CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
CHO TRẺ 5-6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
VUI CHƠI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
- Tổng quan nghiên cứu vấn đề
- Những nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em
Trên thế giới, đã có nhiều tổ chức quan tâm, tìm hiểu và
nghiên cứu về KNS. Đây là một nhu cầu cấp thiết của việc nghiên
cứu và phát triển con người. Hiện nay chưa có một khái niệm nào
thống nhất trên toàn thế giới về KNS. KNS được tiếp cận theo
nhiều quan điểm khác nhau.Quan niệm rộng nhất là quan niệm
do Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc
(UNESCO) đưa ra, dựa trên cơ sở của 4 trụ cột của giáo dục đó
là: Học để biết – Học để làm – Học để là chính mình – Học để
cùng chung sống. Dựa vào đó, UNESCO định nghĩa “KNS là
năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia
vào cuộc sống hàng ngày”.Quan niệm hẹp hơn là quan niệm
do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra, dựa trên lý thuyết học tập
xã hội của Bandura (1997), tức là nhấn mạnh sự học tập qua quá
trình trải nghiệm của con người, qua sự tích lũy kinh nghiệm
sống, cấu trúc kinh nghiệm và chủ động nắm lấy kinh nghiệm
[28]. Theo đó, WHO định nghĩa “Kỹ năng sống là những năng
lực giao tiếp đáp ứng và những hành vi tích cực của cá nhân có
thể giải quyết có hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc
sống hàng ngày”.Theo Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên Hiệp Quốc
(UNICEF) thì “Kỹ năng sống là những KN tâm lý xã hội có liên
quan đến các tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng sẽ thể
hiện ra bằng những hành vi làm cho cá nhân có thể thích nghi và
các GVnhận thức rõ mối quan hệ giữa sự phát triển trí thông minh
với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ [29].
Những năm đầu của thế kỷ XX, một số nước trong khu vực
Đông Nam Á như: Lào, Indonexia, Malaysia, Thái Lan, …cũng
bắt đầu nghiên cứu về GDKNS. Việc nghiên cứu KNS theo hướng
dạy thử nghiệm rất được các nước quan tâm và triển khai áp dụng
vào chương trình GDKNS ở các bậc học phổ thông. Mục tiêu lớn
nhất của việc GDKNS được xác định là: “Nhằm nâng cao tiềm
năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm
đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hằng
ngày, đồng thời tạo ra sự đổi thay và nâng cao chất lượng cuộc
sống”.
Điển hình như tại Lào (1997 – 2002), GDKNS được thực hiện
với các KN cơ bản như: KN giao tiếp có hiệu quả; KN tư duy sáng
tạo; KN giải quyết vấn đề… Trongquá trình triển khai, các nhà giáo
dục Lào đã đúc kết được một số bài học như: Cần có nhiều tài liệu
tham khảovề GD KNS cho GVvà họcsinh .Bên cạnh đó, cần đổi
mới công tác bồi dưỡng GVchuyên về GDKNS trực tiếp tại các nhà
trường ở cả khía cạnh nội dung và phương pháp theo hướng tích
cực hóa các hoạt động.
Tại Malaysia, một số nhà nghiên cứu khoa học xem KNS là
một môn học của cuộc sống và môn học này được dạy như một
môn học chính ở các bậc học của trường phổ thông. Mục tiêu của
môn học về KNS ở trường tiểu học là cung cấp cho người học
những KN cần thiết cơ bản để có thể thực hiện tốt nhất các nhiệm
vụ trong đời sống hằng ngày; còn ở bậc Trung học cơ sở(THCS)
là hướng đến việc trang bị các KN để góp phần tạo nên những cá
nhân độc lập, tự chủ về cuộc sống của mình, có KN sáng tạo và
tưkhá tốt.
Trước những năm 1990, việc GDKNS cho thế hệ trẻ luôn là
mục tiêu được chú trọng của các nhà giáo dục ở Việt Nam.Mặc dù
các khái niệm về KNS chưa được nêu ra và những nghiên cứu về
KNS chưa có.Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận thấy vấn đề này
được đề cập đến trong chương trình giáo dục của nước ta, như
môn học Đạo đức, Giáo dục công dân. Bên cạnh đó, có nhiều tác
giả, dịch giả, học giả nghiên cứu và biên soạn ra những tài liệu,
sách học, giúp người học có thể học và biết về cách làm người,
cách đối nhân xử thế, phương pháp học tập, tổ chức công việc
theo khoa học,… Có thể nêu lên một số tác phẩm nổi tiếng như:
tác phẩm “Đắc nhân tâm” của dịch giả Nguyễn Hiến Lê.[11] . Tác
phẩm “Giao tiếp và ứng xử sư phạm” của Ngô Công Hoàn.[9].
