TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
TRẦN THỊ NGẦN
GIÁO DỤC THẨM MỸ, TÌNH CẢM VÀ KỸ NĂNG XÃ HỘI
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG ÂM NHẠC TẠI TRƢỜNG MẦM NON HOA SEN –
TP VĨNH YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp tổ chức hoạt động âm nhạc cho trẻ
HÀ NỘI, 2019
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
TRẦN THỊ NGẦN
GIÁO DỤC THẨM MỸ, TÌNH CẢM VÀ KỸ NĂNG XÃ HỘI
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG ÂM NHẠC TẠI TRƢỜNG MẦM NON HOA SEN –
TP VĨNH YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp tổ chức hoạt động âm nhạc cho trẻ
Ngƣời hƣớng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Quỳnh Mai
tôi được sự quan tâm của các thầy cô khoa Giáo dục Mầm non, đặc biệt là
sự hướng dẫn tận tình của cô giáo - ThS. Nguyễn Thị Quỳnh Mai.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu“Phát triển thẩm mỹ, tình
cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi tại trường mầm non
Hoa Sen - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc” của riêng tôi.
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Trần Thị Ngần
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
NXB :
Nhà xuất bản
ĐT :
Động tác
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 : Sự cần thiết của việc giáo dục thẩm mỹ, tình cảm và kỹ năng xã hội
cho trẻ thông qua hoạt động âm nhạc cho trẻ
Bảng 2 : Mức độ cô giáo lồng ghép nội dung giáo dục thẩm mỹ, tình cảm và
kỹ năng xã hội cho trẻ thông qua hoạt động âm nhạc tại trường Mầm non Hoa
Sen – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
Bảng 3: Khả năng thẩm mỹ của trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động âm nhạc
Bảng 4: Khả năng phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội của trẻ 5 – 6 tuổi
thông qua hoạt động âm nhạc
CHƢƠNG 2. CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN THẨM MỸ, TÌNH CẢM
VÀ KỸ NĂNG XÃ HỘI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG ÂM NHẠC ....... 27
2.1. Nguyên tắc đề xuất quy trình........................................................... 27
2.1.1. Căn cứ vào thực trạng tình cảm và kỹ năng xã hội của trẻ mẫu
giáo lớn 5 - 6 tuổi ..................................................................................... 27
2.1.2. Đảm bảo tính mục tiêu giáo dục và tính sư phạm trong khi tổ chức ... 27
2.1.3. Đảm bảo tính mới và tính phát triển của hoạt động âm nhạc cho trẻ
mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi ............................................................................. 28
2.2. Các biện pháp ................................................................................... 29
2.2.1. Thẩm mỹ ........................................................................................... 29
2.2.2. Giáo dục tình cảm và kĩ năng xã hội ............................................... 35
2.2.3. Kỹ năng sống ..................................................................................... 48
2.3. Thực nghiệm ..................................................................................... 63
2.3.1. Mục đích thực nghiệm.................................................................... 63
2.3.2. Đối tượng thực nghiệm .................................................................. 63
2.3.3. Nội dung thực nghiệm .................................................................... 63
2.3.4. Thời gian và địa bàn thực nghiệm ................................................. 64
2.3.5. Tiến hành thực nghiệm .................................................................. 64
2.3.6. Kết quả thực nghiệm ...................................................................... 65
Tiểu kết chƣơng 2 .................................................................................... 66
KẾT LUẬN ................................................................................................. 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 70
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nhận thức, ý chí và tình cảm là ba mặt cơ bản trong đời sống tâm lý
của con người, trong đó tình cảm là một lĩnh vực khó đánh giá nhất và có ảnh
có vai trò vô cùng quan trọng. Gíao dục âm nhạc là phương tiện nâng cao khả
năng trí tuệ, phát triển thể chất , giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng , củng cố
khiến thức thông qua học tập, vui chơi . Thông qua hoạt động âm nhạc như
học hát , nghe hát , vận động theo nhạc , trò chơi âm nhạc … sẽ hình thành ở
trẻ những yếu tố của một nhân cách phát triển, hài hòa, toàn diện, đó là sự
phát triển về thẩm mỹ, trí tuệ, thể chất và đặc biệt là tình cảm, kỹ năng xã hội.
