Giáo dục tính trung thực cho trẻ 5 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi ở trường mầm non - Pdf 41

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Tính trung thực là một giá trị sống quan trọng trong nhân cách của
con người. Ngay từ xa xưa, trung thực là một trong 3 phẩm chất quan trọng
của con người “Chân, thiện, mĩ” được nhân loại đề cao; và cho đến hiện nay,
trung thực được coi là một trong các giá trị sống cốt lõi ở mỗi quốc gia là hòa
bình, tự do là trung thực. Trung thực làm cho cuộc sống trở nên toàn vẹn hơn
vì bên trong và bên ngoài chúng ta là một hình ảnh phản chiếu. Đôi khi lòng
tham là gốc rễ của sự thiếu trung thực. Trung thực với bản thân và với mọi
người trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng có nghĩa là ta đang gieo niềm tin trong
lòng người khác và xứng đáng nhận được sự tin yêu, trở thành người có ích
cho xã hội.
Trong xã hội hiện đại ngày nay, người ta đề cao tài năng cá nhân nhưng
nếu chỉ có tài thôi thì chưa đủ. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Có
tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì
cũng khó”. Như vậy, để trở thành người có ích cho xã hội thì đi song song với tài
phải có tư cách đạo đức tốt; luôn tôn trọng sự thật, tôn trọng chân lí, lẽ phải,
sống ngay thẳng, thật thà và dũng cảm nhận lỗi khi mắc khuyết điểm.
1.2. Giáo dục tính trung thực cho trẻ mầm non nói chung và trẻ 5 - 6
tuổi nói riêng có thể thực hiện qua nhiều con đường khác nhau, một trong
những con đường thuận lợi đó là thông qua hoạt động vui chơi của trẻ ở
trường mầm non. Đây là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo, trong qúa trình
chơi trẻ thể hiện mình, tự điều khiển hành vi của mình cho phù hợp với hoàn
cảnh và chuẩn mực hành vi. Đồng thời trò chơi của trẻ mẫu giáo có nhiều trò
chơi có luật, có tình huống rõ ràng đòi hỏi trẻ phải trung thực trong khi chơi,
có như vậy trò chơi của trẻ mới không bị phá vỡ. Chính vì vậy, hoạt động vui
chơi là phương tiện, là điều kiện thuận lợi để giáo dục tính trung thực cho trẻ.

1





4. Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng một số biện pháp giáo dục tính trung thực thông qua hoạt
động vui chơi cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non theo hướng khai thác ưu
thế các loại trò chơi, đưa trẻ vào các tình huống cần phải trung thực, giúp trẻ
trải nghiệm cảm xúc, kĩ năng, hành vi thì hiệu quả giáo dục tính trung thực
cho trẻ 5-6 tuổi sẽ được nâng cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc giáo dục tính trung thực cho trẻ
5 - 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi ở trường mầm non.
5.2. Đề xuất một số biện pháp giáo dục tính trung thực cho trẻ 5 - 6 tuổi
thông qua hoạt động vui chơi ở trường mầm non.
5.3. Thực nghiệm một số biện pháp giáo dục tính trung thực cho trẻ 5 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi ở trường mầm non.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu biện pháp giáo dục tính trung thực cho trẻ 5 - 6 tuổi thông
qua hoạt động vui chơi trong thời gian diễn ra hoạt động chơi vào buổi sáng
hàng ngày, hay ở trường MN gọi là “hoạt động góc”.
6.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Khảo sát thực trạng và tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường mầm
non Vân Phú - Phường Vân Phú - Tỉnh Phú Thọ.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc, so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát những tài liệu, công trình
nghiên cứu có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra anket

