ảnh hưởng và các biện pháp mà giáo
viên đã sử dụng để hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi.

hình thành kỹ năng giao tiếp của trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động vui
chơi, xây dựng một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục hình
thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ.
9. Cấu trúc của đề tài
Đề tài gồm có 3 chương không kể mở đầu, kiến nghị và kết luận,
danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu
giáo thông qua hoạt động vui chơi.
4

4


5
Chương 2: Thực trạng việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 – 6
tuổi ở Trường Mầm non Đồng Sơn, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hình thành kỹ năng
giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi.

5

5


6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CỦA TRẺ MẪU GIÁO THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Ở nước ngoài

1.1.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp mới được nghiên cứu từ cuối
những năm 1970 đến những năm 1980. Phạm Minh Hạc định nghĩa:
“Giao tiếp là quá trình xác lập và vận hành các quan hệ xã hội giữa
người ta với nhau”
Nhóm các công trình nghiên cứu kỹ năng giao tiếp sư phạm có
thể kể tới là: Hoàng Anh “Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên”,
Nguyễn Thạc - Hoàng Anh với cuốn “Luyện giao tiếp sư phạm” - Đại
học Sư phạm - 1998, Ngô Công Hoàn - Hoàng Anh “Giao tiếp sư
phạm”, Trần Duy Hưng đã bàn tới kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh
viên, Ứng xử sư phạm (Trịnh Trúc Lâm).
Một số công trình nghiên cứu về giao tiếp cho trẻ mầm non cụ
thể như: TS Hoàng Thị Phương “Nghiên cứu về hành vi giao tiếp của trẻ
5 – 6 tuổi”, Trần Trọng Thủy “Giao tiếp và sự phát triển nhân cách của
trẻ”, Ngô Công Hoan “Giao tiếp và ứng xử giữa cô giáo với trẻ”, Nguyễn
Văn Lũy – Trần Thị Tuyết Hoa với “Giao tiếp với trẻ em”,Vũ Thị Ngân –
Lê Xuân Hồng (biên dịch) “Những vấn đề giao tiếp của trẻ ở trường
mầm non” …..
Như vậy qua một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong
và ngoài nước, chúng ta có thể khẳng định được sự cần thiết của việc hình
thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non thông qua
hoạt động vui chơi.
1.2. Một số vấn đề lý luận về kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu
giáo
1.2.1. Khái niệm giao tiếp
Có rất nhiều những khái niệm về giao tiếp .
7

7


8

8


9
thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và những biểu hiện tâm
lý bên trong của đối tượng và bản thân của chủ thể giao tiếp, là khả
năng sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết
cách tổ chức, điều chỉnh quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích giao
tiếp.
Kỹ năng giao tiếp của cá nhân với đối tượng giao tiếp là sự thể
hiện các thao tác, cử chỉ, điệu bộ, hành vi, thông qua ngôn ngữ hoặc
phi ngôn ngữ.
1.2.3.2. Các nhóm kỹ năng giao tiếp
Bao gồm có 3 nhóm:
Nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp: Được biểu hiện ở khả năng
dựa vào sự biểu cảm, ngữ điệu, thanh điệu của ngôn ngữ, cử chỉ,
động tác, thời điểm và không gian giao tiếp để phán đoán chính xác
về nhân cách cũng như mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng giao
tiếp.
Nhóm kỹ năng này còn được phân chia nhỏ hơn thành những kỹ
năng sau: Đọc trên nét mặt, cử chỉ, hành động, lời nói; kỹ năng
chuyển từ tri giác bên ngoài vào nhận biết bản chất bên trong của
nhân cách và kỹ năng định hướng (gồm định hướng trước khi tiếp xúc
và định hướng trong quá trình tiếp xúc với đối tượng giao tiếp).
Kỹ năng định vị: Thực chất đó là khả năng xây dựng mô hình
tâm lý, phác thảo chân dung nhân cách đối tượng giao tiếp đạt mức
độ chính xác và tương đối ổn định dựa trên hoạt động nhận thức tích
cực.