Trẻ mầm non đặc biệt rất nhạy cảm với âm nhạc. Chúng rất thích nghe nhạc
và hào hứng tham gia các hoạt động âm nhạc vì vậy mà việc lồng ghép phát
triển thẩm mỹ, tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông
qua hoạt động âm nhạc sẽ mang lại hiệu quả tích cực .
Nhận thấy được tầm quan trọng của việc phát triển thẩm mỹ, tình cảm kỹ năng xã hội cho trẻ mầm non và vai trò, ý nghĩa của âm nhạc với lứa tuổi này
nên tôi chọn đề tài: “Giáo dục thẩm mỹ, tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ 5 –
6 tuổi thông qua hoạt động âm nhạc tại trường Mầm non Hoa Sen - Vĩnh
Yên - Vĩnh Phúc”. Từ đó góp phần giúp trẻ phát triển toàn diện, trở thành
những công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội .
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phát triển thẩm mỹ, tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ mầm non là vấn
đề luôn được quan tâm, chú ý cả trong nước và ngoài nước. Trên thế giới đã
có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như :
Kazakova.T.C: Hãy phát triển tính sáng tạo ở trẻ mẫu giáo ,Matxcova –
1995
L.X. Vưgotxki ( 1896 – 1995 ) : Trí tưởng tượng và sáng tạo ở thiếu
nhi, NXB Phụ nữ , Hà Nội – 1985
Ở Việt nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về giáo dục
thẩm mỹ, tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ mầm non như:
2
Nguyễn Ánh Tuyết: Giáo dục cái đẹp trong gia đình, NXB Phụ nữ 1984
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giáo dục thẩm mỹ và tình cảm, kỹ
năng xã hội cho trẻ mầm non lứa tuổi 5 - 6 tuổi trường mầm non Hoa Sen
thông qua hoạt dộng giáo dục âm nhạc.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi những vấn đề liên quan tới giáo dục
thẩm mỹ, tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ mầm non lứa tuổi 5 - 6 tuổi
trường mầm non Hoa Sen thông qua hoạt động giáo dục âm nhạc.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê phân loại
Phương pháp phân tích đánh giá
Phương pháp đối chiếu so sánh
Phương pháp điều tra phỏng vấn
6. Những đóng góp của đề tài
Nếu khoá luận thành công góp phần giáo dục thẩm mỹ và bồi dưỡng tình
cảm, kỹ năng xã hội cho cho trẻ, giúp trẻ trải nghiệm, cảm thụ và thể hiện
những cảm xúc sâu sắc, làm phong phú đời sống tâm hồn trẻ thông qua hoạt
động âm nhạc. Hình thành và phát triển năng lực cá nhân, trang bị kỹ năng
sống để giúp trẻ hòa nhập với cộng đồng xã hội.
7. Bố cục khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận phần nội dung của đề tài gồm 2 chương sau :
Chương 1 . Tổng quan về giáo dục thẩm mỹ, tình cảm và kỹ năng xã hội đối
với trẻ mẫu giáo lớn 5 -6 tuổi trong các hoạt động âm nhạc
Chương 2. Các biện pháp phát triển thẩm mỹ, tình cảm và kỹ năng xã hội
thông qua hoạt động âm nhạc.