3



Chúng tôi tiến hành thực nghiệm trên 70 trẻ 5 - 6 tuổi thuộc hai lớp
mẫu giáo lớn trường MN Vân Phú, thời gian thực nghiệm được tiến hành từ
tháng 03/2016 - 05/2016:
Lớp 5 tuổi A1 gồm 35 trẻ được chọn làm lớp thực nghiệm
Lớp 5 tuổi A2 gồm 35 trẻ được chọn làm lớp đối chứng.
7.3. Phương pháp xử lý số liệu
Chúng tôi sử dụng một số công thức toán học thống kê có liên quan:
công thức tính tỷ lệ phần trăm; công thức tính điểm trung bình cộng; công
thức tính độ lệch chuẩn; công thức tính hệ số tương quan và công thức tính
kiểm giá trị thống kê... để lượng hóa kết quả nghiên cứu thực tiễn.
8. Đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống cơ sở lý luận của việc giáo dục tính trung thực cho trẻ 5 - 6
tuổi thông qua hoạt động vui chơi.
- Xây dựng một số biện pháp giáo dục tính trung thực cho trẻ 5 - 6 tuổi
thông qua hoạt động vui chơi.
9. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm:
* Phần Mở đầu;
* Phần Nội dung gồm 3 chương:
+ Chương 1: Cơ sở lý luận và thực trạng giáo dục tính trung thực cho
trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi ở trường mầm non.
+ Chương 2: Đề xuất các biện pháp giáo dục tính trung thực cho trẻ 5 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi.
+ Chương 3: Thực nghiệm các biện pháp giáo dục tính trung thực cho
trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi.
* Phần kết luận

5



hiện rõ qua việc giáo dục hành vi của trẻ và sự bộc lộ hành vi đó qua môi
trường văn hóa - xã hội.
Theo J.Locke [41], cần phải giáo dục đạo đức cho con người từ rất sớm.
Ông cho rằng đạo đức được xác lập trên cơ sở các ứng xử hàng ngày với cộng
đồng và cần phải cho học sinh tập dượt ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
N.A.Lyapin, A.G.Côvalep, Lidya Bogiavie [33] các tác giả nghiên cứu
những cơ sở tâm lý của giáo dục đạo đức, những ảnh hưởng của tâm lý học
lứa tuổi đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh.
Skiner trong tác phẩm “Hành vi của các thứ thể sống” (1938) đã chỉ ra
cơ chế hoạt động và hành vi của con người, trong đó hành vi đạo đức phải
xuất phát từ những hoàn cảnh khách quan trong cuộc sống [41].
Trong nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho học sinh được thể hiện qua
tài liệu T.A. Ilina [35], N.S Savin [37] đã chỉ ra việc giáo dục đạo đức cho
học sinh thông qua giáo dục lao động, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục thể dục,...
Các tác giả cho rằng giáo dục đạo đức là một hoạt động chuyên biệt, có mục
đích của giáo dục nhằm xây dựng cho học sinh những tính cách nhất định, và
bồi dưỡng cho các em tiêu chuẩn và những quy định thái độ, hành vi của các
em với nhau, đối với gia đình, đối với người khác, đối với người khác, đối với
nhà nước và Tổ quốc [35,117]
A.V.Daparogiet đã chỉ ra ba yếu tố cơ bản của GD đạo đức là những
tình cảm đạo đức, những thói quen hành vi đạo đức và ý niệm đạo đức (về tốt,
xấu, các hiện tượng trong đời sống xã hội). “Để tạo ra mọi phẩm chất đạo đức
- đơn giản hay phức tạp hơn - chỉ có thể được giải quyết với sự rèn luyện
những tình cảm, những thói quen và những ý niệm đạo đức, các yếu tố ấy tuy
khác nhau nhưng có liên quan đến nhau”. [18]
`Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết là người đã nghiên cứu nhiều về các hoạt
động tổ chức giáo dục trẻ và có thể kể đến một số tác phẩm như: Tổ chức

7

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm “trung thực” là sống phải
thật thà, trung thực, thẳng thắn, nghĩa tình; trung thực là nói phải đi đôi với