Và tác phẩm “Nhân cách trước đã” của Hoàng Xuân Việt [22] ,
… Những tài liệu này đã góp phần rất lớn trong việc trang bị
những KNS nhất định cho người Việt Nam. Điều đó cho thấy việc
nghiên cứu KNS tuy chưa được coi chính thức như nghiên cứu về
KNS nhưng đã được chú ý và đề cập đến nhiều.
Tuy nhiên, thuật ngữ “Kỹ năng sống” chỉ bắt đầu xuất hiện
và được quan tâm tại nước ta vào những năm 90 của thế kỷ XX.
Khi ấy, nền kinh tế - xã hội mới bắt đầu có những chuyển biến
phức tạp với việc du nhập các nền văn hóa từ nhiều nước trên thế
giới vào Việt Nam; bên cạnh đó, sự biến đổi của môi trường tự
nhiên cũng có ảnh hưởng rất lớn đến con người; Vì vậy, đòi hỏi
con người cần phải học cách thích nghivới những biến đổi nhanh
chóng và nhiều mặt đó; Bên cạnh những yêu cầu cao về trình độ
Năm 2009, tác giả Lê Bích Ngọcxuất bảntác phẩm “Giáo
dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5- 6 tuổi”. Ngoài mục đích chính là
GDKNS cho trẻ từ 5- 6 tuổitác giả còn muốn “nhằm” đến các bậc
cha mẹ có con từ 5-6 tuổi ở vùng miền núi. Trên cơ sở phân tích
khoa học, tác giả đã phân chia các KNScủa trẻ 5- 6 tuổi thành
7nhóm; mỗi nhóm được tác giả liệt kê nhiều KNScụ thểvới từng
tên gọi, những điều cha mẹ cần hướng dẫn cho trẻ và những gợi
ýmang tính định hướngvề các hoạt động, phương tiện và hình
thức giáo dục cho trẻ [13].
Tác giả Nguyễn Thanh Bình trongtác phẩm “Giáo trình
chuyên đề giáo dục kỹ năng sống” đã đi sâu làm rõ khái niệm
KNS, các phương pháp và nguyên tắc GDKNS hiệu quả.Tuy
nhiên, vì đây là giáo trình giảng dạy tại cơ sở đào tạo GV, nêntác
giả không đi sâu phân tíchcác nội dung cơ bản của từng KN [2].
Đến năm 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạomới chính thức đưa
cụm từ GDKNS vào trong các cơ sở giáo dục phổ thông tại công
văn số: 463/BGDĐT GDTX về việc” hướng dẫn triển khai thực
hiện GDKNS tại các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ
thông và giáo dục thường xuyên”[6].Cụ thể:Giáo dục cho người
học những KNScơ bản và cần thiết, với mục đích nhằm hình
thành những thói quen tốt giúp người học thành công,đồng thời
phải đảm bảo vừa phù hợp với thực tế địa phương và thuần phong
mỹ tục của nước ta vừagiúp cho người học hội nhập quốc tế. Bộ
yêu cầu các nội dung GDKNS phải phù hợp với mọi lứa tuổi và
được thiết kế theo hướng đồng tâm theo mức độ khótăng dần. Đối
với từng bậc họcviệc GDKNS cần tập trung vào các nội dung sau:
*. Đối với trẻ lứa tuổi mầm non:
GDKNS sẽ giúp trẻ biết tự nhận thức về bản thân, tự tin, tự
thông qua hoạt động vui chơi được các nhà giáo dục quan tâm
nhiều hơn. Một số nhà khoa học trong nước nghiên cứu về hoạt
động vui chơi đối với sự phát triển của trẻ nhỏ được chú ý đến
như: Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết trong sách: "Trò chơi của trẻ em"
đã đề cập đếnmột sốloại hìnhtrò chơi và làm rõ vai trò quan trọng
của trò chơi đối với sự phát triển toàn diện của trẻlứa tuổi mầm
non. Tác giả đã đi sâu phân tích làm rõ bản chất xã hội của trò
chơi, cấu trúc và đặc điểmcủa hoạt động chơi và sự tác động tích
cực của người lớn lên trò chơi của trẻ.Đồng thời, tác giả
cũngkhẳng trò chơi như là một trong những phương tiện quan
trọng để giáo dục trẻ [19]. Bên cạnh đó, trong “Giáo trình giáo
dục hành vi văn hóa cho trẻ em” bà cũng đề cập đến rất nhiều
khía cạnh có liên quan đến GDKNS cho trẻ mầm non dưới tên gọi
là giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ trong các mối quan hệ
vớithiên nhiên; đồ dùng, đồ chơi;và đối với người xung
quanh[20].