4
“ Thẩm” nghĩa là xem xét
“ Mĩ” nghĩa là đẹp
Thẩm mỹ là hiểu biết và thưởng thức cái đẹp
Còn các nhà Mĩ học lại có những quan điểm về thẩm mỹ khác nhau
như Baumgacten – Giáo sư người Đức cho rằng : cái hoàn mỹ là một cơ sở
của cái đẹp , sự hoàn mỹ là nhận thức thuần túy bao gồm có lý tính và ý chí,
do đó sự hoàn mỹ là sự thống nhất của chân – thiện – mĩ. Còn theo Palaton lại
coi cái đẹp là ý niệm chung được thâm nhập vào các hiện tượng cụ thể mà tạo
thành vẻ đẹp, ông cho rằng cái đẹp có tính chất vĩnh cửu trong mọi thời gian,
mọi thời điểm, mọi ý nghĩ. Chủ nghĩa Mác lại khác: “ Cái đẹp không chỉ là
thước do hoạt động của con người mà còn là cái chuẩn để chỉ phẩm chất con
người” Mác còn viết “ Súc vật chỉ nhào nặn vật chất theo thước đo giống loài
nó, còn con người có thể áp dụng thước đo và thích dụng cho mọi đối tượng ,
theo đó con người cũng nhào nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp.”
[1;Tr.19]
Như vậy cái đẹp là sự hài hòa, cân đối trong đời sống vật chất, tinh thần
hay cái đẹp gắn bó với bản chất sáng tạo của mỗi con người trong quá trình
hoàn thiện hoàn mĩ.
1.1.3. Khái niệm giáo dục thẩm mỹ
Muốn trẻ được phát triển toàn diện thì giáo dục thẩm mĩ là một phương
diện vô cùng quan trọng và không thể bỏ qua được và cần phải được tiến hành
trong những năm đầu đời đặc biệt là lứa tuổi mẫu giáo.
Theo quan điểm Mĩ học của Mác – Lenin: Giáo dục thẩm mỹ có thể
hiểu theo hai nghĩa:
Nghĩa hẹp : Giáo dục thẩm mỹ là quá trình giáo dục có tính trường quy
về cái đẹp, giáo dục con người biết cảm thụ, đánh giá và sáng tạo cái đẹp
Nghĩa rộng: Giáo dục thẩm mĩ là quá trình giáo dục và tự giáo dục
nhằm phát huy mọi năng lực của con người theo quy luật của cái đẹp trong đó
nhận thức [8;Tr.23]
7
Tình cảm là loại phản ánh độc đáo hiện thực khách quan do sự vật,
hiện tượng xung quanh tạo ra và phụ thuộc vào thuộc tính của sự vật,hiện
tượng đó
Tình cảm là thuộc tính tâm lí của nhân cách, do đó những thuộc tính,
thái độ đó của con người tương đối ổn định và bền vững, được biểu hiện ra
bằng cử chỉ, hành vi bên ngoài
Tình cảm là thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với những sự
vật, hiện tượng của hiện thực khách quan, phản ảnh ý nghĩa của chúng trong
mối liên hệ giữa nhu cầu và động cơ của họ. Tình cảm là sản phẩm cấp cao của
sự phát triển các quá trình cảm xúc trong điều kiện xã hội.
1.1.4.2 Khái niệm về kỹ năng xã hội
Theo Từ điển Việt Nam giải thích kỹ năng xã hội là bất kỳ năng lực
tạo thuận lợi cho sự tương tác và giao tiếp với những người khác, nơi các quy
tắc xã hội và các mối quan hệ được tạo ra, truyền đạt và thay đổi theo các
cách nói và không lời.