động. Vì vậy, quan niệm về kỹ năng giao tiếp phải coi chúng như là
“các đặc điểm của hành động” và có quan hệ với hành động, hoạt
động của con người.
Khi xem xét giao tiếp dưới dạng hoạt động giao tiếp thì việc hình
thành kỹ năng giao tiếp sẽ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: đặc
điểm khí chất với chức năng của hệ thần kinh não bộ; sự hoạt động
tích cực của cá nhân và môi trường, trong đó môi trường nhà trường
có vai trò kích thích sự hứng thú sinh viên tích cực tham gia các hình
10

10


11
thức hoạt động khác nhau nhằm phát huy và hình thành kỹ năng giao
tiếp. Những yếu tố này tác động qua lại đến việc hình thành kỹ năng
giao tiếp tốt hơn.
Để có kỹ năng giao tiếp thì chủ thể phải có những hành động
giao tiếp. Trong quá trình hành động, chủ thể tham gia các quá trình giao
tiếp, các mối quan hệ, thực hiện những hành động nhằm giải quyết các
vấn đề của mình.
1.2.4. Đặc điểm tâm lý của trẻ 5 – 6 tuổi
1.2.4.1. Hoạt động nhận thức
Do sự tăng trưởng đáng kể về thể chất, sự phong phú về đời
sống xã hội cũng như hoạt động, trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) đã đạt
được mức độ phát triển phong phú về nhiều mặt của các chức năng tâm
lý như: cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng, chú ý, trí nhớ, ngôn ngữ,
ý chí, xúc cảm, tình cảm…
* Cảm giác, tri giác
Những thuộc tính và quan hệ bên ngoài của sự vật hiện tượng

* Chú ý
Chú ý không chủ định chiếm ưu thế. Chú ý có chủ định đang
được phát triển do trẻ đã xác định đối tượng cần chú ý, biết đặt ra
mục đích cho sự chú ý của mình, biết hướng ý thức của mình vào đối
tượng để phục vụ cho mục đích của hoạt động. Khả năng phân phối,
sức tập trung, sự di chuyển… của chú ý đều tăng lên đặc biệt là đối
với những đối tượng hấp dẫn, sinh động.
* Trí nhớ
Đặc trưng trí nhớ của trẻ mẫu giáo là tính trực quan, máy móc
và không chủ định. Tuy nhiên, vào cuối tuổi mẫu giáo, trí nhớ của trẻ
có một bước biến đổi về chất đó là trí nhớ có chủ định xuất hiện và phát
triển. Ngôn ngữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển trí
nhớ chủ định của trẻ 5 – 6 tuổi, nhờ đó mà trẻ nắm được tên và hiểu
được ý nghĩa của sự vật, hiện tượng cần nhớ, mục đích và tìm phương
tiện giúp ghi nhớ và nhớ lại những điều cần nhớ.
* Ngôn ngữ
12

12


13
Ở giai đoạn lứa tuổi này sự phát triển ngôn ngữ diễn ra với tốc
độ nhanh cả về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ điệu, vốn từ, cấu trúc ngữ
pháp… Hầu hết, trẻ đã biết sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh
hoạt hằng ngày để giao tiếp. Khả năng ngôn ngữ của trẻ liên quan
chặt chẽ với sự phát triển trí tuệ và những trải nghiệm của trẻ. Vốn từ
của trẻ phong phú, ngôn ngữ mạch lạc là phương tiện làm cho tư duy
của trẻ phát triển lên một bước mới, đó là sự nảy sinh các yếu tố của
tư duy lôgic, nhờ đó mà toàn bộ sự phát triển tâm lý nói chung và tư