8


làm. Cán bộ, đảng viên trung thực trước hết là phải trung với nước, trung với
Đảng, với cách mạng, phải trung thực trong thực hiện đường lối cách mạng của
Đảng; trung thực với nếp sống của mình, thống nhất trong lời nói và việc làm;
phải nghiêm túc với chính mình [12]. Việc giáo dục đạo đức cho học sinh trong
nhà trường được Người quan niệm thiếu nhi là người chủ tương lai của đất
nước nên cần phải sớm rèn luyện đạo đức cách mạng cho thiếu nhi, Người dạy
thiếu nhi: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; Học tập tốt, Lao động tốt; Đoàn kết tốt
- Kỷ luật tốt; Giữ gìn vệ sinh thật tốt; Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”
Bên cạnh đó, nhiều nhà khoa học giáo dục của Việt Nam đã nghiên cứu
và đạt được những kết quả nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh, được thể
hiện trong một số tài liệu, công trình nghiên cứu, tiêu biểu như:
Trong bài viết: “Tính trung thực của thầy và trò” của GS. Dương Thiệu
Tống, ông có viết: “Tôi muốn đề cập đến hai đức tính căn bản cho mọi thứ
đạo và đức. Đó tính trung thực và lòng can đảm. Tính trung thực là đức tính
lớn nhất của ý chí. Thật ra hai đức tính này không khác nhau bao nhiêu vì xét
cho cùng tính trung thực là sự can đảm của trí tuệ, và lòng can đảm cũng là sự
trung thực của ý chí. Tính trung thực là đức tính cần thiết nhất ở con người vì
nếu người ta không trung thực với chính bản thân mình thì không thể nào
trung thực được với xã hội”. [24].
Hướng thứ ba, nghiên cứu giáo dục tính trung thực cho trẻ mầm
non
* GD TTT theo hướng giáo dục giá trị sống cho trẻ MN
J.Dewey với tư tưởng giáo dục con người là đưa các em hòa nhập vào
môi trường sống [36], qua đó hình thành những giá trị về nhân cách cho trẻ

Harikv nghiên cứu việc giáo dục đạo đức cho học sinh bằng việc đưa ra
những phương pháp gắn với thực tiễn. Theo ông, gắn liền việc dạy học cho
học sinh trong sách vở là tổ chức cho học sinh đi vào thực tiễn hoạt động, thể
hiện bằng việc làm,... [17]. Như vậy, tư tưởng của Harikv trong việc giáo dục

10


đạo đức cho học sinh là cho học sinh được thể hiện trong cuộc sống của
chúng, cho chúng trải nghiệm, vận dụng để từ đó chúng có các hành vi phù
hợp và có lợi ích cho cộng đồng.
Tác giả Hoàng Thị Phương [16] coi tính trung thực là một trong các
biểu hiện của hành vi văn hóa. Tác giả cho rằng giáo dục tính trung thực cho
trẻ ngay từ lứa tuổi MN sẽ dễ hơn so với lứa tuổi sau vì khi trẻ đã đã có thói
quen nói dối, thường xuyên không biết giữ lời hứa với bạn và những người
lớn xung quanh thì sẽ khó giáo dục lại. Tác giả cũng đề cao việc giáo dục tính
trung thực cho trẻ qua hoạt động chơi và cuộc sống thực.
Tác giả Ngô Công Hoàn cho rằng: “Các khuôn mẫu hành vi xã hội mà
trẻ có được bắt nguồn từ những người xung quanh bằng cơ chế nhập tâm, bắt
chước mà trẻ hình thành các hành vi xã hội trong quá trình thỏa mãn các nhu
cầu cơ bản. Khi hệ thống các hành vi xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất,
nhu cầu sinh học được hình thành thì đồng thời với chúng, hệ thống các hành
vi giao tiếp, hợp tác với người xung quanh cũng được hình thành và phát
triển... Những hành vi, hoạt động của người lớn xung quanh diễn ra trước mắt
trẻ luôn là nguồn tư liệu phong phú, sinh động về hành động được phép làm,
không được phép làm, thậm chí cấm không được làm....”. [9,65]. Cũng theo
tác giả: “Sự củng cố ngôn ngữ qua lời răn, dạy của cha mẹ, của người lớn
xung quanh dẫn trẻ nhận thức được điều tốt - xẫu, thiện - ác”.
Trong cuốn Giáo trình chuyên đề Giáo dục kĩ năng sống, tác giả
Nguyễn Thanh Bình, Lê Thị Thu Hà, Trịnh Thúy Giang (đồng chủ biên) [37]

sử của loài người. Quan điểm của V.Vient, K.Groos, S.Chiller mặc dù theo
các trường phái khác nhau nhưng đều có ảnh hưởng lớn trong việc xây dựng
lý luận về trò chơi cũng như việc đưa trò chơi vào lĩnh vực giáo dục trẻ [35].
Theo N.K.Crupxkaia: “Trẻ chơi mà học, vừa là lao động, vừa là hình
thức giáo dục nghiêm túc...”. Theo bà, trò chơi là phương tiện nhận biết thế