Kỹ năng xã hội là những cách thức giải quyết những vấn đề trong
cuộc sống xã hội nhằm giúp con người thích nghi và phát triển tốt hơn. Tùy
vào từng giai đoạn phát triển, với sự mở rộng dần phạm vi hoạt động, sự đa
dạng của các hoạt động và sự phong phú của các mối quan hệ thì các kỹ năng
xã hội cũng phát triển dần lên. Các môi trường xã hội của con người khá rộng
từ gia đình, trường lớp tới các tổ chức cộng đồng khác. Ở mỗi nơi với những
đặc điểm riêng sẽ đòi hỏi những kinh nghiệm xã hội riêng [8;Tr.45]
Kỹ năng xã hội: là một dạng hành động nhằm thực hiện các mối
quan hệ của cá nhân với mọi người xung quanh trên cơ sở nắm vũng những
phương thức thực hiện và sự vận dụng những tri thức, kinh nghiệm xã hội phù
xúc với âm nhạc ngay từ những năm đầu đời giúp các em học âm thanh và ý
nghĩa của từ. Đối với trẻ em và người lớn, âm nhạc giúp tăng cường trí nhớ,
đồng thời mang đến niềm vui và từ đó cải thiện mức độ khỏe mạnh toàn diện
và hạnh phúc của các em. Chỉ cần nghĩ đến việc lắng nghe một ca khúc hay
9
trên ti vi trong một ngày đẹp trời cũng có thể khiến mọi người mỉm cười và
lấp đầy trái tim bằng niềm vui là bộ phận quan trọng xuyên suốt quá trình giáo
dục âm nhạc cho mọi lứa tuổi: từ nhà trẻ, mẫu giáo, trường trung học, các câu
lạc bộ, nhà văn hoá cho thiếu nhi,… cùng với các hoạt động âm nhạc khác
như hát, múa, sử dụng nhạc cụ, trò chơi âm nhạc, nghe nhạc,…trẻ tham gia
tích cực nhằm hình thành những cơ sở ban đầu cho văn hoá âm nhạc, những
đặc trưng tâm lý của nhân cách phát triển tính toàn diện như sự nhạy cảm với
âm nhạc, biết xúc động trước cái đẹp, phát triển trí tưởng tượng phong phú, tư
duy sáng tạo độc đáo.
1.2.1. Hoạt động âm nhạc góp phần phát triển thẩm mỹ cho trẻ
Âm nhạc còn là phương tiện giáo dục thẩm mỹ cho trẻ. Nói chung, việc sử
dụng âm nhạc như một thanh công cụ tích cực để đưa vào ý thức của trẻ một
cách sâu sắc những giá trị, vẻ đẹp trong nhân cách con người. Quan hệ giữa
thẩm mỹ được dựa trên kinh nghiệm của riêng trẻ và xác định hoạt động cũng
như cảm xúc gắn với âm nhạc ở trẻ. Nếu trẻ có được thái độ hứng thú, say mê
với âm nhạc thì nhiệm vụ giáo dục thẩm mỹ về cơ bản là đã được giải quyết,
bên cạnh đó các kỹ năng nhạc đa dạng và phong phú cũng được hình thành.
Giáo dục thẩm mỹ nhằm phát triển ở trẻ khả năng cảm thụ, lĩnh hội và
hiểu cái đẹp, phân biệt được cái hay, cái dở, hoạt động độc lập và sáng tạo
trong khi tiếp xúc với các thể loại khác nhau.
Khi cho trẻ nghe các tác phẩm âm nhạc khác nhau giúp trẻ bộc lộ cảm
xúc, diễn đạt cảm xúc. Nhịp điệu vui tươi của các bản nhạc gợi cho trẻ
giống và khác nhau, quay lại hay không quay lại, sự …
Khi trẻ học hát, vận động hoặc nhảy múa theo bài háy sẽ góp phần phát
triển độ linh hoạt, tự tin, mạnh dạn, hoặc trẻ hát theo cô sẽ phát triển cho trẻ
về bộ cơ quan phát thanh hô hấp làm cho trẻ có giọng hát hay, chính xác, tạo
điều kiện rèn luyện cho trẻ sự phối hợp chặt chẽ giữa tai nghe và hát. Đồng
thời cũng tạo cho trẻ có được phong thái tự nhiên, uyển chuyển khi thể hiện
bài hát.