Đối với trẻ từ 5 - 6 tuổi, trẻ đã biểu hiện rõ tính độc lập tự chủ
các hoạt động vui chơi và giao tiếp với mọi người. Do vậy, trong giao
tiếp với bạn bè, nhất là với trẻ nhỏ hơn mình, trẻ đã biết giúp đỡ,
nhường nhịn thậm chí còn chăm sóc em bé khi người lớn giao việc.
Trẻ có thể vận dụng ngôn ngữ để biểu lộ tình cảm, thái độ, mong
muốn hoặc diễn đạt cách nghĩ của mình.
Trẻ thích giao tiếp với các bạn khác, và tham gia các hoạt động tập
thể. Trong quá trình giao tiếp, chúng thường biểu lộ nhu cầu tự khẳng
định và có năng lực ảnh hưởng đến bạn. Ví dụ như: có thể chủ động
phân vai cho bạn, có thể giải thích rõ ràng luật chơi…
Trẻ biết lắng nghe người khác nói chuyện, có khả năng hiểu
được nội dung giao tiếp.
Trẻ dễ dàng thiết lập quan hệ giao tiếp với mọi người không
phân biệt tuổi tác, địa vị xã hội, kinh tế (thiết lập quan hệ giao tiếp rất
hồn nhiên, vô tư không để ý đến xuất thân của đối tượng giao tiếp)
Trẻ chủ động trong giao tiếp, chủ động gợi chuyện, đặt ra các
câu hỏi, tích cực tham gia vào đàm thoại.
Trẻ có mong muốn hiểu biết về người lớn, muốn chia sẻ cảm
thông với người lớn (đặt ra các câu hỏi về hoạt động và mối quan hệ
của người lớn, thay đổi ý kiến để mong nhận được sự hài lòng của
người lớn) sẵn sàng giúp đỡ người lớn và bạn khi được đề nghị hoặc
chủ động đề nghị để được giúp đỡ.
Trẻ cố gắng cư xử tốt với người, biết nhường nhịn lẫn nhau (cố
gắng không tranh giành đồ chơi, nhường nhịn khi tranh luận), có
14

14


15

15


16
Vui chơi là một thiên tính, một bản năng, một nhu cầu tự nhiên
của con người như hít thở không khí, ăn cơm, uống nước...
Hoạt động vui chơi là một hoạt động trong các loại hình hoạt
động cơ bản của trẻ ở trường mầm non - là hoạt động mà động cơ của
nó nằm trong quá trình chơi chứ không nằm trong kết quả của hoạt
động. Khi chơi đứa trẻ không chủ tâm vào một lợi ích thiết thực nào
cả. Trong trò chơi các loại mối quan hệ giữa con người tự nhiên và xã
hội được mô phỏng lại, chơi mang lại cho trẻ một trạng thái tinh thần
vui vẻ, phấn chấn, dễ chịu.Chơi được người lớn tổ chức hướng dẫn
nhằm giúp trẻ thỏa mãn các nhu cầu vui chơi và nhận thức, đồng thời
giáo dục và phát triển toàn diện nhân cách của trẻ lứa tuổi nào.
1.3.2. Đặc điểm hoạt động vui chơi của trẻ 5 – 6 tuổi
Hoạt động vui chơi của trẻ mang tính vô tư, trẻ chơi không chủ
tâm nhằm vào một lợi ích thiết thực, mang tính thực dụng nào cả mà
nguyên cớ thúc đẩy trẻ tham gia vào trò chơi chính là sự hấp dẫn của
bản thân quá trình chơi. Động cơ chơi nằm trong quá trình chơi chứ
không nằm trong kết quả của hoạt động chơi. Trẻ chơi chỉ cốt cho vui
và đã chơi là phải vui.
Hoạt động vui chơi của trẻ là sự mô phỏng hoạt động của người
lớn; những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và giữa con
người với xã hội. Do đó, hoạt động này mang tính tượng trưng, khi
chơi trẻ có thể dùng các vật thay thế để tượng trưng cho người thật,
việc thật.
Hoạt động vui chơi của trẻ mang tính tự do. Tính tự do trong
hoạt động vui chơi của trẻ em thể hiện ở tính tự nguyện khi tham gia
vào trò chơi, hành động chơi của trẻ hoàn toàn xuất phát từ hứng thú

chính:
+ Nhóm 1: Nhóm trò chơi sáng tạo bao gồm:
Trò chơi đóng vai theo chủ đề
Trò chơi lắp ghép – xây dựng
Trò chơi đóng kịch
+ Nhóm trò chơi có luật bao gồm:
17