12


giới, là con đường dẫn dắt trẻ đi tìm chân lý... trẻ học cách tổ chức, học
nghiên cứu cuộc sống [17]
A.N.Leonchev nghiên cứu phạm trù hoạt động với đối tượng, và đặc
biệt là nghiên cứu về hoạt động chủ đạo của lứa tuổi mẫu giáo là hoạt động
vui chơi. Tác giả đã xác định hoạt động chủ đạo của trẻ em trong giai đoạn
này là HĐVC...là hoạt động mà những biến đổi tâm lý cơ bản của nhân cách
trẻ em trong giai đoạn đó, phụ thuộc chặt chẽ vào nó. Chẳng hạn, các khả
năng ứng xử của trẻ phù hợp với các chuẩn mực xã hội ở lứa tuổi mẫu giáo,
được hình thành qua HĐVC của chúng [29].
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết trong tác phẩm "Trò chơi của trẻ em" đã giới
thiệu về khái niệm chơi, đồ chơi và vai trò của đồ chơi, sự phân loại các trò
chơi và tác dụng giáo dục của trò chơi đối với sự phát triển toàn diện của trẻ
lứa tuổi mẫu giáo. Bà đã phân tích cụ thể bản chất xã hội của trò chơi, cấu trúc,
đặc điểm hoạt động chơi của trẻ em. Tác giả chỉ ra rằng bản chất xã hội của trò
chơi trẻ em và sự tác động tích cực của người lớn lên trò chơi của trẻ, khẳng
định việc sử dụng trò chơi như một phương tiện giáo dục trẻ quan trọng [20].
Bên cạnh đó, trong “Giáo trình giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ em” bà cũng
đã chỉ ra những hành vi văn hóa cần giáo dục cho trẻ dưới 6 tuổi. Trong đó có
nội dung giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với mọi người xung quanh.
Các nghiên cứu trên đây cho thấy, giáo dục đạo đức nói chung và giáo
dục tính trung thực cho trẻ được quan tâm, xem xét theo nhiều hướng tiếp cận

Theo GS. Dương Thiệu Tống trong tác phẩm “Tính trung thực của thầy
và trò” ông cho rằng: “Tính trung thực là đức tính lớn nhất của ý chí” [24]
Theo định nghĩa của UNESCO về tính trung thực: “Trung thực là nói sự
thật, không có mâu thuẫn hoặc thiếu nhất quán trong suy nghĩ, lời nói và hành

14


động. Trung thực là luôn tôn trọng sự thực. Trong mọi tình huống, nhận thức, lời
nói và việc làm, người trung thực đều tuân theo lẽ phải, tuân theo những giá trị
đúng đắn. Với sự trung thực thì không có đạo đức giả hay sự giả tạo”. [27]
Từ những phân tích như trên có thể thấy, nội hàm khái niệm “Tính
trung thực” là:
- Tính trung thực là một giá trị sống, là phẩm chất ý chí quan trọng
trong nhân cách con người
- Tính trung thực là tôn trọng sự thật
- Tính trung thực biểu hiện ở nhận thức, thái độ, hành vi của con người
Từ đó, có thể hiểu khái niệm “Tính trung thực” như sau:
Tính trung thực là giá trị sống, phẩm chất ý chí quan trọng trong
nhân cách, thể hiện ở sự tôn trọng sự thật trong nhận thức, thái độ và
hành vi của con người.
b. Khái niệm “Giáo dục tính trung thực”
Khái niệm “Giáo dục” được quan niệm theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, Giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân
cách, được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch, thông qua các hoạt
động và các quan hệ giữa người được giáo dục và người giáo dục, nhằm
truyền đạt và chiễm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người.
Theo nghĩa hẹp, Giáo dục (một bộ phận của quá trình giáo dục theo
nghĩa rộng) là quá trình hình thành niềm tin, lí tưởng, động cơ, tình cảm, thái
độ, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen ứng xử đúng