11
1.2.3. Hoạt động âm nhạc là phương tiện phát triển phẩm chất đạo đức ở
trẻ
Âm nhạc là phương tiện góp phần hình thành cho trẻ phẩm chất
đạo đức. Bởi khi tác động đến tình cảm của trẻ, âm nhạc đã truyền tải tới trẻ
tình cảm đạo đức, nhiều khi tác động âm nhạc còn nhanh hơn cả những lời
khuyên, hay sự ra lệnh của người lớn. Các tác phẩm ca ngợi thiên nhiên, đất
nước, con người, những hình ảnh thân thuộc với trẻ như bà, mẹ, chú bộ đội,
cô giáo, gợi cho trẻ tình yêu quê hương đất nước, yêu thủ đô, sự quan tâm yêu
thương, gắn bó với người ruột thịt, lòng biết ơn với những người đã cống hiến
cho đất nước vì nhân dân. Những điệu múa, trò chơi dân gian, các bài hát dân
ca các vùng, các miền đều đem đến cho trẻ những cảm xúc trữ tình, niềm tự
hào của dân tộc. Cho trẻ làm quen với những tiết tấu điển hình của các bài hát
hay trích đoạn tác phẩm của nước ngoài không chỉ giúp trẻ mở mang hiểu biết
về các dân tộc, các vùng miền khác nhau mà còn nhen nhóm trong lòng trẻ
thơ tình hữu nghị quốc tế, cộng đồng.
1.2.4. Hoạt động âm nhạc là phương tiện góp phần phát triển trí tuệ ở trẻ
Giáo dục Âm nhạc là hoạt động nghệ thuật có tác dụng giáo dục thẩm mỹ
ngoài ra nó còn giúp trẻ phát triển trí tuệ, trẻ có khả năng trải nghiệm những
cảm xúc trong quá trình cảm thụ và thể hiện Âm nhạc: Khi nghe nhạc, trẻ cảm
trí tuệ hoạt động tích cực.
Cũng như các loại hình nghệ thuật khác, âm nhạc có ý nghĩa nhận
thức. Nhiều hiện tượng của đời sống, được phản ánh trong tác phẩm âm
nhạc, làm phong phú thêm vốn hiểu biết của trẻ bằng những khái niệm về
xã hội, về thiên nhiên, về truyền thống, sẽ giúp trẻ tích cực tư duy, tưởng
tượng, sáng tạo.
1.3. Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi
Các hiện tượng tâm lý như tri giác, trí nhớ, tưởng tượng về cơ bản là sự
nối tiếp sự phát triển ở lứa tuổi từ 4 - 5 tuổi nhưng chất lượng mới hơn. Thể
hiện ở: Mức độ phong phú của các kiểu loại
Mức độ chủ định các quá trình tâm lý rõ ràng hơn, có ý thức hơn.
Tính mục đích hình thành và phát triển ở mức độ cao hơn.
13
Độ nhạy cảm của các giác quan được tinh nhạy hơn.
Khả năng kiềm chế các phản ứng tâm lý được phát triển.
Ở đây chúng ta chỉ đề cập tới quá trình tâm lý phát triển mạnh mẽ và
đặc trưng nhất, đó là tư duy.
Sự phát triển tư duy ở độ tuổi này mạnh mẽ về kiểu loại, các thao tác và
thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượng,
thông tin giữa mới và cũ, gần và xa...
Đặc tính chung của sự phát triển tư duy:
Trẻ đã biết phân tích tổng hợp không chỉ dừng lại ở đồ vật, hình ảnh mà
ngay cả từ ngữ.
Dần dần trẻ phân biệt được thực và hư.
Đã có tư duy trừu tượng với các con số, không gian, thời gian, quan hệ
xã hội...
Ý thức rõ về những ý nghĩ, tình cảm của mình, trách nhiệm đối với
hành vi.
đẹp cái xấu theo chuẩn ( lúc đầu theo chuẩn của bé dần dần phù hợp với đánh
giá của những người xung quanh ) xúc cảm thẩm mỹ, óc thẩm mỹ phát triển.