17


18
Trò chơi học tập
Trò chơi lao động
Với đề tài nghiên cứu thì chúng tôi đi sâu tìm hiểu bốn loại trò
chơi sau:
* Trò chơi theo chủ đề.
Trò chơi theo chủ đề bao gồm:
- Trò chơi sắm vai: Trẻ em bắt chước người lớn, lặp lại trong trò
chơi những hành động của người lớn. Hoặc bắt chước động vật và
lặp lại những hành động của động vật đã được nhân cách hóa. Trong
khi chơi trẻ em có thể sử dụng hoặc không sử dụng đồ chơi. Nhờ có
trò chơi sắm vai, trẻ em được nhập vai các nhân vật khác nhau với
các mối quan hệ khác nhau. Nhờ vậy các em có thể:
+ Dần dần làm quen với những sinh hoạt, những hoạt động lao
động của
người lớn mà sau này các em sẽ tham gia khi trưởng thành.
+ Bồi dưỡng được nhiều phẩm chất, phản ánh quan hệ ứng xữ
đúng đắn với những người xung quanh (ứng xữ của cha mẹ với con
cái, ứng xữ của bác sĩ với bệnh nhân…).

+ Rèn luyện ý chí, tính kiên trì, nhẫn nại, tính quả quyết.
+ Tinh thần đồng đội.
* Trò chơi học tập. Trò chơi học tập là một trong những phương
tiện giáo dục trí tuệ cho trẻ em. Nó giúp cho trẻ:
+ Phát triển những kĩ năng về thị giác, thính giác, xúc giác…
+ Chính xác hóa những hiểu biết về các sự vật, hiện tượng xung
quanh.
+ Phát triển trí thông minh, sự nhanh trí, ngôn ngữ…
1.3.4. Ý nghĩa hoạt động vui chơi đối với sự phát triển của
trẻ
1.3.4.1. Chơi là phương tiện giáo dục toàn diện cho trẻ em
* Chơi là phương tiện giáo dục phát triển trí tuệ cho trẻ em
Chơi là phương tiện mở rộng, củng cố chính xác hóa những
biểu tượng, phản ánh
19

của trẻ về cuộc sống xung quanh. Tất cả
19


20
những điều trẻ lĩnh hội được trước lúc chơi dưới nhiều hình thức hoạt
động khác nhau sẽ được chính xác hơn, phong phú hơn. Ví dụ: Trẻ có
biểu tượng chính xác hơn về chức năng sử dụng một số đồ dùng sinh
hoạt quen thuộc: cái thìa để xúc cơm; cái cốc để uống nước; bế em
phải bế như thế nào...
Chơi là phương tiện giúp trẻ lĩnh hội tri thức mới. Khi tham gia
chơi, dưới sự hướng dẫn của người lớn, trẻ khám phá ra nhiều điều
mới lạ, thú vị ở thế giới xung quanh. Trong quá trình thực hiện các hành
động chơi, thao tác chơi, trẻ nhận ra được một vài thuộc tính, mối quan hệ

Cũng trong hoạt động vui chơi, đặc biệt là thông qua trò chơi
đóng vai theo chủ đề, dưới sự hướng dẫn của cô giáo, một số phẩm
chất cao quý được hình thành ở trẻ như sự thật thà, dũng cảm, tính
chủ động, tính kiên trì, lịch sự với người lớn, quan tâm chăm sóc
người thân, nghe lời cô.
Có thể nói rằng, chơi như là một mắt xích nối liền giữa trẻ với
các quy tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội, nó giúp cho quá trình hình
thành các phẩm chất đạo đức diễn ra tự nhiên, hiệu quả mặc dù chơi
chỉ là giả vờ nhưng hiệu quả giáo dục lại thật và lớn lao.
* Chơi là phương tiện giáo dục thể chất cho trẻ em
Chơi mang lại niềm vui cho trẻ, làm cho tinh thần của trẻ được
sảng khoái – một yếu tố quan trọng để phát triển thể chất cho trẻ, vì
tinh thần sảng khoái, thỏa mãn sẽ làm cho thể lực trẻ được phát triển
tốt hơn.
Khi tham gia vào trò chơi, các cơ quan trong cơ thể được vận
động một cách tích cực, thúc đẩy sự trao đổi chất, tăng cường hô hấp
và tuần hoàn máu… góp phần tăng cường sức khỏe cho trẻ.
* Chơi là phương tiện giáo dục thẩm mỹ cho trẻ
Chơi là hoạt động phản ánh cuộc sống của xã hội. Khi tham gia
trò chơi, trẻ cảm nhận được cái đẹp ở sự phong phú, đa dạng về màu
sắc, hình dạng, kích thước, âm thanh của đồ vật, đồ chơi.
Trò chơi không những giúp trẻ cảm nhận được cái đẹp của đồ
dùng, đồ chơi, của hành động chơi, của các hành vi giao tiếp giữa
21