thật trong lời nói và việc làm và cảm giác thoải mái dễ chịu khi sự thật được
tôn trọng
-Về hành vi, tính trung thực thể hiện ở hành động: luôn nói đúng sự
thật sảy ra, nhìn thấy thế nào thì nói đúng như vậy, không nói sai sự thật, đã
làm gì thì nói đúng như vậy; lời nói phải đi đôi với việc làm, đã nói được thì
phải làm được, không làm được thì không nên nói, phải giữ đúng lời hứa; Khi

16


làm điều gì, nói gì sai phải dũng cảm nhận lỗi, không được đổ lỗi cho người
khác, hoàn cảnh xung quanh
Các yếu tố cấu thành giá trị trung thực có liên quan mật thiết với nhau,
tác động qua lại và thống nhất với nhau. Do vậy, việc tổ chức các hoạt động
giáo dục giá trị cần tác động đồng bộ vào cả ba yếu tố: nhận thức, thía độ và
hành vi thì mới đem lại hiệu quả giáo dục mong muốn.
Việc GD tính trung thực phụ thuộc vào lứa tuổi, môi trường và các tác
động giáo dục từ phía người lớn. Do vậy, cần quan tâm đến các yếu tố trên
trong quá trình giáo dục tính trung thực cho trẻ.
1.1.2.3. Đặc điểm hình thành tính trung thực của trẻ 5-6 tuổi
- Sự phát triển nhận thức của trẻ về tính trung thực
Trẻ 5 - 6 tuổi đã có thể nhận thức được trung thực có nghĩa là phải nói
đúng những gì đã nghe thấy, nhìn thấy, hay đã làm; phân biệt được việc gì tốt
- xấu; đúng - sai; được làm - không được làm... Đồng thời đã có thể hiểu được
khi nói đúng sự thật sẽ tốt cho bản thân và mọi người xung quanh.
Theo J.Piaget, con người bắt đầu cuộc sống với một loạt các phản xạ,
và thừa kế những cách tương tác với môi trường. Những cách kế thừa tương
tác đó dựa vào xu hướng suy nghĩ được tổ chức và thích nghi của môi trường
đó. Ông chia quá trình nhận thức của trẻ làm 4 thời kì, trong đó trẻ 5 - 6 tuổi
thuộc thời kì thứ hai: thời kì tiền thao tác (2 - 7 tuổi) với những đặc điểm

thay đổi những hành vi lệch chuẩn chúng ta cần phần thay đổi chính những
suy nghĩ không thích nghi.
Mô hình: S -> C -> R ->B
Trong đó: S là tác nhân kích thích, C là nhận thức, R là phản ứng, B là
kết quả hành vi.

18


Giải thích mô hình: theo sơ đồ thì S không phải là nguyên nhân trực
tiếp của hành vi mà thay vào đó chính là nhận thức. C về tác nhân kích thích
và kết quả hành vi mới dẫn đến phản ứng R.
Như vậy sự hình thành hành vi TT của cũng không nằm ngoài lý
thuyết này, có nghĩa tác nhân kích thích không phải là nguyên nhân trực tiếp
dẫn đến hành vi thiếu trung thực của trẻ mà thay vào đó là nhận thức của
chúng. Nhận thức về những tác động bên ngoài và kết quả của hành vi dẫn
đến phản ứng.
1.1.2.4. Nội dung giáo dục tính trung thực cho trẻ 5-6 tuổi
Dựa trên khái niệm về tính trung thực và đặc điểm tính trung thực của
trẻ 5-6 tuối, chúng tôi xác định nội dung giáo dục tính trung thực như sau:
- Nói đúng sự thật đã xảy ra (đã nhìn thấy, nghe thấy, đã làm)
+ Nhận thức: Trẻ cần nhận thức được sự thật là cái có thật, cái có trong
thực tế, điều phản ánh đúng sự thật khách quan không làm sai khác đi những
gì bản thân trẻ đã nhìn thấy, nghe thấy hoặc đã làm. Và quan trọng hơn trẻ
cần hiểu rằng khi trẻ trung thực sẽ tốt cho bản thân và những người xung
quanh mình.
+ Thái độ: Trẻ thể hiện mong muốn, thiện chí chỉ muốn nói thật. Cảm
thấy dễ chịu, thoải mái khi nói, làm theo đúng sự thật.
+ Hành vi: Đối với trẻ, cần dạy và thực hành tính trung thực mọi lúc,
mọi nơi và làm đúng như những điều mình đã nói. Trẻ cần được hiểu về tầm