Sự phát triển ý chí:
Do có khả năng làm chủ được nhiều hành vi, được người lớn giao cho
nhiều việc nhỏ... Trẻ dần dần đã xác định rõ mục đích của hành động. Trẻ dần
dần tách động cơ ra khỏi mục đích với sự cố gắng hoàn thành nhiệm vụ.
Trẻ muốn chơi trò chơi, trẻ muốn được nghe kể chuyện nhiều hơn
nhưng không được cô giáo đáp ứng, phải chuyển trò chơi mà trẻ không thích.
Tính mục đích càng ngày càng được trẻ ý thức và cố gắng hoàn thành
công việc.
Tình kế hoạch xuất hiện, trẻ biết sắp xếp "công việc" vui chơi và phải
quét nhà, nhặt rau để khi mẹ về là mọi việc phải xong cho mẹ hài lòng.
Tinh thần trách nhiệm bản thân dần dần được hình thành ở trẻ.
Sự phát triển ý chí mạnh hay yếu tuỳ thuộc phần lớn vào sự giáo dục
15
1.4. Đặc điểm hoạt động âm nhạc của trẻ 5 – 6 tuổi
Cảm giác tai nghe và kinh nghiệm nghe nhạc của trẻ cũng tốt hơn nhóm 4
– 5 tuổi. Trẻ biết phân biệt các phương tiện diễn tả âm thanh: cao độ, trường
độ, tiết tấu, giai điệu, hướng chuyển động của âm thanh và cả sự thay đổi sắc
thái, tình cảm, giọng hát hoặc của nhạc cụ. Hứng thú và khả năng âm nhạc
của trẻ thể hiện rõ. Phần lớn trẻ biết lựa chọn bài hát, điệu múa hay thể loại
trong ca khúc... Trẻ thể hiện sự nhanh nhẹn, hoạt bát, chính xác khi múa,vận
động, di chuyển đội hình.
Về khả năng vận động, trẻ có vận động cơ bản hoàn thiện hơn so với các
độ tuổi trước đặc biệt là khả năng vận động của các nhóm cơ lớn. Trẻ biết làm
các động tác phối hợp với bạn, đứng 1 chân giữ thăng bằng trong 10 giây,
nhảy lò cò, đi nối gót, đi giật lùi, khả năng thăng bằng tốt. Trẻ biết quay xung
quanh bạn và quanh mình, biết múa theo đội hình đơn giản. Các vận động và
nhiệt tình với trường với công việc chăm sóc và giáo dục trẻ, có kinh
nghiệm chăm sóc, nuôi dạy trẻ, tinh thần trách nhiệm với công việc cao,
giọng nói chuẩn không bị nói ngọng nói lắp ...
Trường có 712 trẻ, chia thành 18 lớp từ nhà trẻ đến lớp 5-6 tuổi. Trung
bình mỗi lớp có 39 trẻ
* Cơ sở vật chất – kỹ thuật của trƣờng
Trường là môi trường lý tưởng cho công tác chăm sóc và giáo dục trẻ
với tổng diện tích là 8000 m2 gồm có 2 tầng, được trang bị nhiều dụng cụ
dạy học, máy móc hiện đại. Ví dụ như: Đàn piano, máy tính bàn, máy
chiếu,...
Trường gồm có 2 tầng khang trang sạch đẹp , từ cổng trường nhìn vào
tầng một là phòng kế toán và phòng phó hiệu trưởng , tầng 2 là phòng của
hiệu trưởng và phòng y tế. Bao quanh hai bên là các phòng học của trẻ từ
lớp nhà trẻ đến lớp mẫu giáo lớn. Khu nhà bếp được đặt riêng biệt phía sau
phòng phó hiệu trưởng ở tầng một. Phòng họp lớn được đặt ở tầng hai dãy
nhà đối diện ra phía cổng. Đây là nơi diễn ra các các cuộc họp nội bộ và
17