21


22
người với người, giữa con người với hiện thực; mà còn hình thành ở



23
Chơi là phương thức thỏa mãn nhu cầu được sống và được làm
việc như người lớn. Trong một giờ chơi, mỗi trò chơi phản ánh một
mảng của hiện thực đời sống xã hội: bệnh viện, trường học, cửa
hàng, công viên… mỗi trẻ có vị trí nhất định trong nhóm chơi. Trong
giờ chơi, trẻ không chỉ phối hợp với nhau trong nhóm chơi mà còn
phối hợp giữa các nhóm chơi, chính sự phối hợp giữa trẻ như vậy đã
hình thành một “xã hội trẻ em”. Trong xã hội ấy, trẻ thỏa sức hành
động, được sống trong xã hội của người lớn thu nhỏ, được làm việc,
được nó năng như người lớn…vì thế trẻ luôn là chủ thể tích cực. Ở
đây, trẻ không những tìm thấy vị trí của mình trong nhóm bạn bè mà
còn làm cho trẻ cảm thấy mình được tự do thoải mái và tự tin vào bản
thân mình hơn, chính vì vậy có thể nói “xã hội trẻ em” là hình thức đầu
tiên giúp trẻ được sống và làm việc cùng nhau, được sống cuộc sống
của người lớn.
1.3.5. Vai trò của hoạt động vui chơi trong việc hình thành
kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo
Trong hầu hết các trò chơi, trẻ đều cần có bạn chơi, có thể là
một, hai hay nhiều trẻ cùng chơi đùa với nhau. Điều này sẽ giúp trẻ
phát huy được tính tương tác xã hội, đồng thời cũng giúp cho bé trở
nên độc lập hơn, trẻ sẽ có khả năng giải quyết vấn đề, phát huy tính
tập trung và trí tưởng tượng. Trò chơi còn giúp cho trẻ phát triển các
kỹ năng cơ bản cần thiết cho cuộc sống và cho quá trình học tập ở nhà
trường.
Trò chơi là nguyên cớ thúc đẩy trẻ tìm đến nhau tập hợp lại
thành những nhóm chơi, tuy còn lỏng lẻo, lúc hợp lúc tan, phức tạp.
Chính vì vậy, dưới sự quan tâm hướng của người lớn cho trẻ biết tổ
chức nhóm chơi của mình một cách ổn thỏa, đảm bảo bầu không khí

cũng như việc chơi với các bạn cùng trang lứa thông qua các trò chơi
là rất quan trọng trong việc phát triển các kỹ năng giao tiếp cho trẻ.

24

24


25
Chương 2
THỰC TRẠNG HÌNH THÀNH KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ
5 – 6 TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI Ở TRƯỜNG MẦM NON
ĐỒNG SƠN, THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1. Khái quát quá trình nghiên cứu
2.1.1. Vài nét về khách thể và địa bàn nghiên cứu
Trường Mầm non Đồng Sơn được thành lập và nhận được sự
chỉ đạo trực tiếp của phòng GD & ĐT Đồng Hới; sự lãnh đạo, chỉ đạo
của Đảng ủy, Hội đồng Nhân dân, Hội đồng giáo dục xã, sự quan tâm
tạo điều kiện của Uỷ ban Nhân dân, sự phối hợp các tổ chức đoàn thể
địa phương, sự đồng thuận của lực lượng phụ huynh.
Tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên trong trường đoàn kết, có
tinh thần trách nhiệm cao với công việc được giao, có ý thức học tập,
bồi dưỡng năng lực sư phạm; biết khắc phục khó khăn về cơ sở vật
chất trường lớp.
Trường tập trung tại 01 điểm trường, Nhà trường tích cực tham
mưu với các cấp, các ngành và các lực lượng xã hội cũng như làm tốt công tác
xã hội hóa Giáo dục.
+ Lực lượng phụ huynh có con gửi ở trường đa số làm nghề
nông, đời sống gặp khó khăn, kinh tế phụ thuộc vào mùa vụ.
- Chất lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status