ta là người đáng tin cậy mà còn thể hiện tính trung thực, nói được, làm được.
+ Thái độ: Khơi dậy ở trẻ lòng mong muốn thực hiện lời hứa với người
khác, cách thể hiện sự thoải mái khi thực hiện đúng những gì mình nói. Cần
phải giữ lời hứa vì giữ lời hứa là tự tôn trọng bản thân mình và tôn trọng
người khác và khi vì một lí do nào đó trẻ không thực hiện được lời hứa với
người khác trẻ cần phải xin lỗi và giải thích rõ ràng.

20


+ Hành vi: Trước khi hứa với ai, điều gì biết cân nhắc xem bản thân có
thực hiện được không? Nếu khả năng có thể thực hiện được thì sẽ hứa, nêu
khả năng không làm được thi không hứa.
Dũng cảm nhận lỗi, không đổ lỗi cho người khác hay cho hoàn cảnh.
+ Nhận thức: Trẻ cần biết khi bản thân mình làm sai thì phải biết nhận
lỗi và sửa chữa; biết không nên đổ lỗi cho người khác vì làm như vậy là
không thật thà; biết làm sai dám nhận lỗi là dũng cảm, là tốt.
+ Thái độ: Trẻ tự giác, chủ động nhận lỗi, thể hiện mong muốn được
tha lỗi; đồng thời, có thái độ không đồng tình với ai hay đổ lỗi cho người
khác, hoặc có lỗi không xin lỗi.
+ Hành vi: Trẻ dũng cảm nhận lỗi, nhận phần sai về mình khi bản thân
mắc khuyết điểm và biết cách nói lời xin lỗi chân thành đến người khác; thấy
bạn làm sai không nhận lỗi, biết đến khuyên bạn, giúp bạn nhận ra hành động
đúng - sai.
Đây là những nội dung giáo dục phù hợp với trẻ 5 - 6 tuổi. Các nội
dung giáo dục này có liên quan với nhau, nên cần thực hiện đồng bộ trong quá
trình giáo dục tính trung thực cho trẻ qua các hoạt động và các mối quan hệ
của trẻ ở trường MN.
1.1.3. Hoạt động vui chơi với việc giáo dục tính trung thực cho trẻ 5 6 tuổi.
1.1.3.1. Khái niệm “Hoạt động vui chơi”

gốc xã hội, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua con đường
giáo dục.

Một số nghiên cứu về trò chơi của các nhà tâm lí học, giáo dục

họa phương Tây như Vallon, N.Khrixtencer [25]… cũng chỉ ra rằng, trò chơi
của trẻ là sự phản ánh cuộc sống, là hoạt động của chúng được quy định bởi
những điều kiện xã hội. Theo họ, trò chơi không phải là bất biến, nó phản ánh
hiện thực xã hội luôn vận động và phát triển.