Theo tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà, “...trong lĩnh vực giáo
dục
trẻ
nhỏ,
việc
chơi được coi là một trong những phương tiện giáo dục không thể
thay thế” [7].
Theo nhóm tác giảPhạm Thị Châu, Nguyễn Thị Oanh, Trần
người. Trẻ sẽbiết quan tâm giúp đỡ bạn bè, biết yêu thương các
em nhỏ hơn, biết chăm sóc cho người thân khi người thân bị
bệnh,… Nghĩa là “các quy tắc ứng xử “bên ngoài” do động cơ
chơi đã trở thành các quy tắc ứng xử “bên trong” của trẻ như
thông cảm, sẻ chia, quan tâm, trung thực, dũng cảm, ý chí kiên
cường,…Có thể nói rằng vui chơi là cầu nối giữa trẻ với các quy
tắc đạo đức, giúp quá trình hình thành những phẩm chất đạo đức
diễn ra dễ dàng, tự nhiên và bền vững hơn”.
*. Hoạt động vui chơi là phương tiện phát triển thể chất cho
trẻ mẫu giáo:Trong quá trình chơi, trẻ vận động rất nhiều cộng với
không khí thoải mái, vui vẻ nên chơisẽ giúp trẻ phát triển thể lực
và tinh thần khỏe mạnh, sảng khoái.
*. Hoạt động vui chơi là phương tiện giáo dục và phát triển
thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo:Trong khi chơi, trẻ được tiếp xúc với
nhiều loại đồ chơi khác nhau. Điều này sẽ giúp trẻ sẽ cảm nhận
được cái đẹp của một số đồ chơi như màu sắc, hình dạng, kích
cỡ.., Đồng thời, cách cư xử của các nhân vật trong trò chơi cũng
giúp trẻ cảm nhận được cái đẹp trong hành vichơi từ lời ăn, tiếng
nói đến cách cư xử,….Ngoài ra, với những trò chơi đóng vai theo
chủ đề, trò chơi xây dựng….trẻ còn có cơ hội, điều kiện để tạo ra
cái đẹp thông qua việc tạo ra các sản phẩm cũng như cách sử
dụng các ngôn từ trong giao tiếp, trong ứng xử với các tình
huống…
*. Hoạt động vui chơi là phương tiện giáo dục lao động cho
trẻ mẫu giáo:Trong khichơi, nhờ sự hướng dẫn của GV sẽ giúp
trẻhình thành một số KN như: KN sáng tạo, kiên trì, yêu lao động.
Năm 2009, tác giả Lê Bích Ngọc đã đề cập đến việc
GDKNS xã hội cho trẻ qua tác phẩm “Giáo dục kỹ năng sống cho
hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hằng
ngày. Đó là cácKN tâm lý xã hội và KN giao tiếp mà mỗi cá nhân
có thể có để tương tác với những người khác một cách hiệu quả
và giải quyết một cách tích cực hoặc ứng phó với những vấn đề
hay những thách thức của cuộc sống hàng ngày”[28].
(iii)Theo UNICEF: KNS là tập hợp nhiều KN tâm lý, xã
hội và giao tiếp mang tính cá nhân giúp con người đưa ra những
quyết định đúng đắn, giao tiếp hiệu quả, phát triển các KN quản
lý bản thân để từ đó giúp cá nhân có cuộc sống lành mạnh, an
toàn, có chất lượng.
(iv)Tương đồng với quan niệm của WHO, “còn có quan
niệm KNS là những KN tâm lí xã hội liên quan đến những tri
thức, những giá trị và những thái độ, cuối cùng được thể hiện ra
bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải
quyết có hiệu quảcác yêu cầu và thách thức của cuộc sống” [2].
(v).Theo Frederic Luskin và Ken Pelletier: "Kỹ năng sống là
các công cụ cần thiết để làm chủ sự căng thẳng do sự thay đổi, ốm
đau, mất mát, làm việc quá độ, li dị, đi lại kéo dài và những trải
nghiệm bình thường khác của cuộc sống, KNS là những kế hoạch,
chương trình thực tế nhanh chóng và hiệu quả mà bạn có thể sử
dụng bất kỳ lúc nào để trở nên lạc quan ứng xử và hưởng thụ
trong công việc và khi vui chơi" [31].