22


Theo tác giả Nguyễn Ánh Tuyết “Chơi là hoạt động vô tư, tự nguyện,
người chơi không nhằm vào một lợi ích thiết thực nào cả, trong khi chơi các
mối quan hệ giữa con người với con người được mô phỏng lại, nó mang đến
cho con người một trạng thái tinh thần vui vẻ, thoải mái và dễ chịu” [20].
Tác giả Nguyễn Thị Hòa định nghĩa về chơi của trẻ mẫu giáo: Chơi là
một hoạt động tự lập của trẻ, chơi không nhằm tạo ra sản phẩm (kết quả vật
chất) mà chủ yếu nhằm thỏa mãn nhu cầu được chơi của trẻ (kết quả tinh thần),
được bắt chước làm người lớn của trẻ. Chơi của trẻ không phải là thật mà là giả
vờ, nhưng sự giả vờ ấy của trẻ lại mang tính chất chân thực. Động cơ chơi của
trẻ không nằm trong kết quả chơi mà nằm ngay trong các hành động chơi của
trẻ, kích thích chúng chơi và duy trì hứng thú chơi của trẻ. [7,160]
Từ những phân tích trên đây, dưới góc độ lý thuyết hoạt động, ta có thể
hiểu: Chơi là một hoạt động mà động cơ của nó nằm trong quá trình chơi chứ
không phải nằm ở kết quả chơi; Khi chơi, trẻ không chú tâm vào việc tạo ra sản
phẩm, trong trò chơi mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội được
mô phỏng lại. Chơi mang lại cho trẻ trạng thái tinh thần phấn chấn, vui vẻ.
1.1.3.2. Đặc điểm hoạt động vui chơi của trẻ em


Trong một giờ chơi, mỗi trò chơi phản ánh một mảng của hiện thực đời sống
xã hội: bệnh viện, trường học, cửa hàng bách hóa, công viên…mỗi trẻ có vị
trí nhất định trong nhóm chơi. Trong khi chơi, trẻ không chỉ phối hợp với
nhau trong nhóm chơi: Cháu A là bác sĩ, cháu B là bệnh nhân, cháu C là
người bán hàng, các cháu C, D là người mua hàng… mà còn phối hợp với
nhau giữa các nhóm chơi: Cháu C đưa bệnh nhân B tới gặp bác sĩ A khám
bệnh rồi ghé qua cửa hàng mua sữa cho em… sự phối hợp giữa trẻ với nhau
như vậy đã hình thành một “xã hội trẻ em” trong khi chơi. Trong xã hội ấy,
trẻ thỏa sức hành động, được sống trong xã hội của người lớn thu nhỏ, được
làm việc, được nói năng, được xưng hô như người lớn…vì thế trẻ luôn là chủ
thể tích cực. Ở đây, trẻ tìm thấy vị trí của mình trong nhóm bạn bè và cũng ở
đây, trẻ cảm thấy mình được tự do thoải mái và tự tin vào bản thân mình hơn.
Khi trẻ được tự do thoải mái chúng sẽ bộc lộ những gì là tự nhiên nhất, những
gì là bản chất nhân cách của chúng, từ đó nhà giáo dục có thể quan sát thấy
những ưu điểm và hạn chế trong hành động và lời nói của chúng một cách
chân thực nhất để có thể đưa ra các biện pháp giáo dục TTT kịp thời và phù
hợp với trẻ. Muốn vậy, giáo viên phải chú ý tổ chức cho trẻ được chơi thoải
mái, tạo môi trường, tình huống cho trẻ phối hợp- liên kết với nhau trong các
nhóm chơi và làm cho hoạt động chơi của trẻ thực sự là một hình thức tổ chức
đời sống của trẻ ở trường mầm non.
Hoạt động vui chơi mang tính hồn nhiên, vô tư.
Hoạt động của trẻ mang tính chất hồn nhiên, vô tư có nghĩa là trong khi
chơi đứa trẻ không chủ tâm nhằm tới một lợi ích thiết thực nào cả. Nguyên cớ
thúc đẩy đứa trẻ chơi chính là sự hấp dẫn của đồ chơi và bản thân quá trình
chơi chứ không phải là kết quả đạt được của hoạt động đó. Trẻ chơi chỉ cốt
cho vui, có vui thì mới chơi và đã chơi thì phải vui. Ở đây vui như một thuộc
tính vốn có của chơi. Chính vì lẽ đó mà hoạt động chơi của trẻ thường được

24

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status