(vi). Một khái niệm khác, KNS là tập hợp các hành vi tích
cực và khả năng thích nghi cho phép mỗi cá nhân đối phó hiệu
quả với các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng
ngày[29].Nói cách khác là khả năng tâm lý xã hội[26],đó là tập
lý – xã hội cơ bản giúp cho mỗi cá nhân thích ứng và tồn tại trong
cuộc sốnghàng ngày.Bên cạnh đó, những KN này sẽ giúp bản thân
của mỗi ngườithể hiện được năng lực của mình vàtham gia vào
giải quyết các vấn đề của cuộc sống hằng ngàymột cách có hiệu
quả, an toàn và chất lượng”.
- Phân loại kỹ năng sống
Tùy vào mỗi quan niệm khác nhau về KNS mà tên gọivàsố
lượng của những KNS sẽ khác nhau. Có thể đề cập đến một vài
cách phân loại như sau:
(i). Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Theo WHO [1]“danh
sách KNS có thể rất dài, nhưng các KN có thể được chấp nhận ở
những nền văn hóa khác nhau được xác định là các KN cơ bản
sau:
- Ra quyết định;
- Giải quyết vấn đề;
- Suy nghĩ sáng tạo;
- Suy nghĩ có phán đoán;
- Truyền thông có hiệu quả;
- Giao tiếp giữa người và người;
- Ý thức về bản thân;
- Khả năng thấu cảm;
- Ứng phó với cảm xúc;
- Ứng phó với stress.
KN sáng tạo góp phần vào việc lấy quyết định và giải quyết
vấn đề, bằng cách giúp chúng ta xem xét tất cả các biện pháp khác
nhau và suy nghĩ về các hậu quả khác nhau của việc chúng ta
hành động hay không hành động.
KN ra quyết định giúp chúng ta chọn những quyết định tích
là nhìn nhận các cảm xúc nơi ta và người khác, ý thức rằng cảm
xúc ảnh hưởng đến hành vi như thế nào và có khả năng ứng phó
với cảm xúc một cách phù hợp. Ứng phó với stress, đó là biết
nhận ra các nguyên nhân gây stress trong đời sống chúng ta, nhận
ra stress tác động đến chúng ta như thế nào và hành động để giảm
bớt các nguồn gây stress, giữ stress ở mức độ chấp nhận được,
hoặc học cách thư giãn để giữ sự căng thẳng không hại đến sức
khỏe”.
(ii). Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp
quốc (UNESCO) [27]
“Theo UNESCO thì KN phải được phân chia dựa trên
những KN cơ bản cũng như những KN chuyên biệt trong đời sống
cá nhân của con người ở những mối quan hệ khác nhau cũng như
ở những lĩnh vực khác nhau. Theo đó, có thể có những nhóm
KNS như sau:
*. Nhóm KN chung: Nhóm chung này bao gồm những KN
cơ bản mà mỗi cá nhân đều có thể có để thích ứng với cuộc sống
chung bao gồm các KN nhận thức, KN liên quan đến cảm xúc và
các KN cơ bản về xã hội.
*. Nhóm KN chuyên biệt: Nhóm KN chuyên biệt gồm các
KN được thể hiện trong các lĩnh vực cụ thể khác nhau của đời
sống xã hội như: Các KN về sức khỏe và dinh dưỡng, KN liên
quan đến giới và giới tính, KN về các vấn đề xã hội như ma túy,
HIV- AIDS, các KN liên quan đến môi trường thiên nhiên, các
vấn đề bạo lực, rủi ro, những KN quan đến cuộc sống gia đình,
môi trường cộng đồng, hòa bình và giải quyết xung đột, phòng
tránh buôn bán trẻ em và phụ nữ”.
(iii). Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) [1]: “Tổ
- KNS liên quan đến mối quan hệ với người khác
- KNS công nghệ thông tin,
Từ những cách phân loại KNS nêu trên, chúng ta có thể thấy
cách phân chia KNS của mỗi tổ chức, cá nhân, đều mang tính
tương đối.Tùy thuộc vào các khía cạnh xem xét, hoặc các góc độ
nhìn nhận mà một KNS có thể được xếp vào các nhóm KNS
mang các tên gọi khác nhau. Có nhiều cách phân loại như vậy,
nhưng dù phân loại theo hình thức nào thì KNS phải là những khả
năng thuộc vềphạm trù năng lực của mỗi cá nhân giúp bản thân
họ tồn tại, thích nghivà làm chủ cuộc sống của mình.Một số KN
được coi là những KN cốt lõi như:
- KN tự nhận thức
- KN giao tiếp
- KN xác định giá trị
- KN ra quyết định
- KN đặt mục tiêu .......
Từ đây, có thể nhận thấy các KNScần thiết nhất đối với con
người cũng chính là những KN cơ bản mà họ cần có ngay từ
những năm đầu đời, đặc biệt là trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổicó liên quan